LOGO VNBET
15. Biện minh ranh giới các cõi đông tây
Có người khách hỏi thiền sư Diệu Minh rằng: “Phật giáo là pháp của người di địch,(1) người trung  quốc chúng  ta  không  nên  theo.  Đức  Khổng  tử  nói: ‘Dân di địch lúc có vua cũng không bằng dân Trung Hoa(2) lúc biến loạn.’(3) Mạnh tử nói: ‘Ta từng nghe nhờ người Trung Hoa cải hóa dân man di, chưa từng nghe việc thay đổi theo man di.’ Vả lại, như thầy từ lâu cũng đã học theo phép tắccủa Nhị đế, Tam  vương,(4)  từng  trau  giồi Lục kinh và  các sách thánh hiền,(5)  nay lại bỏ hết đi để theo học những lời của người Tây Vực,(6) chẳng phải là thiếu suy nghĩ lắm sao?”
_________________________________________________
(1) Di địch (夷狄): mọi rợ, người Trung Hoa xưa dùng với ý khinh miệt, chỉ các dân tộc thiểu số, vì họ cho là kém văn minh, không học đạo lý. Người Trung Hoa xưa tự cho rằng chỉ mình là văn minh và ở giữa trời đất (trung quốc), còn các dân tộc ở chung quanh đều là mọi rợ (di, địch, nhung, man). Do định kiến sai lầm này mà họ vẫn thường gọi người Ấn Độ là rợ Hồ.
(2) Nguyên tác dùng chữ Hạ (夏) để chỉ dân Trung Hoa, cũng có khi gọi là Hoa Hạ.
(3) Ý nói dân trung quốccó lễ nghĩa, nên dùng khi biến loạn không có vua cũng vẫn còn hơn dân di địch, vì họ chẳng có lễ nghĩa.
(4)Nhị đế, Tam vương: chỉ 5 đời đế vương từ thời cổ đại, được xem là những bậc thánh nhân đã đặt nền móng cho văn minh Trung Hoa. Nhị đế, Tam vương chỉ hai đời đế, ba đời vương. Nhị đế là Đế Nghiêu (2357-2256 trước Công nguyên) và Đế Thuấn (2255-2206 trước Công nguyên), cũng thường gọi là Nghiêu, Thuấn, là hai đời vua được xem là thái bình thịnh trị nhất trong lịch sử Trung Hoa. Tam vương là vua Đại Vũ (2205-2198 trước Công nguyên) nhà Hạ, vua Thành Thang (1783-1754 trước Công nguyên) nhà Thương và Văn vương (1134-1116 trước Công nguyên) nhà Chu.
(5) Nguyên tác dùng Lục kinh, chư tử. Lục kinh chỉ sáu bộ sách quan trọng nhất trong Nho học thời xưa, gồm kinh Thi, kinh Thư, kinh Lễ, kinh Nhạc, kinh Dịch và kinh Xuân thu. Chư tử chỉ chung trước tác của tất cả các vị học giả, triết nhân trong khắp nước.
(6) Tây Vực: chỉ Ấn Độ, vì nằm về phía tây Trung Hoa, cũng có khi gọi là Tây Trúc, Tây Thổ.

* Trang 1020 *
device

Thiền  sư  Diệu  Minh  đáp:  “Ngày  trước,  khi  chưa  thấy được ý chỉ sâu xa mầu nhiệm của bậc Đại Thánh,(1) tôi cũng thường nói ra lời ấy. So với chỗ hiểu biết của ông bây giờ cũng không khác nhau mấy. Nhưng nay thì không phải như vậy.
“Nếu như ông chỉ biết đến cái vẻ đẹp bên ngoài của lễ nhạc mà không thấy rõ được cái chân thật của đạo đức, thì có khác nào chỉ thoáng thấy ánh lửa của ngọn đuốc mà chưa nhìn được ánh sáng của mặt trời, mặt trăng. Lời đức Khổng tử nói ra đó là vì ghét giận các vua chư hầu thời bấy giờ bỏ mất lễ giáo. Còn Mạnh Tử nói như vậy là có ý chê trách thuyết chuyên nông của Trần Tương.(2) Đều là những lời nói ra có chủ đích, chẳng phải lý lẽ tuyệt đối.(3)
“Vả lại, như vua Thuấn sanh ở Đông di, vua Văn vương sanh ở Tây di, vua Đại Vũ sanh ở xứ Thạch Điền, ông Nhật Đạn,(4) sanh ở đất Phan, ông Do Dư(5) sanh ở đất Nhung,
_____________________________________________________________
(1) Đại Thánh: chỉ đức Phật.
(2) Thuyết chuyên nông của Trần Tương: Trong sách Mạnh tử, quyển 3 có chép việc Trần Tương nói rằng tất cả mọi người đều nên tự mình cày ruộng mà ăn, cho đến vua chúa cũng vậy. Mạnh tử bác bỏ thuyết ấy, cho rằng xã hội có sự phân công hợp lý, không thể ai cũng như ai. Có những việc mà hạng quân tử phải làm, cũng có những việc mà hạng tiểu nhân phải làm.
(3)  Ở đây biện luận rõ về lời nói của Khổng tử và Mạnh tử vừa dẫn trên. Khổng tử nói “Dân di địch lúc có vua cũng không bằng dân Trung Hoa lúc biến loạn” là để cổ xúy cho việc duy trì lễ nghĩa, vì dân Trung Hoa sở dĩ hơn di địch là nhờ có lễ nghĩa. Mạnh tử nói “từng nghe người Trung Hoa cải hóa dân man di, chưa từng nghe việc thay đổi theo man di” là để chê trách thuyết chuyên nông của Trần Tương khác nào như theo nếp sanh hoạt man di, từ bỏ hết các nền tảng văn minh như hành chánh, đạo đức, lễ nhạc...
(4) Nhật  Đạn:  một  vị  quan  hiền  đức  đời  vua  Hán  Văn  đế  (179-157  trước  Công nguyên).
(5) Do  Dư:  một  bậc  hiền  sĩ  vào  đời  vua  Tần  Thủy  Hoàng  (246-210  trước  Công nguyên).

* Trang 1021 *
device

ông Quý Trát(1) sanh ở đất Man. Ba vị thánh vương và ba vị tôi hiền ấy đều là người di địch, lẽ nào cho rằng vì họ là di địch mà chẳng nên noi theo hay sao?
“Lại như Thái Khương(2) và Châu U(3) là những ông vua hoang dâm; Doanh Tần(4) với Thạch Triệu(5) là những ông vua bạo ngược; Lý Tư(6) và Triệu Cao(7) là những bề tôi siểm nịnh; Hầu Cảnh(8) với Vũ Văn (9) là những bề tôi phản nghịch. Bốn ông vua và bốn người bề tôi ấy đều sanh ở trung quốc,(10) lẽ nào vì họ là người trung quốc mà lại noi theo hay sao?
_______________________________________________
(1) Quý Trát: một bậc hiền sĩ đời nhà Chu, là cháu đời thứ 19 của vua Thái Bá.
(2) Thái Khương: vua nhà Hạ, ở ngôi 29 năm, từ năm 2188 đến 2160 trước Công nguyên, là một ông vua đam mê tửu sắc cho nên bị phế.
(3) Chu U, tức U vương nhà Chu, ở ngôi 11 năm (781-770 trước Công nguyên). Vua say mê nàng Bao Tự, phế bà Thân hậu. Vì nghe lời Bao Tự mà đốt lửa hiệu giả làm có biến, giễu cợt chư hầu. Sau quân Khuyển Nhung đến đánh thật, vua đốt lửa hiệu nhưng chư hầu chẳng ai tiếp cứu. Quân Khuyển Nhung giết U vương, lập con của bà Thân hậu lên ngôi hiệu là Chu Bình vương (770-720 trước Công nguyên).
(4) Doanh Tần, tức Tần Thủy Hoàng, tên là Lữ Chánh, con của Lữ Bất Vi, diệt nhà Chu và sáu nước chư hầu rồi lên ngôi Thiên tử, trị nước 37 năm (246-210 trước Công nguyên). Tần Thủy Hoàng làm nhiều việc vô đạo, tàn ác, đốt sách chôn học trò, người người đều oán giận.
(5) Thạch Triệu, tức Triệu Thạch Lặc, người đời Đông Tấn (317-420). Thạch Triệu mạo xưng đế hiệu, làm nhiều việc tàn bạo, sau bị em là Thạch Hổ giết chết.
 (6) Lý Tư: gian thần đời Tần Thủy Hoàng, hùa theo với Thủy Hoàng làm nhiều điều bạo ngược, sau bị Triệu Cao đầu cáo, nhân đó bị tội tru diệt.
(7) Triệu Cao: gian thần đồng thời với Lý Tư. Triệu Cao giết vua Nhị Thế là con của Tần Thủy Hoàng, lập con thứ của Thủy Hoàng là Tử Anh lên ngôi. Tử Anh lên ngôi xong liền xử Triệu cao tội tru di ba họ.
(8) Hầu Cảnh: loạn thần đời vua Lương Võ Đế (502-540), khởi binh làm phản, bắt nhốt Lương Võ Đế cho đến chết. Sau bị Trần Bá Tiên giết chết.
(9) Vũ Văn, tức Vũ Văn Hóa Cập, bề tôi của Tùy Dương Đế (589-604), sau phản nghịch giết vua, cuối cùng bị nghĩa thần của Tùy Dương Đế là Bộc Xạ giết chết.
(10) Chữ “trung quốc” ở đây được dùng với ý nghĩa là đất nước ở giữa, phân biệt với các xứ “man di” bao quanh. Cũng xuất phát từ đây mà về sau có tên nước Trung Quốc như hiện nay.

* Trang 1022 *
device

“Ngày trước, có lần đức Khổng tử muốn đến sống nơi miền Cửu di.(1) Có người hỏi: ‘Dân ấy thô lỗ, biết làm sao?’ Khổng tử đáp: ‘Người quân tử đã ở đó thì làm sao còn có sự thô lỗ?’ Như vậy, chẳng phải bậc thánh hiền câu nệ phân biệt di địch với trung quốc, chỉ tại người đời tự phân biệt như vậy mà thôi.
“Hơn nữa, như sao Bắc thần ở giữa trời mà ở nước Tề thấy là phương bắc. Theo đó mà xét ra thì các xứ Tề, Lỗ, Hán, Ngụy chắc gì đã là ở giữa? Như ở nơi đây gọi đó là giống rợ miền tây, thì nơi đó lại gọi đây là lũ mọi phía đông. Như vậy biết đâu là ở giữa?
“Dưới  vòm  trời  cao,  trên  mặt  đất  rộng,  sông  núi  mênh mông có biết bao nhiêu là xứ sở, lấy số triệu ức mà ghi chẳng xiết, biết nơi nào là ở giữa, nơi nào là bờ mé?
“Đức Phật nhìn khắp vũ trụ bao la này, thấy một thế giới có trăm ức mặt trời mặt trăng chẳng qua chỉ như một hạt cải, huống chi cái thế giới nhỏ chỉ có một mặt trời và một mặt trăng này!
Sách Luận ngữ nói: ‘Nghe nhiều, chọn lấy điều tốt mà làm theo.’(2) Vì thế tôi tôn trọng cái học rộng lớn của đạo Phật mà làm theo. Ví như một giọt nước biển chứa đủ mùi vị trăm dòng sông, nếu rõ biết được đạo pháp xuất thế thì cái học của thế gian không cần nhọc sức cũng tự nhiên nắm được.”
______________________________________________
(1)  Sách Hán thư chép rằng, di địch ở phương đông có 9 giống: Khuyển di, Ư di, Phương di , Huỳnh di, Bạch di, Xích di, Huyền di, Phong di và Dương di. Miền Cửu di là chỉ xứ sở của 9 giống dân di địch này, tức nằm về biên giới phía đông của Trung Hoa.
(2) Trích từ sách Luận ngữ, chương VII, tiết 27.

* Trang 1023 *
device

 
Quy Nguyên Trực Chỉ