LOGO VNBET
Một niệm tín giải trong kinh Pháp Hoa
(Bài giảng chùa Giác Nguyên, quận 4, thành phố Hồ Chí Minh, 2006)
 
Kinh Pháp Hoa từ xưa đến nay được rất nhiều người thọ trì, đọc tụng, giảng giải. Tuy nhiên, việc ứng dụng cốt lõi Pháp Hoa trên bước đường tu để đạt được thành quả mới quan trọng và không đơn giản. Vậy chúng ta tu Pháp Hoa thế nào cho đúng. Trí Giả Đại sư dạy rằng hành giả phải từ Tích môn Pháp Hoa đi vào Bổn môn Pháp Hoa, tức từ hình thức đi vào nội dung. Giai đoạn ban đầu, hàng ngày chúng ta thọ trì 28 phẩm kinh văn Pháp Hoa, gọi là Tích môn Pháp Hoa; đó là phương tiện giúp chúng ta thâm nhập cốt tủy của kinh. Nhưng đa số người tụng kinh văn suốt đời và chấp vào kinh văn, kẹt văn tự ngữ ngôn, nên không được giải thoát.
Theo Nhật Liên Thánh nhân, từ Tích môn vào Bổn môn là giai đoạn một, thọ trì kinh văn và giai đoạn hai, nương theo kinh văn để tìm được ý nghĩa sâu xa mà Phật muốn chỉ dạy và

* Trang 89 *
device

theo nghĩa lý đó thực hành trong cuộc sống chúng ta mới có kết quả tốt đẹp. Như vậy, trí tuệ chúng ta phát sanh phải từ "Văn, Tư, Tu”. Nghĩa là trước tiên, chúng ta nghe kinh văn (Văn), nhưng quan trọng là suy nghĩ (Tư ) nghĩa lý sâu ẩn chứa trong kinh và thực hành cho đúng (Tu).
Về phần "Tư” là suy nghĩ, phải suy nghĩ chiều sâu của mỗi chữ, mỗi câu trong kinh. Thí dụ, trong phẩm Phương Tiện thứ hai của kinh Pháp Hoa, có câu "Phật chủng tùng duyên khởi” nghĩa là hạt giống Phật theo duyên sanh. Chúng ta không thể đọc suông mãi như vậy, cần hiểu ý nghĩa mà Phật muốn chỉ dạy qua câu này. Theo tinh thần Pháp Hoa, Phật dạy rằng muốn tu được phải có căn lành, tức có hạt giống Phật. Vì không có căn lành, không có hạt giống Phật, sẽ trở thành nhứt xiển đề, đối với Tam Bảo không tin được và vì sống theo đoạn kiến, không tu được. Có thể hiểu ý này qua câu chuyện con rùa và con cá. Con cá chỉ có thể sống dưới nước. Trong khi con rùa ở dưới nước được và lên trên đất liền cũng sống khỏe mạnh. Vì thế, rùa quan sát thấy các hiện tượng trên mặt đất mới kể cho cá nghe về những lầu cát đẹp đẽ ở trên bờ mà dưới nước không có. Cá không tin, nói rằng làm gì có như vậy; vì nước dâng lên cao, nó cũng trồi lên theo nước mà đâu nhìn thấy gì. Cũng giống như con cá, những người sống trong thế giới vật chất chỉ nghĩ trần gian này là nhất, còn các thế giới khác, họ cho rằng không có, vì có trông thấy đâu mà biết được.
Đức Phật xuất hiện trên cuộc đời để chỉ cho chúng ta thấy thế giới Phật, Niết bàn, Cực Lạc, thiên đường, chỉ cho chúng ta

* Trang 90 *
device

biết sinh hoạt của Phật, của Bồ tát, La hán. Đối với hàng đoạn kiến ở thế gian thì làm gì có thế giới nào tốt hơn cõi Ta bà này. Nhờ căn lành, chúng ta mới có niềm tin đối với Tam Bảo, ví như con rùa dù sống dưới nước nhưng tiếp cận được cuộc sống trên đất liền. Chúng ta mang thân người ở Ta bà, nhưng thâm tâm nghĩ rằng còn có thế giới khác tốt đẹp, thế giới này chỉ là tạm bợ, không phải của mình, ở lâu không được. Chính nhờ căn lành bên trong mới đánh thức, thúc giục chúng ta xuất gia. Tu hành chắc chắn không phải vì quyền lợi vật chất, ăn mặc…, nhưng do sự thôi thúc mãnh liệt trong tâm, muốn khám phá những điều cao quý mà người thế gian không có được. Đức Phật khi còn là thái tử Sĩ Đạt Ta, Ngài đã thể hiện tinh thần này một cách rõ rệt. Thật vậy, có một đời sống vật chất tột đỉnh của hàng vua chúa, nhưng Ngài luôn ý thức sâu sắc rằng thế gian này không thường còn, không phải là cõi sống vĩnh hằng. Khi vua Tịnh Phạn ép buộc thái tử ở lại ngai vàng, Ngài đã nói với vua cha rằng nếu làm được những điều như sau thì Ngài sẽ không đi tu. Một là làm sao cho trẻ mãi không già. Hai là làm sao không bị ốm đau. Ba là làm thế nào sống mãi, không chết. Vì trong lòng thái tử Sĩ Đạt Ta đã có con người trẻ mãi không già, có con người vĩnh hằng bất tử và Ngài đã từng sống trong thế giới chân thường; cho nên khi hiện thân trên cuộc đời này, Ngài vẫn man mác nhớ lại, hình dung ra những cuộc sống hoàn mỹ ấy.
Người chánh tín xuất gia do căn lành thôi thúc, không màng phú quý lợi danh, không cần chùa cao Phật lớn, chỉ cần một số phương tiện tối thiểu trợ lực cho việc tu hành, để trở về thế giới Phật. Cũng như con rùa có thể sống trong hai thế giới, xuống

* Trang 91 *
device

nước sống chung với cá và sống trên mặt đất; người có căn lành cũng có hai thế giới sống, thế giới tâm linh theo Phật và thế giới tạm ở Ta bà. Người không căn lành chỉ lệ thuộc vật chất, không nương tựa được thế giới Phật, cho nên tu suốt đời cũng không được giải thoát, an lạc.
Trở lại góc độ tu hành là đọc kinh văn và suy nghĩ nghĩa lý sâu xa của câu "Phật chủng tùng duyên khởi”, chúng ta thấy rõ hạt giống Phật tuy đã có, nhưng cũng cần gặp đủ duyên thì hạt giống này mới phát triển được. Thật vậy, căn lành đời trước đã tạo, tức có hạt giống Phật, nhưng đời hiện tại không gặp thiện tri thức khai ngộ, thì hạt giống tốt sẽ bị hư hoại. Thực tế có người đến thưa với tôi rằng thuở nhỏ họ rất muốn đi tu, nhưng lớn lên, đi học, rồi vào đời làm ăn và bị kẹt với công việc thế gian suốt cả đời, không tu được. Như vậy, hạt giống có, nhưng thiếu duyên thiện tri thức, không thể tu được. Ngoài ra, có duyên gặp thiện tri thức, nhưng tăng thượng duyên này phải được liên tục. Thiếu tăng thượng duyên liên tục, thí dụ như Thầy qua đời cảm thấy bị chới với trên bước đường tu, không nương tựa được vị Thầy khác, nên không tu nữa, hoặc gặp thầy tà bạn ác làm lệch hướng tu, hoặc làm cho hành giả bất mãn, thì chỉ còn hình thức người tu nhưng tâm Bồ đề bị hư hoại rồi. Riêng tôi, xuất thân từ giai cấp nông dân, nhưng nhờ có hạt giống Phật, có căn lành đời trước, thúc đẩy tôi quyết tâm xuất gia. Và lại có được tăng thượng duyên liên tục, nên trên bước đường học đạo, tôi gặp được nhiều vị thiện tri thức khai ngộ. Nhờ vậy, hiểu giáo lý sâu dần và từ sự tỏ ngộ mà tu hành là

* Trang 92 *
device

tu trên Bổn môn, trên chân tâm, không cực nhọc với hình thức bên ngoài, nhưng đạt được những thành quả tốt đẹp. Trong khi người tu vướng mắc mãi ở Tích môn, công phu nhiều, rất cực khổ, vẫn không được gì.
Miệt mài suy tư nghĩa lý của câu "Phật chủng tùng duyên khởi” đã đánh thức tôi rất mãnh liệt. Thật vậy, nghe nói ở nơi nào có bậc thiện tri thức là tôi vội tìm đến cầu học. Thuở nhỏ, nghe ở Đức Hòa có Hòa thượng Hoằng Ân tu đắc đạo, có Hòa thượng Thái Bình được vua tặng tử y, tôi đến đó để biết các vị này tu như thế nào mà gặt hái thành quả to lớn như vậy. Sau đó, tôi nghe Hòa thượng Trí Tịnh học ở Huế về và chuyên trì Pháp Hoa, nghe Hòa thượng Thiện Hòa ra miền Bắc học luật với Tổ Cồn, tôi cũng tìm học với các ngài. Chúng ta có thể từ bỏ phía sau mọi quyền lợi vật chất, quyết tâm tìm thầy khai ngộ; vì không nương được yếu nghĩa của thầy chỉ dạy, thì chỉ thọ trì được kinh văn và kẹt suốt đời với phần vật chất, tất nhiên mãi luẩn quẩn trong sinh tử. Mỗi vị thiện tri thức khai ngộ theo phương hướng khác nhau, cho tôi một số kinh nghiệm quý báu để tu hành. Và học xong với các vị thiện tri thức ở Việt Nam, tôi có duyên thù thắng là sang Nhật tìm thiện tri thức, tiếp tục phát triển việc tu hành. Trải qua quá trình tu học với các bậc thiện tri thức, tôi hiểu được kinh Phật sâu sắc và nhờ nương theo tinh ba Phật dạy mà tôi hành đạo có kết quả tốt đẹp. Đó là những điều mà tôi muốn nhắc nhở Tăng Ni, Phật tử. Những điều khó hiểu trong giáo pháp, nên tìm thiện tri thức chỉ dẫn và kết quả thực hành cũng nhờ thiện tri thức giải dùm. Các vị này đã trải qua sự thể nghiệm pháp Phật nên chúng ta cần trình sở

* Trang 93 *
device

đắc để các ngài chỉ dạy cách điều chỉnh sẽ dễ dàng đạt được kết quả tốt.
Nương theo thiện tri thức chỉ dẫn, hạt giống Phật của chúng ta phát được thì huệ phát sanh và theo huệ này đi sâu vào kinh điển tìm cốt lõi của Bổn môn. Theo Nhật Liên Thánh nhân, cốt lõi của toàn bộ kinh Pháp Hoa ẩn chứa trong phẩm Tùng Địa Dũng Xuất thứ 15, phẩm Như Lai Thọ Lượng thứ 16 và phẩm Phân Biệt Công Đức thứ 17. Đọc ba phẩm này, thấy rất lạ và khó hiểu, khó tin, giống như cá chưa từng lên bờ, không bao giờ biết lâu đài cung điện thế nào và các loài khác sống ra sao. Tu hành, chưa thâm nhập thế giới chân thật của Phật, làm sao biết; vì thế, tin được những gì Phật dạy phải là người có căn lành. Đối với hành giả Pháp Hoa, ba phẩm cốt lõi của Bổn môn cần suy nghĩ để thâm nhập.
Chỉ mới nghe Phật nói một câu trong phẩm Phân Biệt Công Đức thứ 17, khiến tôi bàng hoàng, suy nghĩ. Phật dạy rằng người bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn và Thiền định, trừ trí tuệ ba la mật, nghĩa là tu năm pháp ba la mật, nhưng trí tuệ chưa phát sanh thì dù người đó có trải qua vô số kiếp tu hành, công đức của họ cũng không bằng công đức của người chỉ có một niệm tín giải kinh Pháp Hoa. Tại sao một niệm tín giải mà được công đức lớn lao đến như vậy. Thử nghĩ tu một pháp đã khó, mà vô số kiếp hành trì năm pháp của Bồ tát chắc chắn khó vô cùng, vậy mà kết quả lại không bằng một niệm tín giải kinh Pháp Hoa. Như vậy, tôi phát hiện ra rằng đi thẳng vào niệm tín giải là tu Bổn môn, mới có công đức bất khả tư nghì vượt hơn tất cả mà chư vị Tổ sư tu chứng biết được nên chỉ chúng ta như vậy.

* Trang 94 *
device

Trên bước đường hành trì Pháp Hoa, cần có một niệm tín giải. Người không trồng căn lành với Phật, không thể tin được; vì chỉ sống với thế giới vật chất hữu hình, nhưng tin vào thế giới tâm linh siêu hình rất khó. Người có căn lành thường sống nội tâm, đã hình dung man mán thế giới vô hình mới tin được. Sở dĩ tu năm pháp ba la mật trong vô số kiếp mà công đức không bằng tu một niệm tín giải, vì đó là tu mù, vì đã trừ Bát nhã Ba la mật. Có thể thấy rõ rằng tu sáu pháp Ba la mật cũng phải khởi điểm từ Bát nhã. Thật vậy, có người bố thí khắp mọi nơi, nhưng sao phước không sanh, mà chỉ có trần lao nghiệp chướng tăng trưởng; đến khi mạng chung lại đọa vào ba đường ác. Người bố thí không có trí tuệ dễ sanh nghiệp hơn là phước. Chính vì trí tuệ là điều kiện quan trọng nhất, có tính cách quyết định việc đúng hay sai của năm pháp kia (bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn và Thiền định), cho nên Đức Phật đã khẳng định rằng tu năm pháp "trừ trí tuệ Ba la mật”, công đức rất ít so với một niệm tín giải.
Trí tuệ mới giải được niềm tin. Tin mà không giải là mê tín, chẳng được gì, chỉ có hại. Giải mà thiếu niềm tin thì chỉ là người nghiên cứu nói Phật pháp suông. Cả hai thái cực này đều hỏng. Đối với người đệ tử Phật, tu Bát nhã Ba la mật, tức trí tuệ là chính yếu. Tuy nhiên, khi chưa có Bát nhã, chưa giải được, chúng ta phải nương tựa thiện tri thức, nhờ họ khai ngộ để có thể áp dụng cốt lõi của Phật dạy vào cuộc sống, phước mới sanh ra. Vị thiện tri thức cho chúng ta biết việc nên làm, người đáng theo. Thí dụ Phật dạy chỉ cần giúp người chân tu một việc

* Trang 95 *
device

nhỏ mà họ thành đạt là mình được công đức ngay. Điển hình như cô gái chăn bò, Su Dà Ta dâng cúng Phật một bát sữa giúp Ngài phục hồi sức khỏe, thoát khỏi sự ngã gục vì pháp tu khổ hạnh để tiếp tục việc tu hành và đắc đạo. Vì thế, công đức cúng dường của cô gái này, dù chỉ một bát sữa, đã được Đức Phật khen ngợi rằng lớn hơn công đức của vua chúa. Đức Phật hiện hữu giáo hóa chúng sanh, được bao nhiêu công đức thì Su Dà Ta đều có phần.
Khi chưa có trí tuệ, nên làm theo thiện tri thức; nhưng quan trọng phải phát huy trí tuệ của ta để không có thiện tri thức nữa, ta cũng biết được người đáng độ, việc đáng làm, mới sanh ra công đức. Đối với người không thể độ, việc không đáng làm, nhưng vẫn hạ quyết tâm độ và nhất quyết làm; phạm sai lầm như vậy, chỉ có phiền não nối tiếp nhau mà thôi. Người xuất gia, ngoài trí tuệ, không cầu gì khác. Ý này được Phật nhắc rằng nếu tu năm pháp, mà trừ Bát nhã, tức trí tuệ, thì cũng không được gì cả. Thật vậy, trên bước đường theo dấu chân Phật, Ngài chỉ truyền cho chúng ta một y một bát, nhưng đắc được trí tuệ, trong bình bát ấy sẽ có đầy đủ phương tiện cần thiết để tu hành và cứu giúp được tất cả chúng sanh, gọi là vô tận tạng công đức. Cốt lõi này được kinh Duy Ma diễn tả rằng Bồ tát lên nước Chúng Hương xin cơm của Phật Hương Tích đem về trần gian cho chư Tăng dùng đầy đủ mà vẫn còn thừa. Và ăn cơm này xong, tự có mùi hương tỏa ra cho người phát tâm tu hành. Thể hiện ý này, ngày nay khi cúng dường, chúng ta thường nói cơm Hương Tích và rau Tào Khê. Đó là hai món ăn thượng diệu mà

* Trang 96 *
device

chúng ta cần suy nghĩ nghĩa lý sâu xa và ứng dụng trong đời tu hành để đạt được quả vị Vô thượng giác. Tào Khê gợi chúng ta nhớ đến cuộc sống của Tổ Huệ Năng. Ngài ở núi cao, không bận tâm đến ăn uống, chỉ dùng toàn rau rừng, nhưng phát huy trí tuệ tuyệt đỉnh, trở thành vị Tổ khả kính, trải qua một ngàn năm mà nhục thân của Tổ vẫn còn nguyên vẹn.
Trở lại tầm quan trọng của một niệm tín giải trong kinh Pháp Hoa, nếu có được thì công đức bất khả tư nghì. Nhưng tín giải về cái gì và tín giải như thế nào? Tín giải của chúng ta là tin Phật, hiểu Phật. Tin mà không hiểu Phật dễ trở thành hủy báng Phật. Tội này nặng lắm, Nhật Liên Thánh nhân gọi đó là phá pháp tội chướng. Nhiều người tu khổ cực, nhưng quả báo xấu không lường, vì họ phạm sai lầm này, rồi đổ thừa rằng tụng kinh Pháp Hoa bị nghiệp khảo, nghiệp đổ. Tụng kinh Pháp Hoa đúng thì nghiệp không đổ, mà công đức sanh, trải đường đi cho hành giả. Sở dĩ nghiệp đổ vì tin Phật, nhưng không hiểu Phật, hoặc hiểu mà không tin Phật; cả hai đều sai.
Tất cả chúng ta đương nhiên tin Phật, tin rằng Đức Phật Thích Ca hiện hữu trên thế gian này ở nước Ấn Độ cách đây hơn hai mươi lăm thế kỷ; Ngài đã viên tịch, nên người ta tạc tượng tôn thờ và lễ bái Ngài. Nếu chỉ tin như vậy mà không giải được thì niềm tin này dễ trở thành mê tín. Giải được nghĩa là chúng ta ý thức rằng Đức Phật Thích Ca ứng hiện trên cuộc đời này và hiện thân trong loài người. Chúng ta cũng suy nghĩ thêm Phật từ đâu xuất hiện trên cuộc đời. Nói cách khác, đã là Phật rồi, Ngài mới xuất hiện; như vậy, Phật là chính, xuất hiện là phụ.

* Trang 97 *
device

Thật vậy, nhìn về chiều sâu, Đức Phật Thích Ca có thiên bá ức hóa thân, không phải chỉ có một thân Phật Thích Ca ở Ấn Độ. Thí dụ cho dễ hiểu, quý vị thấy tôi ở đây thuyết pháp, nhưng tuần trước tôi giảng ở Cà Mau và ngày mai tôi sẽ ra Hà Nội giảng dạy; nhưng chỗ ở chính của tôi là chùa Ấn Quang.
Đức Phật xuất hiện ở cõi Ta bà này, nhưng chúng ta không biết Ngài ở đâu, tìm được chỗ thường trụ của Phật là việc rất khó. Thiền ví như tìm trâu bằng cách đi tìm dấu chân trâu gọi là Tích môn. Tìm dấu vết Phật để lại cuộc đời để biết Phật ở đâu là cách tu từ Tích môn vào Bổn môn. Đức Phật từ thế giới vĩnh hằng của Ngài đi khắp tam thiên đại thiên thế giới giáo hóa, chúng ta phải tìm về cội gốc để gặp Phật. Kinh Hoa Nghiêm dạy rằng Phật, tâm và chúng sanh, tam vô sai biệt; đó chính là cội gốc. Tâm ta, tâm Phật và tâm của tất cả chúng sanh trở về cội gốc đều là một, nhưng hiện hữu ở trên hiện tượng giới thì có thiên hình vạn trạng khác nhau là quả báo khác nhau.
Trở về Đức Phật ở đâu? Trong phẩm Như Lai Thọ Lượng thứ 16, kinh Pháp Hoa, Đức Phật nói rằng "… Từ ta thành Phật đến nay trải qua vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp, thường ở Ta bà thị hiện sanh thân trong nhiều quốc độ, thuyết pháp giáo hóa vô số chúng sanh, thọ mạng sai khác, tùy theo loại hình mà khai phương tiện chỉ bày chân thật thậm thâm vi diệu… ”. Qua câu này, cho thấy rõ việc khai phương tiện của Phật để chỉ dạy pháp chân thật. Chúng ta tu hành, nương theo pháp phương tiện và chứng được pháp chân thật.Thiền diễn tả ý này là nương vào ngón tay chỉ mặt trăng dưới nước để hình dung ra mặt trăng trên trời. Và từ một mặt trăng trên bầu trời rọi xuống, có bao nhiêu

* Trang 98 *
device

dòng sông thì có bấy nhiêu mặt trăng xuất hiện trong đó (Thiên gian hữu thủy thiên gian nguyệt). Cũng vậy, từ một Đức Phật gốc hằng hữu, nhưng ở Ta bà có bao nhiêu chúng sanh có căn lành và niềm tin sâu sắc về Phật, thì có bấy nhiêu Phật xuất hiện đầy đủ trong tâm của họ. Người Việt chúng ta thường nói Phật ở đâu xa, ở tại lòng. Từ Phật thực hiện trong tâm chúng ta và từ niềm tin mà chúng ta phăng lần ra Phật thực.
Để chỉ về sự hiện hữu của Đức Phật thường trú vĩnh hằng, Phật thí dụ như có một ông thầy thuốc rất giỏi có nhiều người con uống lầm thuốc độc bị mất bản tâm. Họ quỳ lạy xin cha cứu mạng. Nhưng người cha đưa thuốc giải độc thì họ không chịu uống vì sợ thuốc đắng. Ông phải dùng phương cách bỏ đi, dặn họ ở nhà muốn khỏi bệnh thì phải uống thuốc. Sau đó, ông cho người báo tin rằng ông đã từ trần. Các người con nghe tin hoảng sợ, mới uống thuốc liền được khỏe mạnh. Bấy giờ, người cha trở về bảo rằng ông thật thường còn, không bao giờ chết. Phật bảo đại chúng rằng Ngài cũng như vậy, thường trụ Ta bà, nhưng dùng phương tiện nói sẽ diệt độ để cho mọi người không còn ỷ lại có Phật mà không chịu tu rồi bị đọa ác đạo.
Chúng ta bị mất bản tâm cũng giống như các người con của ông lương y uống lầm thuốc độc vậy, nên không thấy Phật. Nhưng nương theo phương tiện tu hành là lễ sám, tụng kinh, tham Thiền, v.v… ví như uống thuốc để nhận chân được nghĩa lý sâu xa mà Phật muốn chỉ dạy. Từ đó, phát khởi niềm tin về Phật, thì niềm tin ta và Phật gắn liền với nhau mật thiết sẽ nhận ra Đức Phật vẫn hằng hữu tại nơi đây, ngay trong Ta bà này. Chỉ vì chúng ta cuồng si, không nhận ra Đức Phật thọ mạng vô

* Trang 99 *
device

cùng, bất sanh bất diệt, nên Ngài dùng phương tiện nói rằng Phật đã Niết bàn.
Tóm lại, trên bước đường tu, nương theo phương tiện hình thức ở giai đoạn đầu để dần thâm nhập thế giới Phật. Và có được niệm tín giải là nhận chân được Phật bất sanh bất diệt, từ đây hướng về Phật bất tử này mà tu hành bằng tâm thanh tịnh của chúng ta. Tu từ bản tâm thanh tịnh, chúng ta mới ngang qua Phật thường trú. Được như vậy, trở về hiện tượng giới này, chúng ta hiện hữu như một phần của Pháp thân Phật để cứu giúp chúng sanh thoát khỏi mọi sự trói buộc khổ đau và thăng hoa tri thức, đạo đức, xây dựng cuộc sống an lạc, hòa hợp, hòa bình trên cõi nhân gian.

* Trang 100 *
device

 
Phật Giáo Nhập Thế Và Phát Triển (Quyển II)