LOGO VNBET
Vãng sanh cực lạc
(Bài giảng nhân ngày vía đức Phật Di Đà
tại chùa Hoằng Pháp, Hóc Môn 2007)
 
Tôi rất hoan hỷ thấy đạo tràng niệm Phật tại chùa Hoằng Pháp mỗi ngày được phát triển. Hôm nay, đã có trên ba ngàn hành giả tu niệm Phật trong một tuần. Thiết nghĩ tập hợp được Phật tử tu suốt một tuần là việc khó mà chùa Hoằng Pháp làm được. Và khó hơn nữa, số hành giả đông như vậy khó có nơi nào tổ chức được. Việc khó được đã được, việc khó làm quý vị đã làm. Điều này chứng tỏ chư Phật hộ niệm quý vị và Hộ pháp Long thiên giữ gìn, cho nên đã vượt qua tất cả khó khăn và thành tựu pháp môn Tịnh độ trên nhân gian này. Thay mặt Ban Trị sự Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh, tôi biểu dương việc làm này của Tăng Ni, Phật tử. Nhân đây tôi gợi một số suy nghĩ nhằm sách tấn các hành giả khóa tu lần thứ 43 này.
Chúng ta biết pháp môn niệm Phật phát xuất từ kinh Di Đà, kinh Vô Lượng Thọ và kinh Quán Vô Lượng Thọ. Ba bộ kinh này được Bồ tát Thế Thân tập hợp để tạo thành pháp môn tu Tịnh độ,

* Trang 161 *
device

được gọi là Tịnh độ tam kinh. Trong Tịnh độ luận của ngài Thế Thân đã chứng minh cho thấy thế giới Cực Lạc của Đức Phật Di Đà có thật và có người đã vãng sanh về Cực Lạc. Đương nhiên, Bồ tát Thế Thân đã từng qua lại thế giới Cực Lạc của Đức Phật Di Đà và thế giới Ta bà của Đức Phật Thích Ca. Pháp môn Tịnh độ được phát triển mạnh ở Trung Quốc và nhờ hai vị Tổ là ngài Huệ Viễn, Thiện Đạo mới lập thành Tịnh độ tông cũng y theo tinh thần của ba bộ kinh nói trên làm tông chỉ tu hành và phát triển thêm.
Khi pháp môn Tịnh độ được truyền sang Nhật Bản, ngài Pháp Nhiên và Thân Loan đã thành lập Tịnh độ tông và Tịnh độ Chân tông. Hai tông Tịnh độ này của người Nhật đưa ra thuyết đới nghiệp vãng sanh, vẫn lấy tín, hạnh, nguyện làm kim chỉ nam tu hành; nghĩa là người tu Tịnh độ phải có niềm tin vững chắc rằng có thế giới Cực Lạc, có Đức Phật Di Đà và có người được vãng sanh về thế giới này. Có niềm tin kiên cố như vậy, hành giả mới chuyên tâm niệm Phật.
Theo pháp môn Tịnh độ, trì danh niệm Phật là bước đầu của hành giả thực tập và giai đoạn thứ hai là quán tưởng niệm Phật mới là pháp chính yếu giúp chúng ta vãng sanh. Vì nhờ trải qua quá trình công phu niệm danh hiệu Phật Di Đà như vậy, chúng ta đi vào ức niệm, hình dung được Phật Di Đà cùng Thánh chúng và thế giới Cực Lạc. Dùng pháp quán này, chúng ta nương theo kinh Quán Vô Lượng Thọ mà quán tưởng về Cực Lạc, về người tu ở đó, quán tưởng về Phật Di Đà đang thuyết pháp. Đó chính là bước tiến phát huy được tâm linh của chúng ta, vì đã rời ngữ ngôn văn tự.

* Trang 162 *
device

Vì vậy, hành giả tu pháp môn Tịnh độ có cái nhìn khác hơn người thường. Người thường thấy cảnh vật hiện hữu chung quanh, nhưng người quán tưởng niệm Phật nhiếp tâm niệm Phật thì đi lần vào nội tâm, nên thế giới bên ngoài dần dần được đóng kín lại. Chính vì thế mà pháp môn Tịnh độ được xem là thù thắng, vượt ra ngoài trì danh niệm Phật. Thật vậy, từ từ đóng kín lại thế giới bên ngoài, thể nghiệm pháp niệm vô niệm là không sử dụng ngữ ngôn, sắc tướng, không niệm theo thanh trần bên ngoài; nhưng niệm này luôn có trong tâm chúng ta. Thực tu như vậy, thì thế giới Ta bà phiền não nhiễm ô từ từ rơi rụng, không còn tác động tâm chúng ta. Các Phật tử nên suy nghĩ ý này. Khi niệm Phật Di Đà đến mức không còn nghe âm thanh chung quanh, không còn thấy cảnh vật chung quanh, thì đã đồng với pháp giải thoát mà Đức Phật dạy cho hàng Thanh văn tu hành để vào Niết bàn là Không, vô tác, vô nguyện. Chúng ta niệm Phật khởi đầu còn nghe trần duyên, kế tiếp nghe tiếng niệm Phật của mình và sau cùng, tiến đến trạng thái tâm trống không, an lạc, giải thoát; nghĩa là chúng ta niệm Phật Di Đà cũng đã đi vào cửa giải thoát của Phật dạy cho hàng Nhị thừa.
Nếu bên trong chúng ta có hạt giống Tịnh độ, hay tịnh nhân, thì chính hạt nhân Tịnh độ ấy làm cho chúng ta phát sanh niềm tin có Phật Di Đà, có thế giới Cực Lạc của Ngài và có người vãng sanh. Cho nên khi trần duyên chấm dứt, thì hạt nhân Tịnh độ sẽ nảy mầm, trở thành cây sen ở ao thất bảo của thế giới Cực Lạc. Như vậy, người niệm Phật tuy thân ở Ta bà, nhưng tâm đã đặt vào ao thất bảo của Cực Lạc. Ngài Huyền Giác diễn tả ý này là "Thê tâm An Dưỡng Hương”, tức thân còn ở Ta bà, nhưng tâm chúng ta

* Trang 163 *
device

đã đem đặt ở Cực Lạc của Phật Di Đà. Người đem tâm mình đặt ở Cực Lạc, chắc chắn phải khác với người để tâm ở Ta bà.
Nếu quý vị tu, để tâm ở Ta bà, thì những điều chướng tai gai mắt luôn xuất hiện trước mặt và tác động mình. Tu như vậy, đối với huynh đệ đồng sự, chúng ta không bằng lòng, từ cách ăn uống, cách đi đứng, cách nói năng, hay cách lễ lạy của bạn cùng tu đều làm chúng ta bực bội. Để tâm Ta bà mà tu Tịnh độ, chắc chắn không vãng sanh được. Hành giả tu Tịnh độ, dứt khoát phải chấm dứt tâm ở Ta bà và đặt tâm vào Cực Lạc. Tôi nghĩ Thân Loan đại Sư đã thành tựu pháp niệm Phật và chúng ta cũng có thể tu được pháp này.
Nghiên cứu pháp môn Tịnh độ và trên bước đường thực tập niệm Phật, khi tôi hiện diện trong đại chúng, hoặc ở trong phòng, nhưng nhiếp tâm niệm Phật Di Đà, tất cả cảnh vật trong phòng đều biến mất, cũng như âm thanh của đại chúng, tôi không còn nghe biết. Tổ Huệ Năng cũng có kinh nghiệm này, nên ngài khuyên rằng nếu là bậc chân tu thì không bao giờ thấy lỗi của người; vì thấy lỗi họ, ta không vào Thiền định được, không vào thế giới Phật được. Phải đem tâm mình đặt vào Cực Lạc và đặt tâm vào Cực Lạc rồi, Ta bà liền biến mất và Cực Lạc hiện ra. Pháp môn này giúp chúng ta tu hành đốt giai đoạn, đi tắt, nên thù thắng là vậy; vì từ Ta bà đến được thế giới Cực Lạc mà không cần trải qua ba a tăng kỳ kiếp để tu tất cả các pháp do Phật Thích Ca chỉ dạy. Thật vậy, Đức Phật dạy rằng để đạt đến Niết bàn, phải mất ba a tăng kỳ kiếp thành tựu tất cả các pháp và còn phải trải qua thêm một trăm kiếp nữa hành Bồ tát đạo, cứu độ tất cả chúng sanh, mới thành tựu Phật quả.

* Trang 164 *
device

Nếu chúng ta theo con đường này, thì dẫu có đi trăm kiếp ngàn đời, không biết bao giờ mới đến được. Chính vì sự khó khăn vô cùng của đường hiểm sanh tử mà chúng sanh khó vượt qua nổi, Đức Phật mới đưa ra pháp tu Tịnh độ nhằm giúp cho tất cả mọi người được giải thoát một cách nhẹ nhàng. Có thể lấy thí dụ cho dễ hiểu ý này. Xã hội văn minh của chúng ta tiến hóa từ thời kỳ cổ đại, trải qua thời kỳ đồ đá, đồ đồng… cho đến thời hiện đại, đã kết thành những kiến thức, những tiện nghi tốt đẹp cho cuộc sống do nhân loại phát minh được. Chúng ta tiếp nhận ngay những thành quả sẵn có này mà trang nghiêm cuộc sống, tất nhiên sẽ hưởng được ngay đời sống văn minh. Ngược lại, nếu chúng ta không chấp nhận những phát minh tốt đẹp của người trước, rồi bắt đầu sống như người tiền sử để tự mày mò, tìm kiếm, phát minh cái tốt, chắc chắn mất cả một đời cũng chưa tìm được điều gì hay ho, nói chi là hưởng được.
Chư Phật đã tìm được pháp tu giải thoát sanh tử và chúng ta nương theo kinh nghiệm của các Ngài, ứng dụng trong cuộc sống mình, cũng sẽ có được ngay thành quả tốt đẹp. Thời gian ba a tăng kỳ kiếp tu hành của Phật đã thiết thân thể nghiệm để đắc được quả vị A la hán, tức cắt đứt được trần duyên là phải thành tựu tất cả các pháp của ba mươi bảy Trợ đạo phẩm. Khởi đầu, với pháp quán Tứ Niệm xứ, phải quán thuần thục rằng thân tứ đại vốn bất tịnh, tâm thì vô thường, các pháp đều vô ngã và mọi việc thọ nhận luôn dẫn đến khổ đau. An trụ trong tĩnh giác của Tứ Niệm xứ quán mới chứng được pháp Không, giải thoát, Niết bàn. Đó là quá trình tu mà Đức Phật đã thể nghiệm. Kế tiếp, trải qua giai đoạn gạn lọc tâm mình để loại trừ tâm xấu và phát triển tâm tốt, là tu Tứ Chánh cần. Và gạn

* Trang 165 *
device

lọc tâm thực trong sạch, thanh tịnh mới tìm được năm căn lành (tu Ngũ Căn) để phát triển thành năm lực (Ngũ Lực) là tín, tấn, niệm, định, huệ. Như vậy, từng bước thực hành các pháp tu, đến Thất Bồ đề phần vẫn lấy pháp Xả làm chính, mới đạt đến Niết bàn của A la hán. Tuy nhiên, Đức Phật dạy rằng con đường đi này dài lắm, phải trải qua ba a tăng kỳ kiếp; thử nghĩ chúng ta đi nổi hay không. Thực tế cho thấy đa số người trên bước đường tu, lên được rồi lại rớt xuống. Kiếp này tu chưa đắc đạo, rồi bỏ thân người, tái sanh lại, quên mất việc tu hành, hoặc tái sanh vào nơi không có Phật pháp, vào gia đình theo tôn giáo khác, v.v… làm sao tiếp tục tu Phật đạo.
Vì thế, Đức Phật đưa ra pháp môn Tịnh độ để dễ dàng bảo toàn được giới thân huệ mạng và tiếp tục lộ trình Phật đạo, bằng cách chỉ cần đem niềm tin sâu chắc của chúng ta đặt vào thế giới Cực Lạc là cắt đứt niệm tâm ở Ta bà ngay. Trên bước đường tu, có người về Cực Lạc, có người phát sanh phiền não; vì vào đạo tràng để tu, nhưng chỉ nhìn thấy những điều không bằng lòng, nên giận người này, ghét người nọ, bực việc kia, rồi tuyên bố không thèm tu nữa! Không tu thì xuống địa ngục ở, đơn giản thôi. Cho nên phải mượn cảnh tạm này, phải nương vào chùa, nương vào đạo tràng, nương vào thân người, v.v… làm bệ phóng để đưa phi thuyền Tâm của chúng ta về Cực Lạc, sẽ đắc đạo dễ hơn.Không làm như vậy, thì bị lửa phiền não đốt chết.
Giữa Cực Lạc và Ta bà có một khoảng cách gọi là chơn không, giống như giữa trái đất và mặt trăng có một khoảng cách, mà khoảng không đó không ảnh hưởng trái đất cũng không ảnh hưởng

* Trang 166 *
device

mặt trăng. Khoảng chơn không ở giữa không chịu ảnh hưởng Ta bà, cũng không chịu ảnh hưởng Cực Lạc; đó là thế giới mà Phật tu chứng được. Kinh Lăng Nghiêm diễn tả " Không” này như sau:
"Không sanh đại giác trung
Như hải hữu nhứt âu phát
Hữu lậu vi trần quốc
Giai y Không sở sanh
Âu diệt Không bản vô
Huống phục chư tam hữu”.
Pháp Không của hàng ngoại đạo tu luyện, gọi là ngoan Không, tức không suông, chẳng có gì, chẳng biết gì. Nhưng hành giả thể nghiệm pháp Phật, đạt được giác ngộ và sống trong Không giải thoát môn. Đó là pháp "Không” của hàng Nhị thừa Thanh văn tu chứng. Và cao sâu nhất là pháp Không của Bồ tát Đại thừa sanh ra trong đại giác ngộ, trong trí tuệ của Như Lai mà kinh Lăng Nghiêm nói đến. Vượt qua cái không, cái có thuộc nhị biên, để đạt đến Chơn Không của bậc đại giác, là cả một quá trình phát huy tâm trí đến mức cao tột. An trụ được trong Chơn Không mà sum la vạn tượng đều sanh ra từ đó, tất nhiên không đơn giản chút nào. Chơn Không thực sự hiện hữu, nhưng rất khó nắm bắt, khó đến, được ví như một bọt nước nổi lên trong biển đại giác vậy. Và dưới huệ nhãn của bậc đại giác, dù từ Chơn Không xuất sanh ra mọi quốc độ nhiều như vi trần, nhưng bản thể của nó vẫn là Không, huống chi là ba cõi: Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới thì có đáng kể gì.
Trở lại vấn đề niềm tin của người tu Tịnh độ, nếu niềm tin yếu kém thì chẳng thể nào đến Cực Lạc được; có thể ví niềm tin yếu ớt như chiếc hỏa tiễn không đủ sức mạnh, phóng chưa qua khỏi tầng

* Trang 167 *
device

không gian thì bị rớt xuống lại. Thật vậy, khi chúng ta tĩnh tọa, hướng đến mục tiêu Cực Lạc, dùng hết sức chánh niệm để phóng tâm qua Tịnh độ, vụt nhớ đến việc chưa làm, nhớ điều này điều nọ, là trở lại thực tế liền, giống như hỏa tiễn bị xì, rớt xuống. Bất giác này xảy ra trong đời tôi cả trăm lần. Nhưng chúng ta không nản lòng, mỗi lần rớt xuống, lại nỗ lực tìm nhiên liệu, tạo hỏa tiễn mới, tức cân nhắc, suy nghĩ xem tại sao tâm rớt trở lại Ta bà, tại sao không về Cực Lạc được. Vì vậy, tìm đọc thêm kinh điển, hay chú sớ của các bậc cao Tăng; vì các ngài cũng từng trải qua những kinh nghiệm tu tập, để kiện toàn phi thuyền Tâm của chúng ta vượt qua được mười muôn ức thế giới mà đến Cực Lạc.
Trên bước đường thể nghiệm pháp tu Tịnh độ, điều chỉnh cho hỏa tiễn bay lên và rớt xuống nhiều lần, tôi nhận thấy kinh nghiệm của Thái Hư đại Sư rất đúng. Ngài cho rằng Tịnh độ Tam kinh chưa đủ; phải sử dụng Tịnh độ Ngũ kinh, đưa thêm hai bộ kinh là Hoa Nghiêm và Lăng Nghiêm để làm cho niềm tin chúng ta vững hơn. Kinh Hoa Nghiêm dạy rằng niềm tin là mẹ sanh ra các Đức Phật. Phải củng cố niềm tin cho thực vững chắc; vì nếu nhiên liệu không đủ, phi thuyền Tâm bay lên nửa chừng sẽ bị rớt xuống, nên chúng ta phải trang bị thực đầy đủ. Xem Tivi, chúng ta thấy phi thuyền đặt trên bệ phóng phải có những hỏa tiễn phụ bám chung quanh. Năm bộ kinh là Di Đà, Vô Lượng Thọ, Quán Vô Lượng Thọ, Hoa Nghiêm và Lăng Nghiêm ví như năm cái hỏa tiễn phụ được đặt chung vào một bệ phóng làm phương tiện tạo thành sức đẩy, để đưa phi thuyền Tâm chúng ta qua khỏi sức hút của Ta bà. Lịch sử cho thấy các vị Tổ sư tu hành đều biết kết hợp nhuần nhuyễn các bộ kinh này để thăng hoa tâm linh.

* Trang 168 *
device

Trên đường đi đến Cực Lạc, cần Tịnh độ Ngũ kinh, nhưng qua khỏi không gian rồi, phải bấm nút bỏ hỏa tiễn phụ lại, tức bỏ kinh lại để tâm chúng ta nhẹ nhàng, không còn vướng bận bất cứ thứ gì, mới đến Cực Lạc được. Ý này thường được diễn tả rằng qua sông rồi bỏ thuyền lại. Ta bà chấm dứt, chỉ có tâm thanh tịnh, tức tịnh nhân, mới vào ao thất bảo ở Cực Lạc được. Còn có bất cứ khái niệm nào đều rớt trở lại trần gian này. Tổ sư cũng dạy rằng tu hành có nhiều pháp môn, nhưng sau cùng chỉ còn một chữ Như :
Kinh điển lưu truyền tám vạn tư
Học hành không thiếu cũng không dư
Đến nay tính lại đà quên hết
Chỉ nhớ trên đầu một chữ Như.
"Như” là tâm chơn như, không dính bận bất cứ thứ gì mới đặt tâm vào Cực Lạc được. Và tâm ở Cực Lạc rồi, chúng ta nghe được pháp âm của Phật Di Đà; nghe kinh bằng tâm, không bằng ngôn ngữ, tâm ta thông qua tâm Phật. Tu hành đạt đến sở đắc này, lúc nào cũng nghe Phật thuyết pháp. Riêng tôi, có lúc ngồi yên, nghe tiếng tụng kinh, nhưng thực tế mọi người xung quanh đều ngủ, tôi mới phát hiện rằng thế giới tâm của tôi nghe âm thanh vi diệu của Phật, Bồ tát trong Pháp giới, không phải nghe âm thanh bên ngoài. Kinh Hoa Nghiêm dạy rằng hành giả đi vào Pháp giới, nghe được chư Bồ tát, chư Như Lai thuyết pháp là nghe bằng tâm.
Người về Cực Lạc nghe Phật Di Đà thuyết pháp cũng bằng tâm và nghe rồi, liền ngộ Vô sanh nhẫn. Chỉ một lần nghe Phật thuyết pháp mà ngộ Vô sanh, trong khi bình thường A la hán tu phải mất ba a tăng kỳ kiếp mới chứng được Vô sanh. Phải đến Cực Lạc và nghe Đức Phật Di Đà thuyết pháp bằng tâm mới chứng quả

* Trang 169 *
device

Vô sanh và từ Vô sanh lại hiện sanh, thì không rời An Dưỡng Quốc mà trở lại Ta bà. Nói cách khác, tâm chúng ta vẫn an trụ Cực Lạc, nhưng thân ở Ta bà; bấy giờ, thân ở Ta bà trở thành vệ tinh của Cực Lạc, nên bắt được tín hiệu của Cực Lạc, nghe được pháp âm của Phật Di Đà. Người có niềm tin ví như có máy vi tính nối mạng với toàn cầu, chỉ cần mở mạng là biết được thông tin trên khắp thế giới. Cũng vậy, người đắc đạo tuy ở Ta bà, nhưng tâm an trụ Tịnh độ, nên nghe được Phật Di Đà nói pháp và ai có nhân duyên tiếp xúc với họ, liền được an lạc giải thoát theo. Đó là sự kỳ diệu của hành giả thâm nhập Tịnh độ.
Trên bước đường tu, đòi hỏi chúng ta nhiếp tâm thì đến Cực Lạc và tâm thanh tịnh được, trong lúc hành đạo ở Ta bà, nhưng thân tâm và hoàn cảnh sống của chúng ta có sức thuyết phục, nhiếp hóa được mọi người. Đạt được thành quả như vậy, Phật mới dạy rằng mỗi người đi một phương để giáo hóa chúng sanh. Nhưng có người hiểu lầm ý này, vội đi giáo hóa, mà chưa giải thoát, thì không ai nghe theo, chỉ có phiền não phát sanh. Quan trọng là phải ngộ Vô sanh nhẫn, cuộc sống chúng ta thể hiện đạo giải thoát, người thấy thành quả tốt lành ấy mới giải thoát theo.
Mong tất cả hành giả trong khóa tu này tham dự hội Hoa Đăng, thể hiện được ngọn đèn tâm. Mỗi người một đèn tâm cùng thắp sáng niềm tin để đẩy phi thuyền chúng ta bay về Cực Lạc và bức tranh Di Đà trong pháp hội này biến thành Đức Phật Di Đà thật ở Ta bà. Làm được như vậy, chúng ta trang nghiêm Giáo hội, làm đẹp cuộc đời, đưa đất nước lên tầng cao mới. Cầu nguyện tất cả khóa sinh được thành tựu viên mãn pháp tu Tịnh độ.

* Trang 170 *
device

 
Phật Giáo Nhập Thế Và Phát Triển (Quyển II)