LOGO VNBET
Ý nghĩa cùng tử và dược thảo dụ trong kinh Pháp Hoa
(Bài giảng tại chùa Phổ Quang, TP.HCM 2006)
Trước khi Đức Phật nói phẩm Dược Thảo dụ, bốn vị đại đệ tử là Ca Diếp, Tu Bồ Đề, Mục Kiền Liên và Ca Chiên Diên nói thí dụ cùng tử. Các ngài là bậc Thánh Tăng mà còn tự nhận mình là cùng tử, đương nhiên, chúng ta phải xét lại việc tu hành của chúng ta. Ngày nay, có một số người không tiến tu đạo hạnh được, vì chưa giỏi, chưa tốt mà cứ nghĩ mình nhất, như thế là tăng thượng mạn. Được xuất gia, thọ giới Tỳ kheo, được cúng dường, cứ tưởng mình là chúng trung tôn, là Thầy của trời người, thọ giới Bồ tát thì tưởng mình là Bồ tát. Nghĩ tưởng như vậy đã phạm sai lầm lớn.
Chúng ta cần noi gương các vị La hán, phải thấy mình là cùng tử được tu học pháp Phật, quả là may mắn vô cùng cho chúng ta. Thật vậy, thân người khó được, Phật pháp khó gặp. Chúng ta đã được những điều quý báu này và được xuất gia, sống trong nhà Phật, thì cần giữ gìn, trân trọng thánh tài vô

* Trang 101 *
device

tận để có thể tiến tu theo Phật, từng bước sẽ thăng hoa. Đừng để ngày trôi qua, tuổi già, sức yếu, rồi chết thì thật uổng phí cả cuộc đời. Riêng tôi, luôn nghĩ Phật đạo dài xa, mà hạnh Bồ tát còn nhiều, không dám lãng phí thì giờ, lo đọc kinh, lễ sám, tham Thiền, giảng pháp và nay đã gần 70 tuổi, tranh thủ thăm viếng, sách tấn Tăng Ni tu hành.
Tôi nhắc nhở quý vị cần luôn ghi nhớ mình là cùng tử, vì so với Thánh Tăng, mình không bằng, so với Bồ tát mình còn kém xa và so với Như Lai, chắc chắn mình không vói tới trong kiếp này. Trong đời này, tôi chỉ mong chứng được Sơ quả để tâm không buồn phiền, thân không bệnh hoạn, để dễ dàng phát huy tri thức và đạo hạnh. Còn sức khỏe kém, chỉ mới thay đổi thời tiết đã bệnh hoạn và gặp việc gì cũng tác động mình buồn lo, giận dữ, khổ sở, thì việc tu hành chắc chắn còn chướng ngại rất nhiều, khó vượt qua.
Bắt đầu tu với tư cách một cùng tử, tất nhiên ngày ngày phải quét dọn phân nhơ, tối ở am tranh là chính. Vì vậy, hãy tự xét thân và tâm mình còn gì nhơ bẩn để mỗi ngày lo dọn dẹp cho sạch. Tại sao biết thân chúng ta còn ô uế. Thân ô uế tiêu biểu cho nghiệp thân, cho nên người nhìn thấy không quý mến, mà lại sanh phiền não. Thật vậy, trời người cung kính cúng dường Đức Phật hay các vị Thánh Tăng, mặc dù các ngài không còn hiện hữu trên thế gian; vì thân tâm các vị Thánh đã nhiều tốt đẹp, thân tâm Phật thì hoàn toàn thanh tịnh, trọn lành, thường được diễn tả là đầy đủ ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp, sáng suốt tuyệt vời và sức khỏe vô cùng. Chúng ta không được như vậy, tự biết không có phước để trang nghiêm

* Trang 102 *
device

thân tâm và còn tội lỗi, nên không hiện hảo tướng. Người thấy không phát tâm, vì thấy nghiệp của chúng ta. Thấy Như Lai hay Thánh Tăng, họ phát tâm, vì thấy đức tướng của các Ngài.
Đức Phật dạy trong kinh Hoa Nghiêm rằng các vị Bồ tát thường sanh ra trong dòng họ cao quý, tướng tốt đều đầy đủ. Với kinh nghiệm bản thân, trên bước đường tu, tôi nhận ra ý này rất rõ; tôi xuất thân từ gia đình nghèo, cha mẹ không có vị trí cao sang, tất yếu phải chịu ảnh hưởng khó khăn. Thực tế tôi thấy một số huynh đệ có điều kiện tốt hơn, cha mẹ giàu có thường thăm viếng, cúng dường chùa, thì họ được Trụ trì và bạn đồng tu quý mến. Đức Phật hiện thân trong dòng họ Thích Ca là dòng họ cao quý, nổi tiếng bảy đời hiền đức. Khi còn là thái tử, vua Tần Bà Sa La đã kính trọng Ngài, vì vua Tịnh Phạn và vua Tần Bà Sa La đồng đẳng cấp là vua, dễ chấp nhận nhau. Nghe nói thái tử thành Ca Tỳ La Vệ đi tu, vua đã nói rằng khi nào Ngài đắc đạo, nhớ độ ông và ông đã dâng cúng Phật Trúc Lâm tịnh xá ngay khi Ngài trở về giáo hóa độ sanh.
Thiết nghĩ xuất thân dòng họ có nhiều phước đức, việc tu hành có phần dễ dàng hơn. Sang Nhật tu học, tôi cũng nhận thấy rõ Tịnh độ Chân tông được nhiều người theo. Khai Tổ của tông phái này là ngài Thân Loan. Cha ngài làm Tể tướng (tương đương với Thủ tướng ngày nay), nên có rất nhiều phương tiện tốt đẹp để hành đạo. Hoặc các vị Thánh nhân như Nhật Liên là cháu của Thiên hoàng, hay Đạo Nguyên cũng xuất thân từ cháu nội của Thiên hoàng mà đi tu, người ta phải

* Trang 103 *
device

nể. Tổ Bồ Đề Đạt Ma cũng là thái tử Ấn Độ, nhưng ngài bỏ ngôi vua, mai danh ẩn tích, quyết tâm tìm đạo.
Xét mình là cùng tử, cha mẹ dòng họ không giàu sang, vào đời không bằng ai, nhưng may mắn được xuất gia làm Sa môn, hàng ngày cần nỗ lực tu hành để diệt trừ phiền não, nghiệp của chúng ta. Mới vào Phật học đường, mọi người giống nhau, nhưng tu học một thời gian, có kết quả khác nhau; nếu biết nỗ lực dọn dẹp ô uế của thân tâm, hảo tướng sẽ hiện. Người chỉ nghĩ đến tranh chấp, phiền não, nghiệp tướng hiện. Phước hay nghiệp hiện đều nhìn thấy được qua hình tướng bên ngoài.
Lạy Phật, tụng kinh, tham Thiền, kiểm chứng xem tâm chúng ta nghĩ gì, thân làm gì, theo chiều hướng tịnh hóa hay nhiễm ô. Nếu tịnh hóa thân tâm được, thì không buồn giận, lo sợ, thương ghét và đại chúng giao việc gì, chúng ta làm tốt. Thân tâm không thanh tịnh thì cứ nghĩ đến vật thực, cúng dường. Thời Phật tại thế, ông Ưu Ba Nan Đà phạm sai lầm này, nên bị tổn phước. Trái lại, Ca Diếp sống khổ hạnh, nổi tiếng là vị đầu đà bậc nhất, nhưng đã được Phật nhường phân nửa tòa ngồi; khi Phật Niết bàn, Ca Diếp đã trở thành vị lãnh đạo giáo đoàn. Noi theo hạnh tu của Ưu Ba Ly hay Ca Diếp, thuở niên thiếu tôi an phận với nếp sống nghèo khó, nhưng cái nghèo vật chất đã giúp tôi trưởng thành, vì có nhiều thì giờ để tiến tu, lo thanh tịnh hóa thân tâm, sau này mới có hành trang tốt đẹp để phục vụ đạo pháp. Thật vậy, ở am tranh nghĩa là chúng ta sống tam thường bất túc. Nói đơn giản, chúng ta làm

* Trang 104 *
device

được nhiều công đức, nhưng hạn chế tối đa việc tiêu dùng cho bản thân. Phục vụ Tam Bảo nhiều thì công đức sanh ra, hưởng thụ của Tam Bảo nhiều thì việc tu hành sẽ kém dần. Người chỉ lo phát triển đời sống vật chất, chắc chắn đời sống tinh thần càng đi xuống. Theo kinh nghiệm riêng tôi, có nhiều của cải vật chất, tất nhiên phải để tâm lo lắng và khi bị lệ thuộc như vậy, tâm chúng ta bị phân hóa, không tập trung được. Thí dụ xã giao quen biết nhiều người, phải nghĩ đến họ, nghĩ đến làm vừa lòng họ để họ làm lợi cho mình và được lợi rồi, lại phải để tâm đến họ hơn nữa. Cứ như vậy luẩn quẩn trong vòng danh lợi, tuy còn chiếc áo tu, nhưng việc làm không thanh tịnh, mà kinh Pháp Hoa ví là người làm công hèn hạ.
Nhờ an phận thủ thường với nếp sống đạm bạc, tâm chúng ta được rãnh rang để tiếp nhận pháp Phật. Quý vị hãy nghiệm xem cuộc sống thừa thải vật chất thì có được an lạc hơn cuộc sống tam thường bất túc của chúng ta hay không. Rõ ràng là không thể sánh bằng. Ở am tranh nghĩa là sống đơn giản, thanh tịnh, nhưng Phật thọ ký cho cùng tử thành Phật; còn những người khác, Phật không thọ ký. Tụng kinh Pháp Hoa, cần hiểu nghĩa sâu này để áp dụng trên bước đường tu. Phật dạy rằng sở dĩ Ngài giao gia tài cho cùng tử vì ông không giống những người làm công hèn hạ khác. Không giống họ, nhưng giống Phật, nên là con Phật. Giống ma thì làm sao được Phật thọ ký.
Xá Lợi Phất cũng nói lên ý này rằng "Tùng Phật khẩu sanh, tùng pháp hóa sanh, đắc Phật pháp phần”. Nghĩa là nương lời Phật dạy, suy tư, thể nghiệm, từ đó, trí tuệ và đạo

* Trang 105 *
device

đức chúng ta phát sanh và tăng trưởng. "Tùng pháp hóa sanh”, vì sống với lời dạy của Phật, trí tuệ chúng ta được thăng hoa, tuy có sanh thân giống mọi người, nhưng có sự khác biệt là chúng ta đã tu tạo được giới thân huệ mạng. Đó chính là đời sống đạo đức và tri thức theo Phật. Có đạo đức, hiểu biết và việc làm giống Phật mới là đệ tử Phật, khác với người chỉ có sanh thân và hiểu biết theo thế gian, việc làm theo thế gian.
Suy nghĩ và làm giống Phật là việc quan trọng của người tu. Trong kinh nói rõ cùng tử không giống người làm công hèn hạ khác, vì ông được một phần pháp, tuy chưa là Phật, nhưng đã có thể thay Phật làm việc của Phật. Phật mới giao cho ông quản lý công việc. Người tránh nặng tìm nhẹ, thích hưởng thụ, lấy công làm riêng, Phật xếp vô người làm công hèn hạ, Ngài không nhận họ là đệ tử và không giao việc. Trong khi cùng tử gánh vác công việc nặng, quyền lợi để dành cho đại chúng; cho nên được Phật thừa nhận và giao việc, tức thọ ký và bổ xứ thì việc Phật sự khó cũng thành tựu. Thực tế cho thấy, một số Thầy rất giỏi và khôn, nhưng thường thất bại, vì Phật không thừa nhận và không bổ xứ. Người kém hơn, nhưng làm được, tự biết họ được Phật lực gia bị. Tôi tiếp xúc với các chính khách hoặc các học giả, hiểu biết của mình kém hơn so với họ; nhưng nhờ được Phật hộ niệm, được Phật bổ xứ làm thay cho Phật, mới thành tựu việc hướng dẫn mọi người tu theo.
Chúng ta xuất gia tu hành, Tổ thường nói là "Làm tôi” cho Phật và trong kinh Pháp Hoa cùng tử là người làm tôi cho Phật, được Phật thọ ký và giao quản lý gia tài sau khi đã nỗ

* Trang 106 *
device

lực dọn sạch phiền não. Chúng ta nhận chân rõ ý này qua quá trình giáo hóa của Đức Phật. Các vị Thánh Tăng từ năm anh em Kiều Trần Như, cho đến một ngàn vị đệ tử của Ca Diếp và hai trăm đệ tử của Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, cùng năm mươi vương tử dòng họ Da Xá. Đối với một ngàn hai trăm năm mươivị A la hán này đã hoàn toàn thanh tịnh, nên Phật đã không đặt ra giới luật nào cho các ngài trong suốt mười hai năm đầu giáo hóa độ sanh. Sau đó, vì có nhiều người thuộc căn cơ, trình độ thấp kém, nghiệp và phiền não còn nhiều; cho nên khi lỗi lầm nào của họ phát sanh thì Phật liền quy định giới luật để cấm ngăn và bảo vệ, nuôi lớn giới thân huệ mạng cho họ.
Tự thấy chúng ta thuộc hàng trần lao nghiệp chướng đi tu, cần nương pháp Phật để thanh tịnh hóa được thân tâm, thì cũng đồng với A la hán. Còn các ngài đã thanh tịnh, có phiền não đâu mà phải dọn dẹp; ngoại trừ Bàn Đặc thị hiện làm người lo quét bụi rác mỗi ngày, nhằm nhắc nhở những ai còn bị vướng mắc với nó. Nếu xét thấy mình ở hạng trung, chỉ cần gia công thanh tịnh hóa thân tâm một thời gian ngắn đã có thể tiến tu đạo hạnh dễ dàng. Còn hạng hạ căn, phải nỗ lực tu hành nhiều hơn, công quả nhiều hơn. Nếu tinh tấn thể nghiệm pháp Phật dạy cho đến khi được Phật thọ ký và được Phật bổ xứ làm thay cho Ngài, chúng ta làm Phật sự dễ dàng. Theo tôi, đừng khởi vọng tưởng điên đảo. Tự biết mình còn nhiều phiền não, nên Phật chưa bổ xứ, mà chúng ta ham làm, dễ thất bại, dễ buồn phiền.
Sau khi bốn vị đại đệ tử trình bày thí dụ cùng tử, Đức Phật xác nhận rằng sự suy nghĩ của các vị này rất đúng, rằng các vị

* Trang 107 *
device

Thanh văn đã thể hiện đời sống phạm hạnh, không còn lỗi lầm, xứng đáng thay Phật làm Phật sự.
Tiếp theo thí dụ cùng tử của bốn vị đại đệ tử, Đức Phật liền đưa ra thí dụ ba cỏ hai cây trong phẩm Dược Thảo dụ. Có một số vị cao Tăng đã giải thích rằng ba cỏ chỉ cho Tam thừa giáo và hai cây chỉ các vị Bồ tát, Bồ tát mười phương ví như cây nhỏ và Bồ tát Tùng địa dũng xuất ví cho cây lớn. Cỏ cũng có ba bậc, thượng, trung, hạ ví cho Bồ tát, Duyên giác và Thanh văn thể nghiệm Tam thừa giáo của Phật. Và Đức Phật đã khẳng định rằng Tam thừa giáo chỉ là phương tiện của Ngài nhằm dẫn đến chân lý và chân lý chỉ có một. Nói cách khác, đã tu theo pháp Phật, dứt khoát phải thành Phật. Thật vậy, trong kinh Pháp Hoa, Đức Phật dạy rằng sự thật duy nhất có một Phật thừa, tức những pháp tu theo Phật đều dẫn đến cứu cánh là quả vị Phật, không thể khác; nhưng Phật dùng phương tiện nói ba thừa để thích hợp với trình độ và nghiệp lực của ba hạng người khác nhau. Đối với người trần lao nghiệp chướng nhiều, sợ sanh già bệnh chết và muốn ra khỏi sanh tử, đến Niết bàn, Phật nói Đạo đế, dạy họ thực hiện ba mươi bảy Trợ đạo phẩm. Đó chính là pháp của Thanh văn giúp họ xa rời tâm đam mê, chấp trước việc thế gian để bước vào cửa giải thoát: Không, vô tác, vô nguyện. Làm sao mọi việc trên cuộc đời không tác động được, hoàn cảnh tốt hay xấu, hành giả vẫn an trụ pháp Không, tâm được an nhiên tự tại. Thật vậy, Thanh văn tu quán các pháp đều Không, ngũ uẩn cũng là Không. Từ góc độ "Không”, nhìn cuộc đời không có gì thực sự hiện hữu, cho nên tâm không nương vào đâu mà sanh tham

* Trang 108 *
device

đắm được. Và cắt đứt được vọng tâm tham đắm, liền chứng Niết bàn, ra khỏi sanh tử. Trong kinh diễn tả sự tu chứng này là đến được bãi đất trống nhờ nương vào Không quán. Ngày nay, tu hạnh Thanh văn, dứt khoát chúng ta phải chứng pháp Không, tức không khởi niệm, giữ tâm đứng yên, không tác ý, là đã an trụ pháp Không, giải thoát.
Đối với hàng Duyên giác, Phật dạy pháp tu Giả quán, nghĩa là quán các pháp do nhân duyên sanh và diệt, nhưng tâm hành giả an trụ ở bất diệt để quán sát sanh diệt, nhận chân rõ sanh diệt là giả, vô sanh là thật. Quán chiếu mọi việc do nhân duyên sanh diệt như vậy, tâm lắng yên, thanh tịnh là đã ra khỏi Nhà lửa tam giới, đến bãi đất trống thì Duyên giác cũng chứng được Niết bàn.
Hạng thứ ba ví cho cỏ bậc thượng cao hơn hàng Thanh văn, Duyên giác còn ở trong vòng nhị nguyên. Đối với Bồ tát, Phật dạy Lục độ ba la mật vì đó là những người đã có điều kiện cứu đời, giúp người, nên mau đến quả vị Phật hơn. Bồ tát quán Trung đạo đệ nhất nghĩa hay Trung quán, thấy rõ sự thật nên nhìn đời thấy khác, thấy cuộc đời không xấu, không tốt; nhưng tốt xấu tùy ở tâm, tùy ở nghiệp. Nghiệp chúng ta thiện thì cuộc đời này đối với chúng ta tốt; trái lại mang nghiệp ác vào thì cuộc đời sẽ tệ ác với chúng ta. Ý thức như vậy, trên bước đường tu, tự điều chỉnh tâm mình tốt đẹp, hoàn cảnh tự tốt theo để nhiều người cũng được theo mình ra khỏi sanh tử. Đó là thực hiện pháp tu Lục độ ba la mật nhằm cứu độ chúng sanh. Vì chúng sanh khờ dại, cang cường, mà Bồ tát phải kham nhẫn để cứu độ, không phải thua hay sợ chúng. Khi thoát

* Trang 109 *
device

được sanh tử, nhìn lại, mới nhận ra rằng ơn của Đức Thế Tôn cứu mạng thực lớn lao vô cùng. Câu nói rất cảm động của Xá Lợi Phất mà tôi tâm đắc: "… Dù có dùng đầu đội, hai vai cõng vác trải qua trăm ngàn muôn ức kiếp cũng không thể đền đáp được ơn của Đức Thế Tôn”.
Bồ tát thường dùng pháp bố thí và nhẫn nhục để cứu giúp người. Nghĩa là quyền lợi để cho người hưởng, việc khó Bồ tát gánh vác. Vị Trụ trì có tâm niệm và sống như vậy, chắc chắn tiếp Tăng độ chúng thành công. Thực tế cho thấy rõ, đệ tử Phật được nương nhờ phước đức của Ngài quá lớn lao. Bước theo dấu chân Phật, các vị Bồ tát Tăng xuất hiện trên cuộc đời chỉ chuyên lo cho đại chúng và tấm gương sáng của các ngài cũng đã soi tỏ được nhiều người thức tỉnh, giác ngộ.
Ba cỏ chỉ cho hàng Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát thực hiện Tam thừa giáo đều nằm trong phương tiện khéo léo của Đức Phật. Vì thế, Bồ tát của Tam thừa giáo gọi là Quyền thừa Bồ tát ở trong tam giới phát tâm Bồ đề, hành Bồ tát đạo, trên cầu Vô thượng đạo, dưới hạ hóa chúng sanh.
Và hai cây chỉ cho các vị Bồ tát ở ngoài sanh tử là Bồ tát mười phương và Bồ tát Tùng địa dũng xuất. Mới khai hội Pháp Hoa, chỉ có hai vạn Bồ tát đến tham dự, nhưng đến khi Phật thuyết phẩm Tùng địa dũng xuất thứ 15, thì có đến Bát thập vạn ức na do tha Bồ tát, tức vô số Bồ tát mười phương hiện diện. Vì thế, bước theo dấu chân Phật, làm thế nào tiếp nhận được lực Bồ tát gia bị, thì từ "Không” sẽ trở thành "Có” mà kinh thường diễn tả là Chân không Diệu hữu; vì nhận được

* Trang 110 *
device

phước báo của các ngài truyền đến, chúng ta dễ dàng thành tựu công đức vượt ngoài khả năng của con người. Thật vậy, chúng ta thấy có nhiều người tu sống đơn sơ, nhưng làm được Phật sự phi thường vì nhờ Phật và Bồ tát hộ niệm, những điều tốt lành tự tìm đến, không muốn làm cũng phải làm. Điển hình như chùa Phổ Quang ở thành phố Hồ Chí Minh do Thành hội Phật giáo quản lý, khi nhân duyên hội đủ, thì chùa này được hoàn thành một cách tốt đẹp và nhanh chóng đến không thể ngờ được. Hoặc chùa Vạn Đức, Hòa thượng Trí Tịnh cho biết xưa kia xây chùa rất cực khổ vì không đủ tài chánh. Nhưng ngày nay, phước đức nhân duyên có đủ, được Phật hộ niệm, khiến các tín đồ hằng tâm hằng sản phát tâm cúng dường, ngôi chùa trang nghiêm có được dễ dàng.
Quý vị làm đạo có đủ ba yếu tố như sau sẽ dễ thành công; nếu không, thì tự biết chưa đủ duyên. Làm bất cứ Phật sự nào, thí dụ như xây chùa, điều thứ nhất phải nghĩ đến là chúng ta xây chùa cho Tăng Ni, Phật tử tuhọc, không phải xây cho mình ở, vì cá nhân mình chỉ cần ở gian phòng chín mét vuông là đủ. Xây chùa để đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của Phật tử, để có nơi chốn thanh tịnh cho Tăng Ni tu hành. Điều thứ hai, khi xây chùa, chính quyền và quần chúng Phật tử phát tâm ủng hộ. Điều thứ ba, phước báo đến đâu, chúng ta làm đến đó. Người hằng tâm hằng sản cúng nhiều, thì làm lớn, cúng ít làm nhỏ; cố làm lớn, vượt ngoài phước báo và sự hộ niệm của chư Phật thì công trình dở dang mà thân đã phát bệnh và tâm phiền não, thực là tai hại. Phật bổ xứ chúng ta làm việc gì, chúng ta làm việc đó, chắc chắn được an lành vô cùng. Làm ngoài sự bổ xứ của Phật, tất nhiên không nhận được lực gia bị

* Trang 111 *
device

của Ngài, chỉ thọ quả báo mà thôi. Vì vậy, có người ở chùa nhỏ mà tu được, xây chùa lớn, lại không thể tiến tu.
Mong rằng quý vị thấu hiểu ý sâu mầu của thí dụ cùng tử và dược thảo dụ trong kinh Pháp Hoa, để sử dụng được trong cuộc sống tu hành, thăng hoa tri thức và đạo hạnh trên bước đường thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh.

* Trang 112 *
device

 
Phật Giáo Nhập Thế Và Phát Triển (Quyển II)