LOGO VNBET
Nghĩ về sự thành đạo của Đức Phật
 (Bài giảng tại chùa Long Phước, tỉnh Long An, ngày 9-1-2006)

Phật giáo Việt Nam từ trước theo hệ thống Bắc truyền, tổ chức ngày lễ Phật Đản sanh vào mùng 8 tháng 4, kỷ niệm Phật xuất gia vào mùng 8 tháng 2 và ngày lễ Phật Thành đạo là mùng 8 tháng 12, ngày Phật Niết bàn là 15 tháng 2. Tất cả những ngày này đều theo âm lịch. Trong khi Nam truyền Phật giáo quy định một ngày duy nhất là 15 tháng 4 để đánh dấu ngày Phật ra đời, thành đạo, thuyết pháp và Niết bàn. Sở dĩ có sự khác biệt như vậy, vì tinh thần Phật giáo không quan trọng về hình thức, năm tháng, ngày giờ; nhưng đặt nặng việc tu hành thế nào để được an vui, giải thoát và làm lợi ích cho mọi người.
Sự thật, dù căn cứ vào lịch sử, chúng ta cũng không thể xác định được những ngày lễ kỷ niệm liên hệ đến cuộc đời Đức Phật theo Bắc truyền hay Nam truyền là đúng. Và khi Thủ tướng Nerhu của Ấn Độ đã tổ chức lễ Phật Đản sanh hai ngàn năm trăm năm, tất cả các nước theo Phật giáo được mời đến tham dự Đại hội Phật giáo thế giới tại Ấn Độ. Nhân đó,

* Trang 35 *
device

đại diện các nước của cả hai hệ thống Phật giáo Nam truyền và Bắc truyền đều đồng ý với quyết định thống nhất rằng ngày lễ Phật Đản là ngày trăng tròn tháng 5 dương lịch, nếu tính theo âm lịch là ngày 15 tháng 4. Còn những ngày lễ khác thì tùy theo truyền thống tu hành của các hệ phái như thế nào vẫn giữ y như thế. Vì vậy, hôm nay chúng ta tổ chức lễ Phật Thành đạo vào ngày mùng 8 tháng 12 như từ trước.
Thông thường trước kia chúng ta không tổ chức lễ Phật Thành đạo theo hình thức tập trung. Đây là lần đầu tiên, với sáng kiến của Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Long An, lễ Phật Thành đạo được tổ chức tại chùa Long Phước. Hôm nay, thuyết pháp nhân ngày vía Đức Phật Thành đạo Phật lịch 2549, gợi nhắc tôi nhớ lại cách đây năm năm, tôi có dịp hành hương các Thánh tích của Phật giáo tại Ấn Độ và thăm viếng hơn một trăm du học Tăng Việt Nam ở Ấn. Tôi đã đề nghị tổ chức lễ Phật Thành đạo tại Bồ đề đạo tràng, nơi mà Đức Từ phụ Thích Ca Mâu Ni của chúng ta đã đạt quả vị Vô thượng Chánh đẳng giác.
Đứng trước tháp Bồ đề, hình dung ra Đức Phật đã Thành đạo nơi này hàng ngàn năm trước cũng như suy nghĩ về sự Thành đạo của Ngài để chúng ta nối gót theo Phật và cũng sẽ Thành đạo như ngài. Trong buỗi lễ đó, các nhà Sư Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan, Tây Tạng trông thấy các nhà Sư Việt Nam chúng ta đến đây tổ chức lễ Phật Thành đạo, các ngài cũng tham gia vào. Khởi đầu là lễ tụng kinh tiếng Pali, thì các nhà Sư thuộc các nước Nam truyền Phật giáo cùng tụng chung. Và kế đến là thời kinh của các nước theo Bắc truyền Phật giáo, Tây Tạng, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và Việt Nam, mỗi nước tụng một bài kinh bằng ngôn ngữ của nước đó.
Đêm mùng bảy tôi ở trong thất tại Bồ đề đạo tràng để tạo độ cảm về Phật và lấy đó làm định hướng tu hành. Bấy giờ, tôi có cái nhìn sâu

* Trang 36 *
device

sắc hơn về ý nghĩa Phật Thành đạo. Vì thế, tôi muốn chia sẻ với quý vị nhận thức về sự Thành đạo của Đức Phật như thế nào. Khi miên man suy nghĩ về cuộc đời của Đức Phật, từ khi Ngài Thành đạo, thuyết pháp, giáo hóa độ sanh cho đến Niết bàn, tôi cảm thấy hỷ lạc vô cùng. Tôi gọi đó là cuộc hành trình tâm linh, ngồi yên và phát huy tri thức trong sáng của mình. Nói đến tri thức, chúng ta biết rằng nó có hai mặt, một là hiểu biết, phân biệt bình thường, gọi là vọng thức. Phần vọng thức, tính toán phải trái hơn thua, danh vọng, quyền lợi trên cuộc đời cần phải được gạn bỏ để hoàn toàn vô tâm. Bấy giờ, tâm chúng ta trở thành trong sáng, mới bắt đầu cuộc hành trình tâm linh, nhằm tạo sự tương thông với Đức Phật mà kinh Pháp Hoa gọi là Phật Sở Hộ Niệm. Thật vậy, có độ cảm thông với Phật, mới nhận chân được mối tương quan tương duyên bất tư nghì giữa ta và Phật. Sự gắn bó mật thiết và sâu xa ấy không thể nói, không thể suy nghĩ, mới thực là đạo. Khi tụng kinh chúng ta thường đọc câu "Cảm ứng đạo giao nan tư nghì”, tức sự liên hệ giữa ta và Phật khó có thể diễn tả. Trên bước đường tu hành, việc này rất quan trọng đối với chúng ta.
Vừa mới Thành đạo, Đức Phật liền nói kinh Hoa Nghiêm hai mươi mốt ngày trong Thiền định, nên hàng Thanh văn, Duyên giác không thể nào nghe được, chỉ có các vị Bồ tát tiếp nhận được pháp âm vi diệu. Vì vậy, Đức Phật mời rời Định, trở lại thực tế cuộc đời, bắt đầu lộ trình thuyết pháp độ sanh cho mọi người. Trong suốt bốn mươi chín năm vân du khắp mọi nẻo đường, Đức Phật đã đưa ra những lời chỉ dạy khác nhau thể hiện qua các bộ kinh, được ngài Trí Giả Đại sư tóm tắt trong bài kệ sau:

 
Hoa Nghiêm tối sơ tam thất nhật
A Hàm thập nhị, Phương Đẳng bát

* Trang 37 *
device

Nhị thập nhị niên Bát Nhã đàm
Pháp Hoa, Niết Bàn cộng bát niên.
Nghĩa là Đức Phật thuyết kinh Hoa Nghiêm trong hai mươi mốt ngày, kinh A Hàm trong mười hai năm, kinh Phương Đẳng trong tám năm, kinh Bát Nhã trong hai mươi hai năm, kinh Pháp Hoa và Niết bàn trong tám năm. Trước nhất, Phật nói kinh Hoa Nghiêm và chỉ có hàng Bồ tát nghe được. Bồ tát này tiêu biểu cho Bồ tát tâm. Thật vậy, những người nghe pháp thời Hoa Nghiêm nghe bằng tâm, bằng hạnh; nói cách khác, tâm đồng với Phật, hạnh giống như Phật, chúng ta mới hiểu được Phật.
    Trong hai mươi mốt ngày, Đức Phật sống trong Thiền định dưới cội Bồ đề, Ngài không ăn uống, không bận tâm suy nghĩ như chúng ta; nhưng Ngài vào Pháp giới, tức sinh hoạt nội tâm. Sinh hoạt nội tâm là gì?
    Sáng mùng 8 tháng chạp, Đức Phật Thành đạo, nhưng đêm mùng 7, Ngài đã chứng Túc mạng minh. Túc mạng minh có thể hiểu là trạng thái hồi tưởng lại những việc quá khứ và thấy rõ những diễn tiến của nó một cách rõ ràng. Sinh hoạt quá khứ này của chúng ta gần nhất là sự kiện trong cuộc đời hiện tại. Thí dụ tôi ngồi yên, lắng tâm, nhớ lại tôi đã sanh ra ở đâu, trải qua thời thơ ấu như thế nào, động lực gì thúc đẩy tôi rời bỏ cha mẹ để xuất gia, rồi lang thang tìm đạo và học đạo ra sao, đã đến chùa nào, được vị nào hướng dẫn tu học, nỗ lực tu học như thế nào để có được học vị theo như lời dặn dò, ủy thác của Thầy, sau đó đã làm được những việc gì, gặp khó khăn nào, được trợ lực ra sao, v.v… Tất cả một chuỗi dài những sự kiện quá khứ của đời tôi suốt hơn năm mươi năm lần lượt diễn ra trong tâm trí khi tôi tĩnh tâm, điều này đã giúp tôi hiểu được ý nghĩa của Túc mạng minh.

 

* Trang 38 *
device

Nhiều khi trong cuộc sống, những diễn tiến liên tục của hiện tượng bên ngoài hàng ngày đã bao vây khiến chúng ta quên đi các việc quá khứ. Nhưng lúc ngồi yên, thì tất cả những sự việc quá khứ của kiếp sống này tự động hiện ra trong tâm trí chúng ta. Và khi những việc quá khứ trải dài trước mắt, tôi có cơ hội đánh giá lại những điều đúng sai của mình; nhờ đó cho tôi kinh nghiệm sửa đổi những sai lầm, thiếu sót và phát triển việc đúng. Ý này nếu giải thích theo pháp Tứ Chánh cần, thì những việc thiện đã làm, cần phải làm thêm nữa, những việc thiện chưa làm thì nên làm, những việc ác đã phạm phải đoạn trừ, những việc ác chưa phạm không nên phạm. Sống trên cuộc đời này, ai mà không có sai lầm. Nhưng sai lầm ít, nhỏ và việc đúng nhiều hơn, chúng ta dễ tiến tu. Vì vậy, trong các pháp tu, chúng ta thường thực hiện pháp sám hối, hối hận về những sai lầm hoặc hối tiếc vì đã bỏ qua những cơ hội ngàn vàng để tạo công đức. Ăn năn những lỗi lầm đã phạm phải, hay những điều tốt đã không chịu làm trong hiện đời cho đến nhiều đời, từ vô thỉ kiếp và tự hứa với lòng mình không dám tái phạm nữa.
Trong kinh điển Đại thừa, Đức Phật thường nói Ngài nhớ lại các vị Phật mà Ngài đã từng hành Bồ tát đạo chung, hoặc Ngài đã từng thân cận, biết rõ chư Phật trong mười phương như thế nào. Đó là những kinh nghiệm mà Phật Thích Ca đã trải thân trên bước đường hành đạo và Ngài truyền trao cho chúng ta để nương theo đó mà phát huy nguyện lực, trí lực và đạo lực của chính mình. Với Túc mạng minh, Đức Phật nhớ lại những gì Ngài đã trải thân từ một kiếp cho đến vô số kiếp trước. Còn chúng ta, nhớ lại quá khứ của mình bằng cách nào? Riêng tôi, khi tiếp  xúc với quyến thuộc Bồ đề là bạn đồng học đồng tu, có người mới gặp, nhưng có cảm tình với tôi. Điển hình như trước kia, lúc mới đến nước Nhật, tôi đã gặp Hòa

* Trang 39 *
device

thượng Ito, ngài là Trưởng ban Phật giáo quốc tế của Nhật. Ngài chắp tay chào tôi và nói rằng tôi với Thầy là bạn từ hội Linh Sơn đến nay gặp lại đây, tức Linh Sơn cốt nhục. Vì vậy, chúng tôi hoàn toàn xa lạ, vì sống ở hai nước khác nhau, thế mà lần đầu vừa thấy nhau, đã cảm nhận rất thân quen từ bao đời. Ngài đã hết lòng giúp đỡ tôi trong suốt tám năm tôi tu học ở đất Nhật.
Dĩ nhiên, không phải tất cả mọi người đều tốt với ta; vì thế, khi gặp người không tốt chỉ trích, gây khó khăn, tự biết đó là do nghiệp nhân quá khứ của mình đã làm mất lòng họ, khiến họ xử sự như vậy. Đó là cách nhìn theo Phật về quá khứ của ta, bằng cách căn cứ vào cuộc sống hiện tại, nhận thấy người đối xử thân thiện hay oán ghét mà biết được quá khứ của chúng ta như thế nào. Nói cách khác, tất cả chúng ta bị bụi bám đầy, bụi này mang từ quá khứ đến. Vì thế, Phật tánh bên trong của mỗi người giống nhau, đều là một, nhưng bụi bám vào mỗi người thì khác nhau. Có người bị bụi bám dày đặc, có người bụi bám mỏng, chúng sanh khổ đau thì không phải bụi bám mà đất bùn phủ kín; trái lại, có người bụi không bám, mà toàn vàng ngọc châu báu trang nghiêm là Phật, Hiền Thánh.
    Thâm nhập Thiền định ở cội Bồ đề, đi vào Pháp giới, Đức Phật nhận biết được Ngài đã hành Bồ tát đạo trải qua suốt cuộc hành trình trong quá khứ một cách toàn thiện, toàn mỹ, nên hiện tại Ngài kết thành quả báo của bậc Vô thượng Chánh đẳng giác. Khi căn cứ vào quá khứ để hiểu hiện tại, thì Đức Phật chứng thêm Thiên nhãn minh. Nghĩa làNngài thấy rõ tất cả sự việc hiện tại, thấy chư Phật trong mười phương thế giới và cũng thấy Phật hiện hữu ngay trong tâm trí Ngài, đồng thời cũng thấy ma quỷ xuất hiện. Vì thế, Đức Phật dạy rằng trong tâm của con người luôn có hai mặt đối nghịch, mà Trí Giả Đại sư triển khai rằng

* Trang 40 *
device

trong tâm một người hiện hữu mười loại hình thế giới và tác động hỗ tương cho nhau, gọi là Thập giới hỗ cụ.
Với Thiên nhãn minh, Đức Phật thấy rõ cả hai mặt tốt xấu của mọi người, hay chính xác hơn là thấy rõ chuỗi dài cuộc sống từ quá khứ cho đến hiện tại của họ. Từ đó, Ngài có cách hành xử tương ưng, nên tất cả việc làm của Ngài không bao giờ sai lầm. Nhìn một người, Ngài biết quá khứ của họ như thế nào và sự quan hệ đối với Ngài trong quá khứ ra sao mà dẫn đến hiện tại, họ tìm đến Ngài. Còn chúng ta nói riêng, hay tất cả chúng sanh luôn gánh chịu khổ đau vì thân khẩu ý thường phát xuất từ sự sai lầm, gọi là vô minh. Và việc sai lầm nào tất yếu cũng có cái giá phải trả. Người đời làm chính trị, kinh tế hay bất cứ lãnh vực hoạt động nào mà phạm sai lầm cũng phải trả giả đắt. Có thể nói rằng còn sai lầm thì chúng ta làm cùng kiếp cũng khó đạt được kết quả mỹ mãn.
Suy nghĩ về Túc mạng minh, Thiên nhãn minh của Đức Phật gợi cho chúng ta ý thức sâu sắc rằng trên con đường theo dấu chân Phật, điều tiên quyết là phải diệt trừ sai lầm, lấy trí tuệ làm sự nghiệp. Kinh Pháp Hoa gọi đó là thấy đúng như thật. Trong suốt bốn mươi chín năm giáo hóa độ sanh, Đức Phật đã thể hiện trọn vẹn tư duy đúng đắn nhất, lời nói chính xác nhất và xử sự tốt đẹp nhất. Chính vì thế mà Ngài đã chuyển hóa người đối nghịch thành bạn hữu, hướng dẫn người tốt cho họ tốt thêm và chuyển hóa người chống đối, sát hại trở thành người thuận theo Ngài để làm việc tốt đẹp theo chánh pháp. Tư duy trong Thành đạo, Đức Phật thấy rõ tất cả thành quả của chư Phật mười phương và Ngài giới thiệu cho chúng ta Phật Di Đà, Phật Dược Sư như thế nào, Phật A Súc hành đạo ra sao, hoặc Phật Hương Tích giáo hóa cách nào. Đức Phật mới sử dụng những pháp tốt đẹp như

* Trang 41 *
device

thế để giáo hóa chúng ta, nên Ngài thành tựu viên mãn. Còn chúng ta thấy sai, nên tu không kết quả và giáo hóa bị nhiều trở ngại.
Thường suy nghĩ về sự Thành đạo của Đức Phật, trong suốt thời gian dài gánh vác công việc hoằng pháp từ miền Nam ra Bắc, tôi ít sai lầm, ít trở ngại. Nhờ thấy rõ từng địa phương, biết chỗ nên đến hay không, biết người nên tiếp xúc hay không, lúc nào nên đến và nên đi, nên làm gì. Chỗ không nên đến mà đến là mang họa, chắc chắn bị trở ngại. Lập trường hoằng pháp của tôi là nơi nào Nhà nước cho phép và quần chúng yêu cầu, kết hợp được hai yếu tố này thì thành công. Nói theo kinh điển, thời tiết nhân duyên đầy đủ, cây mới trổ hoa, mới có Phật tử phát tâm tu hành và có những điều kiện thuận tiện, chúng ta mới thuyết pháp được.
Thiên nhãn minh, nói ngắn gọn là thấy xa hiểu rộng. Trên bước đường tu, truyền bá chánh pháp, điều này rất quan trọng. Thấy hạn hẹp, cục bộ, chắc chắn sẽ gặp khó khăn và  quả báo không lường được. Thấy xa về không gian, xa về thời gian và xa về tâm thức. Phải thấy rõ ba việc này mới không phạm sai lầm. Thấy xa hiểu rộng, đối với chúng ta, quan trọng nhất là thấy bây giờ có phải đúng lúc truyền bá giáo pháp hay không, nên nói đến mức độ nào và lúc nào nên dừng lại. Tăng Ni, Phật tử cần nắm bắt ý này. Chúng ta còn nhớ Đức Phật cũng có ba năm ẩn cư trong núi rừng ở Ma Kiệt Đà, không tiếp xúc, không nói năng với ai cả, chỉ làm bạn với muông thú là vì Ngài thấy rõ lúc đó im lặng tốt hơn.
Thấy biết hiện tại một cách chính xác rồi, Đức Phật mới hướng đến việc làm trong tương lai, gọi là Lậu tận minh. Nói theo ngày nay, biết rõ thời thế, tình hình thế giới và tâm lý quần chúng diễn biến như

* Trang 42 *
device

thế nào, chúng ta theo đó xử sự cho tốt đẹp. Người đời làm cách mạng hoặc làm kinh tế cũng thấy đúng những điều thuận lợi và trở ngại sẽ ra sao, họ mới thành công. Chúng ta tiến tu tất nhiên cần có định hướng cho bản thân mình, cho Giáo hội con đường của mười năm hay hai mươi năm, hoặc một trăm năm sau sẽ làm gì. Có thể khẳng định rằng Đức Phật là người đã định hướng đúng đắn nhất, chính xác nhất, nên sự chỉ dạy của Ngài cho nhân loại đã kéo dài đến ngày nay, trải qua hơn hai ngàn năm trăm năm mà giáo pháp vẫn còn giá trị lợi lạc thiết thực. Thành quả siêu tuyệt này tiêu biểu cho đỉnh cao của Lậu tận minh.
Còn con người hiện nay không thấy xa, nên chỉ hưởng lợi ích hiện tại mà tương lai chắc chắn sẽ bị khổ đau, con cháu phải gánh chịu. Thật vậy, con người đang ra sức khai thác thiên nhiên một cách triệt để và bừa bãi để thụ hưởng những cái mà họ cho là tiện nghi lợi ích nâng cao cuộc sống con người. Nhưng thực tế càng ngày càng cho thấy rõ sự hiểu biết của con người được hướng đến việc khai thác rừng núi, hầm mỏ, lòng biển, sông ngòi, cho đến việc thải khí độc vào không khí, vào dòng nước, v.v… theo cái túi tham không đáy, đã tạo ra sự tác hại trầm trọng cho môi trường sống của mọi người và mọi loài. Thật vậy, vô số bệnh tật nan y cho đến những thảm họa như mưa bão, lũ lụt, hạn hán, mất mùa, đại dịch, v.v… mà chính con người hiện tại và các thế hệ tương lai phải gánh chịu.
Phật giáo tồn tại lâu dài nhờ sự định hướng đúng đắn hoàn toàn mà Đức Phật chúng ta đề ra, nhờ đó con cháu của Ngài được thừa hưởng sự tốt đẹp ấy cả ngàn năm vẫn không hết. Nhiều người bạn khác tôn giáo đã nói với tôi rằng Hòa thượng được may mắn làm đệ tử Phật. Ngài là đấng trọn lành, chỉ dạy con đường toàn thiện toàn mỹ toàn bích, nên

* Trang 43 *
device

quý vị còn được thừa hưởng thành quả ấy của bậc giáo chủ mình. Còn chúng tôi có quá khứ không đúng, nên hiện tại gặp khó khăn. Lịch sử đã thể hiện rõ nét Phật giáo đến Việt Nam từ thuở sơ khai dựng nước, đã hòa nhập, đồng lao cộng khổ với dân tộc. Phật giáo và dân tộc gắn liền với nhau mật thiết như nước hòa với sữa, an cùng hưởng, nguy cùng chịu. Và thành quả tốt đẹp mà các bậc tiền nhân đóng góp cho đất nước, cho dân tộc, ngày nay chúng ta đang thừa hưởng, có điều kiện thuận lợi cho việc tiếp tục phát triển chánh pháp.
Tóm lại, tôi chia sẻ với Tăng Ni, Phật tử những suy nghĩ về sự Thành đạo của Đức Phật. Ngài đã đưa ra ba đề tài lớn mà chúng ta cần ghi nhớ và thể nghiệm trong cuộc sống. Phải hiểu rõ quá khứ, hiện tại và tương lai để chúng ta có những bước tiến tốt đẹp cho chính mình và cho mọi người. Mong rằng Phật giáo tỉnh Long An nỗ lực tu hành để có một định hướng tốt đẹp cho sinh hoạt của Phật giáo tỉnh nhà được hưng thạnh. Cầu Phật hộ niệm cho tất cả Tăng Ni, Phật tử luôn an lành và làm đúng, mang lại lợi ích cho dân tộc, cho Phật giáo Việt Nam.

* Trang 44 *
device

 
Phật Giáo Nhập Thế Và Phát Triển (Quyển II)