LOGO VNBET
可謂。
腹纏十萬貫,
騎鶴上揚州。
 四曰。
無禪無淨土,
鐵牀幷銅柱,
萬劫與千生,
沒箇人依怙。
              旣不明佛理,又不願往生,永劫沈淪,何由出離。
              諸因者。欲超生死,速證菩提,於此四種,擇善行之。

 
11. Thiền sư Vĩnh Minh Thọ răn người chưa ngộ đừng khinh Tịnh độ
              Có người hỏi rằng: “Chỉ cần thấy tánh ngộ đạo liền  vượt  qua  sanh  tử,  cần  chi  phải  chuyên tâm niệm đức Phật kia để cầu sanh qua phương khác?”
              Đáp rằng: “Người tu hành chân chánh nên tự mình xem xét, cũng như người uống nước tự biết nóng hay lạnh. Nay còn có bài văn quy kính(1)này, có thể dùng để phá đi nhiềusự sai lầm.
________________________________
(1)Văn qui kính (龜鏡): Xem chú giải ở trang 110

* Trang 216 *
device

Khả vị:
Phúc triền thập vạn quán.
Kỵ hạc thướng Dương châu.
Tứ viết:
Vô thiền vô Tịnh độ.
Thiết sàng tinh đồng trụ.
Vạn kiếp dữ thiên sanh.
Một cá nhân y hỗ.
Ký bất minh Phật lý, hựu bất nguyện vãng sanh, vĩnh kiếp trầm luân, hà do xuất ly?
Chư nhân giả! Dục siêu sanh tử, tốc chứng Bồ-đề, ư thử tứ chủng, trạch thiện hành chi.

Này các vị! Nên tự xét chỗ hiểu biết và việc làm của mình, có thật được thấy tánh ngộ đạo, được Như Lai thọ ký, được nối ngôi vị Tổ sư, được như các ngài Mã Minh, Long Thọ(1) hay  chăng? Được  tài  biện  thuyết  không  ngại,  được TammuộiPháp Hoa như ngài Thiên Thai Trí Giả
___________________________
(1) Bồ Tát Mã Minh (Aśvaghoṣa - 馬鳴) là tổ thứ 12 của Thiền Ấn Độ. Ngài tên là Ānabodhi(A-na Bồ-đề - 阿那菩提), sống vào khoảng đầu thế kỷ 2. Bồ Tát Long Thụ (Nāgārjuna- 龍樹) là tổ thứ 14, cũng sống vào thế kỷ 2. Cả hai vị đều có những trước tác Phật học nổi tiếng để lại đến ngày nay.

* Trang 217 *
device

hay chăng? Tông chỉ và giảng thuyết đều thông, chỗ hiểu biết và việc làm đều đầy đủ như ngài Trung Quốc sư hay chăng? Các vị đại sĩ ấy đều để lại lời dạy rõ ràng, hết lòng khuyên bảo háp vãng sanh. Đó thật là lợi mình lợi người, nào phải đâu dối người dối ta? Huống chi đức Phật đã ngợi khen, tự thân dặn dò cặn kẽ. Noi theo các bậc hiền xưa, kính vâng lời Phật dạy, quyết định không thể sai lầm. Lại như trong Vãng sanh truyệncó ghi lại, xưa nay nhiều bậc cao sĩ, sự tích rõ rệt, nên thường đọc kỹ các truyện ấy để tự mình soi tỏ.
Lại  nữa,  phải  thường  tự  biết  mình,  liệu  rằng  đến  lúc mạng chung, sống chết gần kề, có chắc chắn sẽ được tự tại hay chăng? Nghiệp ác nặng nề từ vô thủy đến nay, liệu sẽ không hiện ra nữa chăng? Báo thân này liệu có chắc chắn được thoát khỏi luân hồi hay chăng? Trong ba đường dữ với các loài chúng sanh khác nhau, liệu có thể tự mình vào ra tự do, thoát mọi khổ não hay chăng? Trong mười phương thế giới, khắp cõi trời người, liệu có thể tùy ý thác sanh không ngăn ngại hay chăng? Nếu mình chưa được như vậy, đừng vì một lúc tự cao mà đến nỗi phải chịu chìm nỗi nhiều kiếp. Tự mình bỏ mất điều lợi tốt đẹp, rồi sẽ trách ai? Hỡi ôi! Thương thay! Than vãn cũng không kịp nữa!
Việc tu hành thường rơi vào một trong bốn trường hợp, xin chọn nêu ra dưới đây.
Một là:
Tu thiền, không Tịnh độ,
Mười người, lầm đến chín.
Cảnh âm vừa hiện ra,
Liếc qua, liền theo đó.

* Trang 218 *
device

Nghĩa là: Nếu chỉ hiểu rõ lý tánh mà chẳng phát nguyện vãng sanh thì sẽ lưu chuyển trong cõi Ta-bà, chịu cái họa sa đọa. Cảnh âm đó là trong khi thiền định có ma ấm phát hiện ra. Như trong kinh Lăng Nghiêm có nói rõ: Do năm ấm mà sanh ra năm mươi cảnh ma. Người tu thiền khi mới thấy những cảnh ấy không rõ biết, nên tự nghĩ rằng đã chứng được Vô thượng Niết-bàn. Bị mê hoặc không biết, nên phải đọa vào địa ngục Vô gián.
Hai là:
Không thiền, chuyên Tịnh độ,
Muôn người không sai một.
Chỉ cần được thấy Phật,
Lo gì không chứng ngộ?
Nghĩa là: Nếu chưa rõ lý tánh, chỉ nên nguyện vãng sanh. Nhờ  nương  theo  Phật  lực,  chắc  chắn  sẽ  được  về  Tịnh  độ, chẳng còn gì phải nghi ngờ.
Ba là:
Tu thiền, tu Tịnh độ,
Như cọp mọc thêm sừng.
Đời nay dạy dỗ người,
Đời sau làm Phật Tổ.
Đã hiểu sâu pháp Phật nên có thể làm bậc thầy dạy dỗ người khác. Lại phát nguyện vãng sanh, nên càng nhanh chóng lên địa vị Bất thối. Có thể nói là:

* Trang 219 *
device

 
Quy Nguyên Trực Chỉ