LOGO VNBET
夫至道者,如秋月之流空,若閑雲之出岫。赤洒洒,活鱍鱍,圓陀陀,光爍爍。玄之又玄,妙之又妙者也。
            今以略說三教至道與汝知之。若談妙理,竆劫說不可盡也。
            吁。聖人空費老婆心,知音不用頻頻舉。吾勸仁者,同發佛心,同修佛道,同生佛國,同成佛果也。
            客稽首而退,謝曰。信受奉行。 
17. Biện minh chỗ chí đạo trong Tam giáo

Tôi có nghe rằng:(1) Chư Phật vì một việc nhân duyên lớn nên vào núi tu hành, chứng thành đạo quả cứu độ chúng sanh. Những người hậu học ắt phải noi theo chỗ làm của bậc đã giác ngộ mới có thể thấu rõ việc đại sự ấy, nên cũng phải ẩn mình trong rừng núi mà suy xét việc này. Có người tìm đến hỏi rằng: “Thầy ở đây làm gì?”
Nhất Nguyên đáp: “Học đạo Phật.”
Lại hỏi: “Có thể nói cho tôi nghe cái lý của đạo Phật được chăng?”
Đáp: “Ông cứ tùy ý hỏi, tôi sẽ đáp.”
____________________________________________
(1)Lời ngài Nhất Nguyên Tông Bổn tự xưng.

* Trang 1046 *
device

Phù chí đạo giả, như thu nguyệt chi lưu không. Nhược nhàn vân chi xuất tụ, xích sái sái, hoạt bát bát, viên đà đà, quang thước thước, huyền chi hựu huyền, diệu chi hựu diệu giả dã.
Kim  dĩ  lược  thuyết  tam  giáo  chí  đạo,  dữ  nhữ  tri  chi. Nhược đàm diệu lý, cùng kiếp thuyết bất tận dã.
Hu! Thánh nhân không phí lão bà tâm, tri âm bất dụng tần tần cử. Ngô khuyến nhân giả đồng phát Phật tâm, đồng tu Phật đạo, đồng sanh Phật quốc, đồng thành Phật quả dã.Khách khể thủ nhi thối, tạ viết: Tín thọ phụng hành.
Khách nói: “Giáo pháp của hai đạo Thích, Lão vốn đều là những sự dị đoan, thầy theo học làm gì?”
Nhất Nguyên hỏi: “Vì sao ông lại nói như vậy?”
Khách đáp: “Cái hư vô của đạo Lão, sự tịch diệt của đạo Phật, chẳng phải đều là dị đoan đó sao?”
Nhất Nguyên cười hỏi lại rằng: “Ông đã từng đọc những sách nói về hư vô, tịch diệt hay chưa?”
Đáp : “Đó là giáo pháp dị đoan, chẳng cần xem đến.”
Nhất Nguyên nói: “Kinh sách của họ ông còn chưa đọc, sao biết được là đạo dị đoan? Như vậy chẳng phải giáo pháp các đạo ấy là dị đoan, mà chính là tự ông chấp lấy sự dị đoan. Nếu ông hiểu được Khổng tử, ắt sẽ hiểu được

* Trang 1047 *
device

Phật, Lão. Vì không hiểu Khổng tử nên mới chống báng với Phật, Lão đó thôi. Trương Vô Tận nói rằng: ‘Ta nhờ học Phật rồi sau mới rõ được đạo Nho.’ Lời ấy thật đúng lý thay!”
Khách chắp tay vái, hỏi tiếp rằng: “Thầy có thể nói cho tôi nghe lý rốt ráo của cả Tam giáo được chăng?”
Đáp: “Nghe thì có thể được, chỉ sợ ông không thể làm theo. Nếu như thường làm theo thì có thể trở thành như Khổng tử, như Lão tử, cũng có thể thành Phật. Còn như nghe mà chẳng tin, hoặc tin mà chẳng làm, thì có khác chi cái bánh vẽ, không thể no lòng.”
Khách thưa rằng: “Xin thầy giảng giải, tôi nguyện sẽ làm theo.”
Nhất Nguyên nói: “Chỗ rốt ráo trong cả Tam giáo chỉ một sự nhất tâm mà thôi. Tâm là nguồn cội của con người. Đạo Phật nói: ‘Tâm là vua các pháp.’ Đạo Lão nói: ‘Tâm là vua của chúng.” Đạo Nho nói: ‘Tâm là chủ của người.’
“Tất  cả  pháp  đều  không  ra  ngoài  tâm.  Nếu  vua  chẳng động ắt muôn dân đều yên ổn, tâm không rối loạn thì những điều tà vạy không sanh khởi. Đó thật là: Tâm có chủ định ắt không thể rối loạn.
“Đạo Phật dạy: ‘Pháp môn tâm địa không phải ở nơi sự biện luận.’ Đạo Lão nói: “Tâm địa ra công, việc đời dứt sạch.” Đạo Nho nói: ‘Nói không bằng làm, làm không bằng đạt tới.’ Thảy đều nói sự thiết yếu là chỗ rốt cùng chân thật, đạt tới nguồn cội này, thấu rõ thật nghĩa, quay về cội gốc, tùy cơ duyên mà có sự cảm ứng.
“Cho nên, đức Khổng tử lấy sự vắng lặng chẳng động làm thể, chỗ dụnglà cảm ứng mà thông suốt; đức Phật

* Trang 1048 *
device

lấy tâm an định làm thể, chỗ dụnglà trí huệ. Lão tử lấy hư vô làm thể, chỗ dụnglà hiện hữu nhiệm mầu. Đều là cùng một ý như thế.
“Than ôi! Không chỉ là học giả đời nay không thấy được đạo  Phu  tử,  không  hiểu  được  lòng  Phu  tử,  cho  đến  trong số môn đệ đương thời có Nhan tử(1) được xem là đầy đủ đức hạnh của bậc thánh,(2) nhưng dùng hết sức bình sanh cũng chỉ nói được rằng: ‘Mới nhìn thấy trước mặt, bỗng hiện lại sau lưng...”(3) như đứng sừng sững đó nhưng rốt cùng chẳng thể nắm bắt, sờ mó được.
“Tuy vậy, đức Khổng tử đã mở bày chỉ bảo rất rõ ràng. Ngài dạy các môn đệ rằng: ‘Các ông cho rằng ta có chỗ che giấu ư? Ta không che giấu điều chi cả.’(4) Theo đó mà xét ra, thánh nhân chưa hề có sự che giấu, tránh né các đệ tử, chỉ do hàng đệ tử tự có chỗ sai lệch, hiểu lầm đó thôi.
“Lại như trong kinh Pháp hoa, Phật dạy: “Kinh này mở cánh cửa phương tiện, chỉ rõ tướng chân thật.” Kinh Pháp
_______________________________________
(1) Nhan tử: tức Nhan Hồi, cũng gọi là Nhan Uyên.
(2) Sách Mạnh tử, quyển 2, chương Công Tôn Sửu (thượng) nói: “... Các ông Tử Du, Tử Hạ, Tử Trương đều có một phần đức hạnh của bậc thánh; các ông Nhiễm Ngưu, Mẫn Tử, Nhan Uyên có đủ các đức hạnh của bậc thánh, chỉ là kém hơn.” (子夏,子游,子張皆有聖人之一體。冉牛,閔子,顏淵則具體而微。- Tử Hạ, Tử Du, Tử Trương giai hữu thánh nhân chi nhất thể, Nhiễm Ngưu, Mẫn Tử, Nhan Uyên tắc cụ thể nhi vi.) Nguyên bản Hán văn chỉ nói Nhan tử “hiệu vi cụ thể” (號爲具體), chính là chỉ đến ý nghĩa đoạn này.
(3) Trong sách Luận ngữ, quyển 5, chương 9, tiết 10, ông Nhan Uyên khen rằng: “Đạo của thầy ta càng trông lên thì thấy càng cao, càng dùi vào thì càng biết là kiên cố, mới nhìn thấy trước mặt, bỗng hiện lại sau lưng...”
(4) Sách Luận ngữ, chương 7, tiết 23: “Nhị tam tử, dĩ ngã vi ẩn hồ? Ngô vô ẩn hồ nhĩ! Ngô vô hành nhi bất dữ nhị tam tử giả. Thị Khâu dã. (二三子以我為隱乎?吾無隱乎爾!吾無行而不與二三子者,是丘也。) “Các ông cho rằng ta có chỗ che giấu ư? Ta không che giấu điều chi cả. Ta không làm điều gì mà không cho các ông biết. Khâu này là như vậy.”

* Trang 1049 *
device

hoa  này  hàm  chứa  sự  sâu  xa,  kiên  cố  và  ẩn  mật,  huyền nhiệm, không ai có thể thấu triệt nổi. Vì sao vậy? Pháp này không thể dùng sự suy lường phân biệt mà hiểu được. Hết thảy Thanh văn, Duyên giác đều không hiểu nổi, cho đến tất cả các vị đại Bồ Tát cũng không hiểu nổi. Chỉ riêng Phật với Phật mới có thể cứu xét đến cùng pháp ấy.
“Than ôi! Các vị hiền thánh trong ba thừa(1) còn không thể suy lường trí Phật, huống chi phàm phu lại có thể xét lường được sao? Lấy cái tình thức của người phàm mà suy lường trí Phật, khác nào dùng chút lửa đom đóm mà đốt núi Tudi! Thật không chút ảnh hưởng gì, chỉ uổng công khó nhọc. Nào biết rằng Pháp thân chân thật của Phật dường như hư không, ứng theo vật mà hiện ra hình như trăng dưới nước, khi rộng thì bao trùm cả pháp giới, khi hẹp thì nhỏ như hạt cải cũng khó lọt vào, khi dùng đến thì cả pháp giới đều hiện rõ, khi buông bỏ thì một hạt bụi cũng chẳng thành, cho đến nỗi hư không nát nghiền, cõi đất san bằng, chìm mất, chúng ma ngoại đạo kinh hồn, khắp hàng trời người khiếp sợ. Chỗ rốt ráo của đạo là như thế, có thể dùng văn tự, ngôn ngữ mà suy lường được sao?
“Kinh  Hoa  nghiêm  có  ý  chính  rằng:  ‘Chỗ  rộng  lớn  của pháp giới, hư không chẳng sánh bằng. Chỗ mầu nhiệm chân thật duy nhất, dù ngàn vị thánh ra công cũng không theo kịp. Chính là chỗ dùng, cũng lìa khỏi chỗ dùng,(2)
________________________________________
(1) Ba thừa: Thanh văn thừa, Duyên giác thừa và Bồ Tát thừa. Các vị tu tập theo Thanh văn thừa chứng từ sơ quả (quả vị thấp nhất) Tu-đà-hoàn trở lên đều được tôn xưng là bậc thánh.
(2) Ngài Bách Trượng đến tham học với Mã Tổ. Tổ đưa tay chỉ cây phất trần dựng cạnh giường. Bách Trượng nói: ‘Chính là chỗ dùng, cũng lìa khỏi chỗ dùng.’ Tổ nói: ‘Ông ngày sau bóc mở vài miếng da, lấy ai là người?’ Bách Trượng cầm cây phất trần dựng lên. Tổ nói: “Chính là chỗ dùng, cũng lìa khỏi chỗ dùng.’ Bách

* Trang 1050 *
device

phấn chấn như cọp ra oai;(1) chỗ sáng đến, chỗ tối đến,(2) mạnh mẽ như uy thế con trâu sắt;(3)  ném cả thế giới Đại thiên ra ngoài tám hướng cũng không ngay không lệch; ép núi Tu-di vào trong một hạt cải cũng không chèn ép, chật hẹp.
“Bảo đó là không, sao riêng có sự chân thật hiển bày; còn bảo là có, thì dù một dấu tích nhỏ nhiệm cũng không tồn tại. Hàng Thanh văn, Duyên giác không thể thấy được bờ bến; cho đến hàng Bồ Tát từ Sơ địa trở lên(4)cũng chưa hiểu rõ hết chỗ viên dung. Chỉ có bậc căn cơ cao tột mới đốn ngộ tức thời, còn hạng căn khí nhỏ nhoi ắt phải tu tập trải qua nhiều đời nhiều kiếp.
“Như vậy, kẻ phàm tục ngu si, thấy biết nông cạn, lẽ nào có thể xét lường được sao?
_____________________________________________
Trượng treo cây phất trần lên chỗ cũ. Mã Tổ liền hét lớn. Bách Trượng nhân đó đại ngộ, nhưng vì tiếng hét lớn quá nên tai điếc đến ba ngày.
(1)Hoàng Bá đến tham vấn Bách Trượng, Tổ hỏi: “Ở đâu đến đây?” Hoàng Bá đáp: “Từ núi Đại Hùng.” Bách Trượng hỏi: “Ở núi Đại Hùng, có thấy con cọp lớn không?” Hoàng Bá bèn giả làm tư thế con cọp. Bách Tượng cầm cây búa, giả thế như chém cọp. Hoàng Bá liền tát trúng Bách Trượng một cái. Bách Tượng cười ha hả, hôm sau thăng đường nói với đại chúng: “Núi Đại hùng có một con cọp lớn, lão tăng vừa bị nó vả một phát.”
(2)Sách Ngũ đăng hội nguyên, quyển 4, kể chuyện hòa thượng Phổ Hóa thường rung một cái chuông nhỏ rồi nói: “Sáng đến thì đánh chỗ sáng, tối đến thì đánh chỗ tối, bốn phương tám hướng đến thì đánh như gió xoáy, hư không đến thì đánh không dừng nghỉ.” (明頭來,明頭打。暗頭來,暗頭打。四方八面來,旋風打。虛空來, 連架打。- Minh đầu lai, minh đầu đả. Ám đầu lai, ám đầu đả. Tứ phương bát diện lai, toàn phong đả. Hư không lai, liên giá đả.)
(3)Uy thế con trâu sắt (thiết ngưu chi thế): dựa theo ý trong một bài kệ của cư sĩ Bàng Uẩn, nói rằng chỉ có con trâu bằng sắt là không sợ tiếng gầm của loài sư tử. Ý nói sự dũng mãnh không còn biết sợ là gì.
(4)Nguyên bản Hán văn dùng “đăng địa Bồ Tát”. Hàng Bồ Tát tu tập lần lượt trải qua 52 địa vị, từ thấp đến cao gồm có: Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa, Đẳng giác và Diệu giác. Từ khi chứng đắc Sơ địa trong Thập địa thì gọi là Bồ Tát đăng địa.

* Trang 1051 *
device

“Kinh Kim Cang dạy rằng:
Nếu dùng sắc thấy Ta,
Dùng âm thanh cầu Ta.
Là người hành tà đạo,
Chẳng thể thấy Như Lai.
“Lại nói: ‘Không một pháp nào có thể thuyết, đó gọi là thuyết pháp... Chẳng chấp giữ nơi tướng, như như chẳng động.’
“Lão giáo nói: ‘Nhìn không thể thấy, nghe chẳng thể nghe, lìa khỏi mọi giới hạn, đó gọi là diệu đạo.’ Lại nói: ‘Đạo khó giảng nói, phải tự chứng ngộ. Pháp có thể truyền, nhưng đạo không thể truyền.’
“Nho giáo nói: ‘Thấy không dùng mắt, nghe chẳng dùng tai, lìa bỏ chỗ dùng của mắt và tai tự nhiên đạt được tánh.’ Lại nói: ‘Đạo vốn không lời. Khởi nên lời nói thì chân lý tiêu mất. Nếu dùng âm thanh, hình sắc để giáo hóa dân thì đó chỉ là việc ở ngọn mà thôi.’
“Xét thật sâu xa chỗ rốt ráo của đạo trong Tam giáo, đều không do nơi sự truyền dạy bằng văn tự. Trang tử nói: ‘Ví như đạo có thể truyền được, sao người ta lại không truyền cho con cháu? Ví như đạo mà dâng hiến được, sao người ta lại không dâng hiến cho những người mình tôn kính?’Sở dĩ đạo không thể truyền, không thể dâng hiến, chỉ là vì khi bên trong chưa làm chủ được tâm thì bên ngoài thật không có gì để chứng đắc.
“Lại kể chuyện rằng: ‘Phu tử(1) muốn gặp Ôn Bá Tuyết tử đã lâu. Đến khi gặp rồi, lặng thinh không nói lời nào.
_______________________________________
(1) Phu tử: tức Khổng tử.

* Trang 1052 *
device

Khi ra về, Tử Lộ lấy làm lạ hỏi rằng: ‘Thầy muốn gặp Ôn Bá Tuyết tử  đã  lâu,  nay  sao  lại  không  nói  lời  nào?’  Khổng  tử  đáp: ‘Người ấy chỉ cần được tận mắt nhìn thấy thì còn có đạo, không thể chấp nhận lời nói, ngôn ngữ.’
“Nên biết rằng đạo của Phu tử thật là vượt khỏi ngôn ngữ, không giống như người đời nay chỉ giỏi văn tự mà không tu đạo đức, chỉ đặt nặng danh vị với con người mà không tu lấy sự cao quý theo đạo trời.
“Sách Luận ngữviết: ‘Trời nói gì đâu? Bốn mùa chuyển vận, trăm vật sanh sôi. Trời có nói gì đâu?’(1) Lại nói: ‘Văn chương của đức Phu tử có thể được nghe, còn lời Phu tử nói về bản tánh cùng với thiên đạo thì không thể được nghe.”(2) Lại nói: ‘Đức hạnh là cội gốc, văn nghệ là ngọn.”
“Trong sách Thông thưcủa Chu tử(3) có nói: ‘Không chuyên đạo đức mà giỏi văn từ, đó chỉ là cái nghề mà thôi.’ Thuở xưa, Tề Hoàn Công đọc sách nơi thư phòng, có người thợ làm bánh xe bảo rằng: ‘Ngài đọc sách đó chỉ là cặn bã của cổ nhân, không thể có được cái mùi vị chân thật thuần khiết.’
“Ngài Đạt-ma từ Ấn Độ sang đây, không lập thành văn tự, riêng truyền ngoài giáo điển, chỉ thẳng nơi tâm người,
_______________________________________________________
 (1) Đây dẫn lời đức Khổng tử ghi trong Luận ngữ, chương Dương hóa thứ 17. Nguyên văn của tiết 18 này là như sau:子曰:予欲無言!子貢曰:子如不言,則小子何述焉?子曰:天何言哉?四時行焉,百物生焉,天何言哉?(Tử viết: Dư dục vô ngôn! Tử Cống viết: Tử như bất ngôn, tiểu tử hà thuật yên? Tử viết: Thiên hà ngôn tai? Tứ thời hành yên, bách vật sanh yên. Thiên hà ngôn tai? - Khổng tử nói: Ta muốn không nói. Tử Cống thưa: Nếu Thầy không nói, chúng con biết học theo như thế nào? Khổng tử nói: Trời nói gì đâu? Bốn mùa chuyển vận, trăm vật sanh sôi. Trời có nói gì đâu?)
(2) Đây dẫn lời Tử Cống trong Luận ngữ, chương 5, tiết 12.
(3) Chu tử: tức Chu Liêm Khê.

* Trang 1053 *
device

thấy tánh thành Phật, nào có câu nệ nơi văn tự, ngôn ngữ?
“Từ trước các bậc thánh trong Tam giáo vốn là không nói, không thuyết, chỉ vì người đời sau mê mờ chân trí nên bất đắc dĩ mới khai mở ra giáo môn để dạy người hậu thế. Tiếc thay, người đời sau lại chẳng làm theo, như vậy là lỗi của ai?
“Hòa thượng Phật Nhãn Viễn nói: ‘Người học không nên câu nệ ở văn tự, ngôn ngữ. Hết thảy văn tự, ngôn ngữ đều là dựa theo người khác mà hiểu nên làm chướng ngại sự tỏ ngộ của chính mình, khiến cho không thể thoát ra khỏi cái giới hạn biểu đạt của ngôn từ.’
“Ngày trước, lần đầu ông Đạt Quan Húc gặp hòa thượng Thạch  Môn  Thông,  chỉ  muốn  tranh  tài  biện  luận.  Hòa thượng nói: ‘Những điều ông nói đều chỉ là lời ghi chép trên giấy, đều chưa đạt tới chỗ uyên áo rốt cùng, cần phải có sự tham cứu cho đến chỗ chân thật chứng ngộ. Đạt ngộ rồi thì siêu việt sừng sững giữa trời, chẳng dựa theo lời nói, chẳng trói buộc nơi câu chữ, như sư tử chúa gầm rống, các loài thú đều khiếp sợ, quay nhìn lại cái học văn tự khác nào như lấy hàng chục so với hàng trăm, lấy hàng ngàn so với hàng vạn.
“Này  các  vị!  Huống  chi,  nguồn  đạo  vốn  chẳng  xa,  biển tánh thật không ngăn cách, chỉ cần quay lại cầu nơi chính mình, đừng chạy theo người khác mà tìm; dù tìm cũng không có được, dù được cũng không phải chân thật. Người có thể làm cho đạo rộng truyền, đạo không thể làm cho người phát triển. Kinh Dịch nói: ‘Trăm họ thường dùng hằng ngày mà không biết, thật đáng thương thay!’

* Trang 1054 *
device

“Than ôi! Ngay trong đời này nếu không liễu ngộ, ắt phải mãi mãi chìm trong luân hồi. ‘Sáng được nghe đạo, chiều chết cũng vui.’(1)
“Khổng tử dạy rằng: ‘Muốn học chỗ rốt ráo của đạo, phải dứt mọi niệm tưởng từ khi còn chưa chớm, trị tâm ý khi chưa sanh khởi... Đừng cho rằng giấu kín thì không thấy, việc nhỏ thì không bày rõ.’ Đó chính là làm cho tâm ý chân thành, không tự dối mình.
“Lão tử nói: ‘Muốn được chỗ rốt ráo của đạo, phải lìa bỏ sự thấy, nghe, nhận biết; quên tâm, quên cảnh, cho đến quên cả  cái  quên.  Quên  được  điều  không  thể  quên  mới  thật  là quên.’
“Đức Phật Thích-ca dạy rằng: ‘Muốn vào được chỗ rốt ráo của đạo, phải lìa bỏ hết mọi sự tạo tác, dừng nghỉ, nhận lấy, diệt bỏ. Nếu nói có chỗ giác ngộ tức là chưa lìa khỏi huyễn ảo. Ngay cả sự lìa khỏi huyễn ảo cũng lìa bỏ đi. Một mà ba, ba mà một, đó là đạo vậy.’
“Đạo Nho dạy: ‘Không giữ ý riêng, không định thời hạn, không cố chấp điều đã biết, không lo cho riêng mình.’ Đạo Lão dạy: ‘Không hình tướng, không tên gọi, không có người làm, không có việc được làm.’ Nhà Phật nói: ‘Không có tự ngã, không có người khác, không oán ghét, không luyến ái.’ Cho nên, thánh nhân trong Tam giáo đều không vượt qua một lý đạo ấy.
“Khổng tử nói: ‘Ta biết được gì chăng? Ta không biết chi cả.’
Kinh Lăng Nghiêm nói: ‘Thấy biết mà cho là biết, tức là gốc của vô minh. Thấy biết mà không thấy biết, đó tức là Niết-bàn.’
_______________________________________
(1)Đây trích lời đức Khổng tử: “Triêu văn đạo tịch tử khả hỹ.”

* Trang 1055 *
device

“Kệ Bát-nhã rằng:  ‘Bát-nhã không  biết  nhưng  không việc gì không biết; Bát-nhãkhông thấy nhưng không việc gì không thấy.
“Ngài Không Sanh(1) lấy sự không nói để nói, Thiên đế(2) lấy sự không nghe để nghe. Đó là đạo nhiệm mầu của Bát-nhã chân thật.
“Liệt tử nói: ‘Cho nên, bậc thánh nhân công cao như trời đất mà chẳng nhân; sáng tỏ như mặt trời, mặt trăng mà thường tối. Chẳng nhân là thi ân mà không mong sự báo đáp; thường tối là chiếu sáng một cách vô tâm. Không làm mà trị yên cũng là nghĩa ấy.’
“Khổng tử dạy người ‘làm tỏ rạng đức tánh sẵn có, làm cho dân ngày càng mới mẻ, đạt đến mức chí thiện”. Nếu xét theo lẽ ấy mà làm thì có thể được như Khổng tử.
“Lão tử dạy người ‘lấy đức chân thành mà vào, lấy sự lặng lẽ mà giữ, lấy sự nhu thuận mà dùng’. Nếu xét theo lẽ ấy mà làm thì có thể được như Lão tử.
“Đạo Phật dạy người ‘thi hành rộng rãi từ, bi, nguyện, lực.’ Đại từ là mang điều vui đến cho tất cả chúng sanh.
___________________________________________
(1) Không Sanh: tức ngài Tu-bồ-đề (Subhūti), dịch nghĩa là Thiện Hiện, Thiện Cát, Thiện Nghiệp... Ngài là một trong 10 vị đại đệ tử của Phật, được Phật khen ngợi là Giải không đệ nhất(người hiểu rõ nhất về nghĩa không) trong các đệ tử hàng Thanh văn.
(2) Thiên đế (Sanskrit: Indra), hay Thiên Đế thích, tên là Thích-đề-hoàn-nhân (釋提桓因), dịch nghĩa là Năng thiên chủ, là vị vua ở cõi trời Đao-lỵ, gồm 33 cảnh trời (Tam thập tam thiên三十三天; Sanskrit: trāyas-triṃśa).

* Trang 1056 *
device

Đại bi là cứu vớt khổ đau cho tất cả chúng sanh. Đại nguyện là nguyện cho tất cả chúng sanh đều thành Chánh giác. Đại lực là độ cho hết thảy chúng sanh đều ra khỏi Ba cõi.”(1) Nếu xét theo lẽ ấy mà làm thì có thể thành Phật.
“Chỗ rốt ráo của đạo ví như vầng trăng thu lướt giữa trời cao rộng, như đám mây bồng bềnh vừa thoát khỏi khe núi, hoát nhiên tự tại, linh hoạt sanh động, tròn vành vạnh, sáng rỡ rỡ, đã nhiệm mầu lại càng thêm mầu nhiệm.
“Nay tôi đã nói sơ qua chỗ rốt ráo của đạo trong Tam giáo để ông được biết. Nếu nói về lý nhiệm mầu thì dù trọn kiếp cũng không nói hết.
“Ôi! Thánh nhân luống phí tâm từ bi, kẻ hiểu nhau đâu cần phải nói nhiều. Tôi khuyên mọi người hãy cùng nhau phát khởi tâm Bồ-đề, cùng tu theo đạo Phật, cùng sanh về cõi Phật, cùng thành tựu quả Phật.”
Khách cúi đầu bái biệt, thưa rằng: “Tôi xin tin nhận và kính cẩn làm theo.”
_____________________________________________
(1)Ba cõi (Tam giới): tức Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Tất cả chúng sanh trong vòng luân hồi không ra ngoài ba cõi này, nên nói ‘ra khỏi ba cõi’ cũng đồng nghĩa như nói ‘thoát khỏi luân hồi’.

* Trang 1057 *
device

 
Quy Nguyên Trực Chỉ