LOGO VNBET
1. Chánh tín niệm Phật sẽ được vãng sanh(1)
Sách  Liên  Tông  Bảo  Giám(2) nói  rằng:  “Tâm thể  chính  là  cõi  Cực  Lạc(3) trải  khắp  mười phương.(4)Tự tánh là đức Di-đà(5)tròn đầy trí giác.(6)Mầu nhiệm ứng theo thanh sắc nơi ngoại cảnh,(7)tỏa sáng nơi tự tâm.(8)Bởi vậy, bỏ mê vọng liền về chân thật, thẳng lìa trần ai tức là giác ngộ.”(9)
“Thuở trước ngài Pháp Tạng phát lời nguyện lớn, khai mở con đường nhiệm mầu sang Cực Lạc.(10)Cho nên đức
___________________________________
(1)Bài văn này nói ý nghĩa của việc niệm Phật, lấy chánh tín làm nhân, lấy vãng sanh Tịnh độ làm quả.
(2)Liên tông bảo giám là bộ sách 10 quyển, của ngài Ưu-đàmTông chủ (cũng có tên là Phổ Độ), giảng thuyết và xiển dương pháp tu Tịnh độ.
(3)Kinh Duy-manói: “Tùy tâm mình tịnh thì cõi Phật tịnh.”(Tùy kỳ tâm tịnh tắc Phật độ tịnh. - 隨其心淨則佛土淨。)
(4)Trải khắp mười phương: Mười phương hư không đều do nơi tâm mà hiển hiện ra; tâm thể bao quát tất cả các cõi thế giới nhiều như số hạt bụi nhỏ li ti.
(5)Tự tánh là đức Di-đà: Tự tánh của mỗi chúng sanh tức là Phật, bởi vì hết thảy chúng sanh đều sẵn có Phật tánh.
(6)Tròn đầy trí giác: Tất cả các chúng sanh đều tự có sẵn trí huệ của Như Lai, chỉ do vô minh che lấp, mê muội nên không phát lộ được.
(7)Mầu nhiệm ứng theo thanh sắc nơi ngoại cảnh: Âm thanh và hình sắc là hai trong sáu yếu tố ngoại cảnh, gọi là sáu trần (lục trần): hình sắc, âm thanh, hương thơm, mùi vị, xúc chạm, pháp trần. Nói thanh sắc là cách nói gọn, thật ý là muốn chỉ cả sáu trần. Nếu tâm thanh tịnh thì ứng hiện ra sáu trần cũng thanh tịnh, mầu nhiệm như thật tướng.
(8)Tỏa sáng nơi tự tâm: Nguyên văn là “lưu quang ư tâm mục chi gian”. Phần sớ giải có ghi: “Cử tâm xúc mục tức thị Bồ-đề, cố viết lưu quang” (舉心觸目即是菩提,故曰流光。) Nối theo ý của câu trên, tức là khi tâm thể thanh tịnh, mọi sự xúc chạm, thấy nghe đều là cảnh trí giác ngộ. Nên nói là “tỏa sáng nơi tự tâm”.
(9)Tự tánh trí giác vốn sẵn có xưa nay, chỉ cần dứt bỏ mê vọng, lìa khỏi trần cấu thì trí tuệ tự nhiên hiển hiện. Nên Thiền tông nói: “Tâm địa nhược thông, tuệ nhật tự chiếu.” (心地若通,慧日自照。)
(10)Kinh Cổ Âm ghi rằng: “Về thời quá khứ cách nay vô số kiếp, có đức Phật Tự Tại Vương ra đời độ chúng sanh. Khi ấy có vị Luân vương tên Kiều-thi-canghe pháp giác ngộ, bèn bỏ ngôi vua, theo Phật xuất gia, hiệu là Pháp Tạng. Khi ấy, ngài Pháp Tạng đối trước Phật phát 48 lời nguyện lớn thanh

* Trang 16 *
device

Thế Tôn mới chỉ về phương Tây mà dạy cho bà Vi-đề-hybiết rõ cõi diệu huyền.(1)Khi ấy, mười phương chư Phật đều hiện tướng lưỡi  rộng  dài  mà  xưng  tán.(2) Nên  báo  trước  rằng  khi  các kinh khác đều đã mất, sẽ chỉ riêng lưu lại bộ kinh A-di-đà.(3)
“Bởi vì, tâm hỷ xả làm lợi ích chúng sanh càng nhiều thì lượng từ bi ứng hóa càng thêm lớn. Giáo pháp phân chiachín phẩm, riêng mở phép tu này làm phương tiện; một lòng xét rõ, thật đây là nẻo tắt quay về nguồn cội. Thánh phàm gặp gỡ là duyên, như khách phương xa trở về quê cũ; cảm ứng giao thông là đạo, như trẻ thơ quấn quít mẹ hiền.
“Những ai mê muội không hiểu rõ lý này, đối trước ngoại cảnh thảy đều lầm lạc; những ai có lòng tin trọn vẹn, mọi sự ắt đều hiểu thấu. Huống chi lại còn được sức nguyện lực khôn lường của đức Phật, phóng hào quang
_________________________________________
tịnh, tiếp dẫn chúng sanh về cõi Cực lạc. Tỳ-kheoPháp Tạng thuở xưa, nay chính là đức Phật A-di-đà, quả thành như nguyện.”
(1)Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật ghi rằng: “Thái tử A-xà-thếtại thành Vương-xá, nghe lời xúi giục của Đề-bà-đạt-đanên giam cầm vua cha là Tần-bà-sa-la, chẳng cho ăn uống. Mẹ của thái tử là bà Vi-đề-hyđem bánh bột và nước lén dâng lên vua. Thái tử nghe biết chuyện ấy, muốn giết mẹ đi. Các quan đại thần ngăn cản, A-xà-thếbèn giam mẹ vào ngục tối. Phu nhân sầu khổ, lễ Phật, nguyện được sanh về thế giới không có sự ác nghịch. Phật vì bà mà phóng hào quang hiện cho thấy các cõi thế giới trong sạch mười phương để bà lựa chọn. Phu nhân vui mừng, nguyện sanh về thế giới Cực Lạc ở phương tây. Phật nhân đó ngợi khen pháp môn niệm Phật, dạy bà chuyên tâm niệm danh hiệu đức Phật A-di-đà, sẽ được vãng sanh về thế giới Cực Lạc của đức Phật ấy.
(2)Khi đức Phật Thích-cagiảng thuyết kinh A-di-đà, chư Phật trong mười phương đều hiện tướng lưỡi rộng dài bao trùm các cõi thế giới, tỏ lời xưng tán đức Phật Thích-cavà kinh A-di-đà. Tướng lưỡi rộng dài là tướng trạng hiện ra để minhchứng cho lời nói chân thật không hư dối.
(3)Phật dạy rằng khi Chánh pháp sắp diệt mất, kinh Thủ Lăng Nghiêm sẽ bị mất trước nhất, sau đó các kinh khác cũng dần dần mất đi, duy chỉ còn kinh A-di-đàsẽ còn lại cho đến giai đoạn cuối cùng để cứu độ vô lượng chúng sanh.

* Trang 17 *
device

từ bi tiếp độ như thuyền xuôi theo nước, chẳng cần nhọc sức; cửa đẩy cối rơi, quyết chắc như vậy. Đã lập nguyện tất được đón về; không cơ duyên nào không ứng tiếp. Như tảng đá nặng nhờ thuyền có thể nổi trên mặt nước;(1) như lửa địa ngục có thể nhờ sức niệm Phật mà tức thì diệt mất.(2)
“Hàng Bồ Tát, Thanh văn vãng sanh về cõi ấy số nhiều không kể xiết. Bậc hiền thánh từ trước về sau, người đắc đạo có thể thấy biết rất nhiều. Chim anh vũ, tần-già(3) mà còn diễn xướng pháp âm; nên những loài biết bay biết chạy, hẳn đều được nhờ ơn lành giáo hóa.
“Cảnh giới bậc thánh vốn không hư vọng; lời Phật nói ra không thể sai lầm. Vì sao lại chìm đắm giữa giòng
________________________________________
(1) Kinh Tỳ-kheo Na-tiên ghi đoạn vua Di-lan-đà hỏi ngài Na-tiên rằng: “Sa-môn các ngài dạy rằng: Người ta dù làm đủ các điều ác, cho đến lúc sắp chết quay lại niệm Phật. Như vậy sau khi chết liền được sanh về tịnh độ. Trẫm không tin điều ấy. Lại còn nói rằng: Chỉ cần giết hại một sanh mạng, khi chết phải đọa vào địa gục. Trẫm càng không thể tin được!” Na-tiên hỏi vua: “Này đại vương, như có người cầm hòn đá nhỏ ném xuống mặt nước. Đá ấy nổi hay chìm?” Vua đáp: “Tất nhiên là chìm.” Na-tiên lại hỏi: “Như có người lấy cả trăm hòn đá to mà xếp lên thuyền lớn, thuyền ấy có chìm không?” Vua đáp: “Không chìm.” Na-tiên nói: “Hàng trăm hòn đá to nhờ có chiếc thuyền nên không bị chìm. Người ta cũng vậy, tuy có làm các điều ác nhưng nhờ biết hồi tâm niệm Phật nên không bị đọa vào địa ngục. Sau khi chết được sanh sanh về tịnh độ. Chỉ một hòn đá nhỏ rơi xuống nước tất phải chìm, cũng như người làm việc ác nhưng không được học biết kinh Phật. Sau khi chết nhất định phải đọa vào địa ngục.”
(2) Trương Thiện Hòa đời nhà Đường, làm nghề giết bò, lúc lâm chung thấy có chiếc xe toàn lửa hiện ra, mới vội vả thỉnh thầy tăng mà cầu cứu. Thầy tăng dạy cho niệm Phật A-di-đà. Hòa nói rằng: “Địa ngục đến nơi rồi.” Bèn cấp tốc đi kiếm chiếc lư hương và nâng lên trán. Niệm Phật vừa được mười lần, thì nói rằng: “Có Phật đến rước tôi.” Nói xong liền thác.
(3) Theo kinh A-di-đàthì chim anh vũ (chim két) và chim ca-lăng-tần-giàlà những loài chim do Phật A-di-đàhóa hiện ở cõi Cực Lạc, ngày đêm thường hót lên âm thanh vi diệu và thanh nhã để diễn đạt những bài thuyết pháp về Ngũ căn, Ngũ lực, Thất Bồ-đềphần, Bát chánh đạo. Người nghe chim diễn xướng liền sanh tâm niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.

* Trang 18 *
device

sông ái luyến(1) cuộn sóng mà chẳng biết lo; ở trong căn nhà lửa (2) cháy bừng đốt thiêu hoài mà không sợ? Lưới si mê dày đặc, lưỡi gươm trí huệ nếu không sắc bén làm sao chém phá? Mối nghi ngại trồng sâu, đức tin nếu cạn cợt dễ đâu nhổ bỏ? Vậy nên cuối cùng rồi cam tâm nhụt chí, đành lòng mà nhận lấy tai ương. Với cõi thanh tịnh lại chê bai, với đời phiền não thì tham luyến!
“Bướm thiêu, kén cháy, toàn chốn tai ương; cá vạc, chim lồng, lấy làm khoái lạc! Thảy đều là do ác nghiệp nặng hơn căn lành; gốc tội sâu hơn đức tin.
“Cho nên ba cõi mênh mang, bốn loài(3) lăn lộn. Thảy đều vì tham sống mà lận đận, nào biết đường về? Cuối cùng đều theo nghiệp mà lao đao, chẳng lo tìm cách thoát ra. Chết đi sống lại trong quá khứ đã vô số kiếp, (4) đường luân hồi sắp đến cũng lâu xa không sao tính hết!(5)
______________________________________________
(1) Sông ái luyến: ái hà(愛河) hay ái dục hà(愛欲河), nghĩa đen là con sông ái luyến, tham dục. Vì lòng luyến, tham dục của chúng sanh khiến cho người ta phải chìm đắm mãi trong đó, cũng như dòng sông cuộn sóng nhận chìm người, nên so sánh mà gọi tên như vậy.
(2)Nhà lửa: hỏa trạch (火宅), căn nhà đang cháy. Trong kinh Pháp Hoa, Phật dạy rằng ba cõi (hay Tam giới, gồm có Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới) như căn nhà đang cháy đỏ. Chúng sanh ở trong ba cõi cũng như đang ở trong căn nhà cháy đỏ. Các mối phiền não: tham dục, sân hận, si mê trong ba cõi tỷ như những ngọn lửa nung đốt họ mãi, thế mà họ chẳng biết sợ mà tìm lối thoát ra. Muốn ra khỏicăn nhà lửa ấy, phải sớm biết tu tập theo pháp Phật.
(3)Bốn loài (tứ sanh): các loài trong luân hồi thảy đều sanh ra bằng một trong bốncách: thai sanh (sanh từ bào thai), noãn sanh (sanh ra từ trứng), thấp sanh (sanh ra do nơi ẩm thấp), hóa sanh (do biến hóa mà sanh), nên gọi chung là bốn loài.
(4)Nguyên văn là “kiếp thạch”, kiếp đá. Thuật ngữ này có nghĩa là thời gian lâu xavô cùng. Ví như có một hòn đá vuông vức 40 dặm; cứ một trăm năm dùng mảnh lụa mềm mà phất vào hòn đá một lần. Như vậy cho đến khi hòn đá phải mòn hết, đó là quãng thời gian một “kiếp thạch”, nên nói là vô số kiếp.
(5)Nguyên văn là “giới thành”: thành hạt cải. Thuật ngữ này chỉ một khoảng thời gian lâu xa không tính hết được. Ví như có một cái thành lớn, bề cao

* Trang 19 *
device

“Nếu chẳng nhờ duyên lành thuở trước, dễ đâu gặp được nhân này? Trống đánh mở cửa ngục tù, nên mau ra khỏi; gặp thuyền vớt nạn trầm luân, chớ nên chậm chạp. Kính thuận lời vàng, khéo nương học Phật. Những ai chẳng nghe, chẳng hiểu, thật đáng xót thương! Huống chi, cõi ác có năm món ô trược này,(1) lửa đốt bốn bề, muốn được nhờ cứu vớt ra khỏi, duy chỉ có Phật mà thôi!
“Đã  được  nghe  pháp  nhiệm  mầu,  nên  trồng  lấy  duyên thanh tịnh. Một niệm thành tín, muôn đức do đó vun bồi.(2) Dù như hiền triết thuở xưa, cũng khó gặp được pháp chân thường. Mong sao mọi người đều theo như lời dạy, kính cẩn
vâng làm, hết lòng đảnh lễ tin nhận.”
° ° °°
Hỏi: Nói là tin, nhưng chưa biết tin ở pháp môn nào?
Đáp: Tin ấy là dựa vào Phật thuyết trong kinh: Niệm Phật nhất định sanh về Tịnh độ. Tin niệm Phật, chắc chắn diệt được tội lỗi. Tin niệm Phật, chắc chắn được Phật hộ trì. Tin niệm Phật, chắc chắn được Phật chứng biết. Tin niệm Phật, khi lâm chung chắc chắn được Phật tiếp độ.
____________________________________________
và chu vi đều 40 dặm; bỏ đầy hạt cải vào trong thành ấy. Cứ qua một trăm năm thì lấy ra một hạt cải. Như vậy, chừng nào lấy hết hạt cải trong thành thì vừa trọn một kiếp. Nên nói là lâu xa không sao tính hết.
(1) Theo trong kinh A-di-đà thì “ngũ trược ác thế” là năm sự ô trược ở cõi ác này. Đó là: kiếp trược, kiến trược, chúng sanh trược, mạng trược, phiền não trược.
(2)Trong pháp tu niệm Phật, lòng thành tín là nhân; còn việc được vãng sanh, hành
Phật có đủ muôn đức là quả.

* Trang 20 *
device

Tin niệm Phật vãng sanh, chắc chắn được địa vị không thối chuyển. Tin niệm Phật sanh Tịnh độ, chắc chắn không đọa vào ba nẻo dữ.(1) Vì vậy mà khuyên nên tin niệm Phật,tin  nhận  pháp  này,  thường  niệm  như  thế  này,  chắc  chắn được vãng sanh Tịnh độ.
Bởi vậy cho nên ba đời chư Phật,(2) chư đại Bồ Tát, các đời Tổ sư tu các công hạnh, đủ nguyện lực lớn, vào cảnh giới của Phật, thành tựu quả Bồ-đề, chưa có ai chẳng nhờ nơi một chữ tin ấy mà được vào.
Kinh Hoa Nghiêm nói: “Lòng tin là gốc của đạo, sanh ra các công đức. Lòng tin có thể nuôi lớn các căn lành. Lòng tin có thể vượt khỏi các đường ma. Lòng tin có thể đắc nhập vào đại định. Lòng tin có thể giải thoát khỏi biển sanh tử. Lòng tin có thể thành tựu quả Phật Bồ-đề.”
° ° °
Than ôi! Người đời nay biết ăn chay, tin vào việc giữ giới, mà chẳng tin pháp niệm Phật; tin thờ Phật mà chẳng tin việc vãng sanh Tịnh độ. Như vậy đều là tự mình bỏ mất đi một điều lợi lớn!
Cho nên kinh Duy-manói rằng: “Lòng tin sâu vững kiên cố  cũng  như  chất  kim  cang.” Muốn  đến  cõi  Tây  phương,trước hết phải do lòng tin sâu vững.
Hãy nhìn xem nơi các cõi thế giới thanh tịnh, chư Phật số đông như cát sông Hằng, thảy đều là những người trước đây đã từng gieo nhân chánh tín.
______________________________
(1) Ba nẻo dữ, hay Tam ác đạo, đó là: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
(2) Ba đời chư Phật: Chư Phật trong quá khứ, hiện tại và vị lai.

* Trang 21 *
device

 
Quy Nguyên Trực Chỉ