LOGO VNBET
盡其神智莫能測。
大聖法王宣妙法,
濟度一切脫沈淪。
若有受持揚說者,
眞是菩提殊勝友。
佛說此經以,爾時菩薩,聲聞,天龍八部咸皆歡悅,信受奉行。
17. Các kinh hướng về Tịnh độ(1)

Các kinh dạy về Tịnh độ nhiều như số cát sông Hằng, nay chỉ lược nói ra đây một số để phá bỏ lòng nghi.
Trong kinh Đại Vô Lượng Thọ,(2) đức Phật bảo ngài Di-lặcrằng: Ở thế giới Ta-bàcó bảy trăm hai mươi ức Bồ Tát ở địa vị không còn thối chuyển sanh về thế giới Cực Lạc. Số Bồ Tát ở địa vị thấp hơn thì nhiều không kể xiết, cũng đều được vãng sanh. Không riêng gì thế giới Ta-bà này, cho đến các thế giới trong khắp mười phương cũng có vô
____________________________________
(1) Bài trước nói việc chư Tổ chỉ dạy đường về Tịnh độ. Tiếp theo, bài này giảng thêm rằng các kinh cũng thường dạy về Tịnh độ của đức Phật A-di-đà, khuyên người phát nguyện sanh về nơi đó.
(2) Đại Vô Lượng Thọ Kinh: Tức kinh Vô Lượng Thọ,nhưng thường gọi là Đại Vô Lượng Thọ để phân biệt với kinh A-di-đà. Cả 2 bản kinh này đều dạy về đức Phật A-di-đàvà nguyện lực tiếp dẫn của ngài, nhưng kinh A-di-đàngắn hơn nhiều so với kinh Vô Lượng Thọ, nên gọi là Đại Vô Lượng Thọ để phân biệt.

* Trang 312 *
device

Tận kỳ thần trí mạc năng trắc.
Đại thánh Pháp Vương tuyên diệu pháp,
Tế độ nhất thiết thoát trầm luân.
Nhược hữu thọ trì dương thuyết giả,
Chân thị Bồ-đề thù thắng hữu.
Phật thuyết thử kinh dĩ, nhĩ thời Bồ Tát, Thanh văn, thiên long bát bộ hàm giai hoan duyệt tín thọ phụng hành.
số các vị Đại Bồ Tát đều niệm Phật A-di-đà, phát nguyện vãng sanh về cõi Phật ấy.
Kinh A-di-đàdạy rằng, nếu những kẻ nam, người nữ có lòng lành, nghe giảng nói về Phật A-di-đà, bèn chuyên tâm niệm danh hiệu ngài. Nhờ niệm danh hiệu Phật nên các tội nghiệp đều diệt hết. Người ấy khi lâm chung liền được sanh về cõi Cực Lạc của đức Phật A-di-đà.
Cũng trong kinh A-di-đà, đức Phật Thích-cadạy rằng: Hết  thảy  các  ông  đều  nên  tin  theo  lời  dạy  của  ta  và  chư Phật. Những chúng sanh nào được nghe pháp này, nên phát nguyện sanh về thế giới của đức Phật A-di-đà.
Kinh Thập lục quán(1)dạy rằng: Nếu kẻ nam, người nữ có lòng lành, chỉ cần nghe danh hiệu Phật và hai vị Bồ Tát(2) đã có thể trừ dứt được tội nghiệp trong vô số kiếp
______________________________________
(1) Tức kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật.
(2) Chỉ đức Phật A-di-đàvà 2 vị Bồ Tát là Quán Thế Âm, Đại Thế Chí.

* Trang 313 *
device

sanh tử, huống chi là nhớ tưởng, thường niệm. Niệm một câu Nam mô A-di-đàPhật có thể trừ được những tội nặng trong tám mươi ức kiếp sanh tử. Nếu có người niệm Phật thì nên biết rằng người ấy là đóa hoa phân-đà-lỵ(1) trong cõi người, là bạn tốt của các vị Bồ Tát Quán Thế Âm và Đại Thế Chí.
Kinh Diệu pháp Liên hoa, phẩm Dược vương Bồ Tát Bổn sự dạy rằng: Người nào nghe được kinh này, theo như lời dạy mà tu hành, đến khi mạng chung liền đến cõi thế giới An Lạc của Phật A-di-đà, hóa sanh trong hoa sen, ngồi trên tòa báu, có các vị Đại Bồ Tát vây quanh. Người ấy chẳng còn bị các tâm tham lam, sân hận, ngu si làm cho khổ não, cũng không còn bị những sự xấu xa của lòng tự cao, ngã mạn, ganh ghét, đố kỵ làm cho khổ não, đạt được các phép thần thông của hàng Bồ Tát và chứng đắc Vô sanh Pháp nhẫn.(2)
Luận Đại trí độdạy rằng: Đức Phật là bậc Pháp vương cao cả nhất, chư Đại Bồ Tát là những bề tôi trong Chánh pháp của ngài. Những bề tôi này chỉ tôn trọng duy nhất bậc Pháp vương là đức Phật mà thôi. Có những vị Bồ Tát tự nhớ lại thuở xưa, vì chê bai pháp Bát-nhãnên đọa vào các đường ác, chịu vô số nỗi khổ. Lại trải qua vô số kiếp tu tập các hạnh khác (3) nhưng cũng không thể thoát khỏi biển khổ. Sau nhờ gặp bậc thiện tri thức dạy cho pháp
_____________________________________
(1) Phân-đà-lỵ: tức là loại hoa sen màu trắng rất ít có, nên cũng gọi là hoa hy hữu(hoa ít có). Lại vì hoa ấy rất lớn, rất thơm, có cả trăm cánh nên cũng gọi là hoa bách diệp.
(2) Vô sanh Pháp nhẫn: Pháp nhẫn nhục của hàng Bồ Tát do chứng đắc được lý vô sanh, không thấy có các hữu tình gây hại cho mình. Bồ Tát chứng đắc pháp nhẫn này thì tâm bình đẳng không phân biệt đối với tất cả chúng sanh.
(3) Nghĩa là ngoài pháp môn niệm Phật.

* Trang 314 *
device

niệm Phật A-di-đà, liền được dứt trừ tội chướng, sanh về Tịnh độ.
Nay ta nên lễ tạ đức Phật A-di-đà. Vì sao vậy? Vì tất cả cha mẹ, thân quyến, bạn bè, cho đến các bậc vua chúa trong cõi trời, người cũng không ai có thể cứu độ ta thoát khỏi biển khổ. Chỉ có đức Phật A-di-đàdùng nguyện lực mà tiếp nhận, nhờ đó ta mới được thoát khỏi biển khổ.
Nên có kệ rằng:
Nếu ai muốn thành Phật,
Hãy niệm A-di-đà,
Ngay đời này toại nguyện,
Nên cúi đầu kính lễ.
Lại cũng dạy rằng: “Thời Phật còn tại thế, có một ông già xin xuất gia, ngài Xá-lỵ-phấtkhông thuận cho. Đức Phật quán xét thấy người ấy trong kiếp trước khi đi kiếm củi trên rừng bị cọp đuổi, chạy leo lên cây, sợ quá nên niệm Nam-mô Phậtkhông thành tiếng. Nhờ việc lành nhỏ nhoi ấy mà sau được gặp Phật, được cứu độ và đắc quả A-la-hán. Ôi! Chỉ một lần xưng danh hiệu Phật mà còn được giải thoát, huống chi là trọn đời niệm Phật?
Sách Liên tông bảo giám chép rằng: Trong vô số đức Như Lai nhiều như cát sông Hằng, đức A-di-đàlà bậc nhất; trong vô số cõi Phật mười phương nhiều như số hạt bụi nhỏ, cõi Cực Lạc là nơi hướng về. Vững tin vào cõi Cực Lạc là pháp môn giải thoát chân chánh, nhiệm mầu; xét kỹ về đức A-di-đàthật là bậc cha lành của tất cả chúng sanh. Vì thế, một niệm khởi lên mà thần linh đều biết, lòng tin sanh ra mà chư Phật đều hiện. Vừa xưng niệm

* Trang 315 *
device

danh niệm là đã gieo hạt giống vào thai trong hoa sen;(1) một khi phát tâmbồ-đềlà đã nêu tên nơi cõi đất vàng.(2)
Nhờ  có  duyên  lành  mới  được  gặp,  tự  mình  hiểu  ra,  tự mình tu tập. Những ai lòng tin cạn cợt không thể tin nhận pháp này, thật rất ngu si, lầm lạc; chỉ biết than vãn rằng gặp thời mạt pháp, quá nhiều những cách hiểu sai lầm, tà vạy, chê bỏ pháp Tịnh nghiệp, cho đó là phép quyền biến tạm dùng, khinh rẻ sự trì tụng, cho đó là việc làm thô thiển. Như vậy há chẳng phải là chìm đắm trong căn nhà đang bốc cháy, (3) tự mình cam chịu mãi mãi trôi lăn; làm trái lời Phật dạy, phải chịu khổ đau mà uổng phí mất một đời đó sao?
Hãy tin rằng: nếu không nương nhờ sức Phật,(4) không thể dứt trừ nghiệp lực; không gặp được pháp môn này,(5) không có đường nào vượt thoát khỏi sanh tử. Cho nên những kẻ khinh rẻ, chê bỏ pháp môn này là tự khinh rẻ, chê bỏ chính bản thân mình. Những việc sai lầm rất dễ huân tập, giáo pháp chân chánh rất khó được nghe. Vì thế phải trôi lăn mãi mãi trong ba đường ác, nhiều kiếp không thể thoát ra!
Sách Tịnh độ cảnh quán yếu môn dạy rằng: Pháp môn Tịnh độ chính là con đường thoát ra khỏi sanh tử của
____________________________________
(1) Thai trong hoa sen: người vãng sanh về cõi Cực Lạc không sanh ra từ bào thai trong bụng mẹ mà sanh từ hoa sen, nên gọi là thai trong hoa sen (liên thai).
(2) Cõi đất vàng: chỉ cõi thế giới Cực Lạc, vì Phật dạy rằng cõi ấy đất đai bằng vàng ròng, nên gọi là cõi đất vàng
(3) Căn nhà đang bốc cháy: Lấy ý trong kinh Pháp hoa, Phật dạy rằng ba cõi như căn nhà đang bốc cháy (Tam giới như hỏa trạch), ý nói đến sự khẩn thiết phải tu hành thoát ly sanh tử.
(4) Nguyên văn dùng tha lực, chỉ sức hộ trì, nhiếp thọ của đức Phật A-di-đà.
(5) Tức pháp môn niệm Phật.

* Trang 316 *
device

chúng sanh thời mạt pháp, là con thuyền vững vàng để vượt qua biển khổ. Một khi được sanh về Cực Lạc thì mãi mãi không còn thối chuyển, được thân màu vàng ròng, bay đi tự tại, việc ăn mặc tự nhiên có đủ, được thấy Phật, nghe pháp, mau chóng chứng đắc Thánh quả.
Ở đó không có bị quấy rối bởi cọp, sói, sư tử, muỗi, ruồi, sâu bọ; không bị khổ vì sấm sét, gió mưa, lạnh, nóng, đói, khát. Hóa sanh từ hoa sen, tuổi thọ vô lượng. Không có mọi nỗi khổ sanh, già, bệnh, chết, nên gọi là thế giới Cực lạc.
Cho nên, đức Thích-caNhư Lai vì muốn chúng sanh mê muội ở cõi này được thoát khổ mới chỉ bày pháp môn đối trị. Đức cha lành A-di-đàlại chỉ cho con đường tiếp dẫn. Vì thế mới khổ công mỏi miệng ngợi khen nghiêng về Tịnh độ, rộng khuyên mọi người phát nguyện vãng sanh, nguyên do là như thế.
Vì thế, các bậc hiền thánh, kẻ tăng người tục, nhờ niệm Phật mà được vãng sanh số nhiều không kể xiết. Chỉ vì kẻ phàm phu hèn kém, đắm say vướng mắc nơi trần tục, chẳng cầu  ra  khỏi,  cam  chịu  trôi  giạt  trong  sanh  tử,  thật  đáng thương lắm thay!
Sách An Lạc tập dạy rằng: Nếu có thể niệm Phật A-di-đàthì dứt hết nghiệp chướng, sanh về Tịnh độ. Vì sao vậy? Ví như có người dùng gân con sư tử làm dây đàn, tiếng đàn ấy vừa khảy lên thì âm thanh của những cây đàn khác đều phải dứt. Nếu người phát tâm Bồ-đề, thường niệm Phật A-di-đàthì hết thảy nghiệp chướng phiền não nặng nề đều phải dứt.

* Trang 317 *
device

Lại cũng như có người dùng các loại sữa bò, sữa dê, sữa lừa, sữa ngựa cho vào trong một cái chén. Nếu lại cho vào đó chỉ một giọt sữa sư tử thì các loại sữa kia đều hóa thành nước lã.
Nếu có ai phát tâm Bồ-đề, thường niệm Phật A-di-đàthì hết thảy những ma chướng xấu ác đều tự nhiên tiêu diệt, được sanh về Tịnh độ.
Trong luận Quyết nghidạy rằng: Thân người khó được, Tịnh độ dễ sanh về. Vì sao vậy? Nếu không giữ được năm giới thì không thể sanh trong hai cõi trời, người. Năm giới có giữ gìn trong sạch mới được sanh ra làm người. Nhưng năm giới thật khó giữ trọn, lại không có nguyện lực dắt dẫn, cho nên nói rằng thân người khó được.
Người tu pháp Tịnh độ, chưa nói đến việc giữ giới có được trọn vẹn hay không, chỉ cần niệm danh hiệu đức Phật A-di-đàthì dù đang mang tội nghiệp cũng có thể sám hối. Đến khi lâm chung, đức Phật A-di-đàcùng các vị Quán Âm, Thế Chí và vô số thánh chúng đều có nguyện lực nên cùng hiện đến tiếp độ, dẫn dắt, cho nên nói rằng Tịnh độ dễ sanh về.
Trong Tịnh  hạnh  Pháp  môn dạy  rằng:  Sám  hối  cũng giống như siêng lau chùi tấm gương cũ, dần dần làm sạch đi những bụi bặm bám từ lâu ngày. Niệm Phật cũng giống như may mắn gặp được bậc vua hiền, tức thời được ra tay cứu vớt. Suốt bốn mùa xuân, hạ, thu, đông, trong những lúc đi, đứng, nằm, ngồi, thường nghĩ về cảnh Tịnh độ trang nghiêm,  thường  nhớ  tưởng  đức  Phật A-di-đà.  Niệm  Phật được như vậy thì tức thời được pháp Tam-muội, việc sanh về Tịnh độ chẳng cần phải nghi ngờ gì nữa.
Kinh Đại Tập Nguyệt Tạngdạy rằng: Thời mạt pháp, vô số chúng sanh thực hành tu tập, chưa chắc đã có được

* Trang 318 *
device

một người thành tựu. Đó đều do nơi cõi đời xấu ác có đủ năm sự uế trược, việc học hỏi lẫn lộn khó thành. Chỉ riêng một pháp niệm Phật là có thể khai thông đường vào. Nên biết rằng, việc tự mình làm thật khó trọn vẹn, nhờ sức hỗ trợ bên ngoài thì dễ thành tựu. Ví như kẻ hèn kém nhưng nhờ sức của bậc Luân vương(1) mà có thể bay lên chơi ở bốn cõi trời, như kẻ phàm tục nhờ có liều thuốc tiên mà đến được miền Tam đảo.(2) Như vậy thật là đạo dễ thực hành mà mau chóng được thành tựu. Lời lành đã chỉ bày tỏ rõ, nên hết lòng khắc sâu trong xương thịt.
Luận Bảo vương(3) dạy rằng: Người tắm trong biển cả là đã dùng nước của trăm sông; người trì niệm danh hiệu Phật ắt phải thành tựu Tam-muội. Ví như hạt châu quý có thể làm nước lắng trong, khi thả vào trong nước đục, nước ấy không thể không lắng trong. Cũng vậy, tiếng niệm Phật gieo vào tâm tán loạn, tâm ấy không thể không có Phật.
Kinh Đại phẩmdạy rằng: Nếu người niệm Phật mà tâm tán loạn cũng được thoát khổ, được phước không cùng. Huống chi là những người niệm Phật với tâm an định, trên đạt mức nhất tâm bất loạn,(4) dưới cũng được thập niệm thành công.(5)
______________________________
(1) Luân vương: tức Chuyển luân Thánh vương, vị vua có nhiều thần lực nhờ vào phước báu tích tụ nhiều đời.
(2) Tam đảo: Ba hòn đảo của các vị thần tiên, theo niềm tin của Đạo giáo, đó là đảo Bồng Lai, đảo Phương Trượng và đảo Doanh Châu.
(3) Luận Bảo vương: tức luận Bảo vương Tam-muội.
(4) Nhất tâm bất loạn: tâm chuyên nhất không còn bất cứ tạp niệm nào, không bị tán loạn, chỉ chú tâm duy nhất vào việc niệm Phật.
(5) Thập niệm thành công: cũng gọi là thập niệm thành tựuhay thập niệm nghiệp thành, chỉ trường hợp niệm Phật với tâm tương tục, niệm nối tiếp niệm, không xen tạp, không rối loạn, nhờ đó mà vừa đủ mười niệm đã được vãng sanh, xem như thành tựu sự nghiệp tu tập.

* Trang 319 *
device

Kinh Pháp hoa dạy rằng:
Dù cho tâm tán loạn.
Bước vào nơi tháp miếu.
Xưng niệm một hiệu Phật.
Đều đã thành Phật đạo.
Lại cũng dạy rằng:
Phật hiệu vang mười phương.
Lợi ích khắp chúng sanh.
Trọn đủ mọi căn lành.
Tâm bồ-đề thêm lớn.
Kinh Hoa nghiêmdạy rằng:
Trong tất cả oai nghi,(1)
Thường niệm công đức Phật.
Ngày đêm không tạm dứt.
Việc như thế nên làm.
Lại cũng dạy rằng:
Thà chịu khổ địa ngục.
Được nghe danh hiệu Phật;
Còn hơn muôn cảnh vui.
Không nghe danh hiệu Phật.
Kinh Bảo Tíchdạy rằng: Chúng sanh ở các phương khác được nghe danh hiệu đức Phật A-di-đà, chỉ cần có thể sanh khởi một niềm tin trong sạch, vui vẻ, ưa muốn, có bao nhiêu việc lành đã làm đều hồi hướng phát nguyện
_________________________________
(1) Oai nghi: chỉ chung mọi hành vi, cử động của người tu tập, bao gồm cả những việc đi, đứng, nằm, ngồi. Vì mỗi mỗi đều tuân theo giới luật nên tạo thành oai nghi, khiến người khác kính phục.

* Trang 320 *
device

sanh về cõi Phật A-di-đà, liền được theo đúng ý nguyện mà vãng sanh, đạt địa vị không còn thối chuyển, thẳng dần lên quả vị Phật.
Trong kinh Đại A-di-đà, phần Văn pháp nhân duyên,(1) Phật  dạy  rằng:  Người  thế  gian  được  nghe  danh  hiệu  đức Phật A-di-đà, nếu khởi lòng từ mà vui mừng, cho đến tâm ý được thanh tịnh, xúc động rơi lệ, đều là những người đã trải nhiều kiếp tu hành đạo Phật, hoặc đã từng tu hành đạo Bồ Tát ở các cõi Phật nơi phương khác, nên chẳng phải hạng người phàm.
Nếu  có  người  không  tin  lời  Phật,  không  tin  việc  niệm Phật, không tin vào việc vãng sanh, đó đều là những kẻ từ nơi các đường ác(2) sanh về, nghiệp ác cũ vẫn chưa dứt sạch, vì ngu si không hiểu nên chưa thể được giải thoát.
Có nhiều vị Bồ Tát muốn nghe kinh này mà chẳng được nghe. Nếu được nghe rồi thì đối với đạo Vô thượngmãi mãi không còn thối chuyển. Cho nên phải tin nhận mà trì niệm, theo như lời dạy mà tu hành.
Nay ta vì các ông mà thuyết giảng pháp này, khiến các ông được thấy đức Phật A-di-đàvà cõi nước của ngài. Ta vì thương xót chúng sanh nên mới đặc biệt truyền lại pháp này.
Phần Chánh pháp nan văncó kệ rằng:(3)
_______________________________________
(1) Nguyên bản dùng Chánh pháp nan văn phẩm, là sự nhầm lẫn của soạn giả, vì câu kinh được trích ở đây nằm ở phần Văn pháp nhân duyênthứ 25, không có trong phần Chánh pháp nan vănthứ 26, đều ở trong kinh Đại A-di-đà(Đại Chánh Tạng, quyển 12, kinh số 364).
(2) Các đường ác: chỉ 3 cảnh giới là địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh.
(3) Câu này do chúng tôi thêm vào cho đúng với kinh văn, vì nguyên tác đã nhầm lẫn cả phần trên với bài kệ này đều thuộc phần Chánh pháp nan văn. Thật ra, chỉ có bài kệ này là thuộc phần này mà thôi.

* Trang 321 *
device

 
Quy Nguyên Trực Chỉ