LOGO VNBET
余嘗謂眾曰。儒吾履也。道吾冠也。釋吾衣也。於斯三者茍闕其一,猶跣其足而強行千里,露其首而欲見大賓,裸其形而擬朝天子,其爲君子乎。
余固,豈能盡三聖人之道。幸蚊蚋欲海,亦預其味。遂敬繪是像隨身瞻禮,表全圓極無外之誠。仍述斯文,要人各復自性之實。爲是故,敘之云耳。
2. Độc Phong Thiện Thiền sư: Tam giáo đồng một lý

Trước  khi  vũ  trụ  này  hình  thành  vốn  không có hình tướng, chỉ có cái trí giác, sáng suốt rỗng không, lặng lẽ soi chiếu, là cội nguồn của trời đất. Sa xuống thành gốc, chảy lên thành ngọn, là thủy tổ của muôn vật; quay về nguồn, trở lại gốc, là tông chỉ của một pháp. Tìm theo cũng chẳng thấy phần trước, xét kỹ cũng chẳng rõ phần sau, không thể lấy trí suy xét mà biết, không thể dùng hình tướng mà thấy, duy chỉ có bậc chân thánh do chỗ chứng đắc trong lòng mà tự biết được.
Xưa có một vị tăng hỏi ngài Hương Nham: “Thế nào là Đạo?”

* Trang 456 *
device

Dư thường vị chúng viết: Nho ngô lý dã. Đạo ngô quan dã. Thích ngô y dã. Ư tư tam giả cẩu khuyết kỳ nhất, du tiển kỳ túc nhi cưỡng hành thiên lý, lộ kỳ thủ nhi dục kiến đại tân, lõa kỳ hình nhi nghĩ triều Thiên tử, kỳ vi quân tử hồ.
Dư  cố,  khởi  năng  tận  tam  thánh  nhân  chi  đạo.  Hạnh văn nhuế ẩm hải, diệc dự kỳ vị. Toại kính hội thị tượng tùy thân chiêm lễ, biểu toàn viên cực vô ngoại chi thành. Nhưng thuật tư văn, yếu nhân các phục tự tánh chi thật. Vi thị cố, tự chi vân nhĩ. 
Ngài đáp: “Rồng ngâm trong cây khô.”
Lại hỏi: “Thế nào là người trong đạo?”
Đáp: “Tròng mắt trong sọ khô.”
Nếu đạt được như vậy mới có thể bàn luận về Tam giáo. Cho nên, trong bài luận Tam giáo nhất lýcủa cư sĩ Như Như có viết:
Cứng tợ bông gòn, mềm tợ sắt,
Tháng sáu đương nóng, trời rơi tuyết,
Cây trụ lồng đèn gật đầu cười,
Người câm chiêm bao nói với ai?

* Trang 457 *
device

Tam giáo xưa nay gượng đặt tên!
Thích-ca đóng cửa ở Ma-kiệt,(1)
Khổng tử từng bảo: Lặng mà ghi.
Lão tử dạy: Lặng yên đại biện.
Mặc cho phá bể làm một nhà,
Chẳng khỏi rớt ra hai mặt nguyệt.
Lại nhớ lời cư sĩ Đông Pha:
Đem cả Tam giáo mà thổ lộ,
Sắc núi hẳn là thanh tịnh thân,
Tiếng suối thật là lưỡi dài rộng.
Nếu thấu hiểu rõ ràng như thế, thì chẳng những ngay trước Pháp đường cỏ cao một trượng, mà cho đến khắp cõi pháp giới cũng không còn một người nào có thể trồng cỏ nữa.
Từ trước, Phật Thánh ứng lòng từ, vận lòng bi, thương xót người đời trôi giạt, chẳng khỏi bị nhận dưới đầu mây, bèn ở nơi cửa thứ hai là chỗ cạn dần mà dạy dỗ họ, khiến họ bỏ những việc xa cách lâu đời. Nếu Phật Thánh chẳng khai thông cho người đời một nẻo đường, thì những người này ngày càng giả dối, sẽ làm ma làm quỉ mà chẳng quay đầu lại được.
Bởi vậy cho nên ba vị thánh nhân đều sanh ra nhằm đời Hữu Chu,(2) chủ trương hòa hiệp Chánh giáo. Nho giáo dạy
_______________________
(1) Đức Phật sau khi thành Chánh giác, nhận thấy rằng người đời rất khó nhận hiểu được Chánh pháp nên ngài lặng thinh suy nghĩ mà không Chuyển pháp luân. Sau vì có Phạm vương nhiều lần khuyến thỉnh nên ngài mới bắt đầu tùy nghi phương tiện mà phân ra thuyết thành Tam thừa, dẫn dắt chúng sanh từ dễ đến khó để thể nhập dần dần vào Chánh pháp.
(2) Ba vị Thánh nhân đều sanh ra nhằm đời nhà Chu của Trung Hoa: Đức Lão tử sanh vào đời Chu Định Vương (năm 605 trước Công nguyên), đức Thích-ca sanh.

* Trang 458 *
device

người đời cùng lý tận tánh; Phật giáo dạy người đời minh tâm kiến tánh; Đạo giáo dạy đời tu chân luyện tánh. Chỉ một việc ấy là thật, nếu nói khác đi thì chẳng phải thật. Đó là tự nơi lòng mọi người đều sẵn có Tam giáo, không thể hướng ra bên ngoài mà tìm được, cũng như người cưỡi trâu mà đi kiếm trâu thì không khi nào thấy được.
Người xưa có thơ rằng:
Một Phật, một Lão, một Khổng Khâu,
Ba ông trò chuyện đã bao lâu?
Chẳng hay nói việc năm nào đó?
Mãi đến hôm nay cười chẳng thôi!
Bài thơ không có một mảy ý vị ăn khói nuốt lửa,(1) như vậy mới không trái với Tam giáo!
Nếu nói “tu sửa tự thân, chấn chỉnh gia đình, giúp vua trị dân”, đó chẳng qua là những việc thừa của nhà Nho mà thôi. Nếu bảo “chứa tinh dưỡng thần, thành tiên bay cao”, đó chẳng qua là vết thô của nhà Đạo mà thôi. Nếu nói “siêu sanh  thoát  tử,  lợi  mình  lợi  người”,  đó  cũng  chẳng  qua  là phương tiện của nhà Phật mà thôi.
Than ôi! Một chữ viết lại ba lần, chữ ô(烏) thành chữ yên(焉) rồi thành chữ mã(馬)! Người đời sau truyền trao lầm lạc, đều chỉ nói được chỗ hình tích thô phác của Tam
________________________________________
lão tử sanh vào  đời Chu Tương Vương (năm 624 trước Công nguyên; đức Khổng tử sanh vào đời Chu Linh Vương (năm 551 trước Công nguyên, như vậy là đều nhằm đời nhà Chu của Trung Hoa.
(1) Không có một mảy ý vị ăn khói nuốt lửa: Ý nói không liên quan, dính dấp gì đến việc tu đạo.

* Trang 459 *
device

giáo mà thôi. Thường chỉ là theo chỗ trống không mà tiếp lấy tiếng đội, quên gốc theo ngọn. Họ chỉ lấy chỗ tai nghe mắt thấy mà tiếp nhận, mà giành phải so quấy thôi. Thậm chí dùng lời nói như ngọn giáo mà đâm nhau, dùng văn từ như mũi tên mà bắn nhau! Thánh nhân nói: “Ta là bậc đại hiền chăng? Vậy có ai mà ta chẳng bao dung?”(1)Huống chi, thánh nhân trong Tam giáo đều có tông môn, mà chỗ cao viễn cùng tột chưa từng sai khác! Nhưng người đời chẳng có lượng bao dung kẻ khác, lấy mình làm phải, cho người là quấy. Gặp khi bàn đến chuyện sống chết của chính bản thân mình thì lại thốt ra những lời rỗng tuếch quái gở! Suốt ngày lấy giả làm thật, nhận giặc làm con. Cho đến mỗi ngày thường nhận lấy ân điển, sức lực từ kẻ khác, khi hỏi đến thì chẳng có lấy một lời chân chánh, một chút thấy biết chânchánh! Đã không có chỗ thấy biết, chứng ngộ, thì một ngày kia đến lúc ra đi(2) biết đường nào mà thẳng tiến? Khi ấy mới trở thành ngu si, mê muội, dù đọa lạc đến đâu cũng không tự biết. Kiến giải như vậy chẳng phải là rỗng không quái gở lắm sao?
Như thật giỏi luận về Tam giáo thì nên bỏ những điều cặn bã, riêng tìm lấy một chỗ để quay mình, như vậy mới được. Ôi! Ta đã biết lẽ ấy rồi! Như người muốn dời cái lu, ắt phải ở bên ngoài. Nếu đứng vào trong lu thì làm sao dời đi được? Tự mình đã vướng chìm vào trong sự phải quấy, rốt cuộc chẳng đáng gọi là kẻ giỏi luận về Tam giáo!
____________________________________
(1) Câu này do ngài Tử Trương nói ra, ghi trong sách Luận ngữ, chương 19, tiết 3.
(2) Ý nói khi lìa bỏ kiếp sống này, tái sanh về cảnh giới khác.

* Trang 460 *
device

Cần phải có được cái phương cách bắt lấy cá kình dài, cái cơ phong bắt sống được cọp dữ, riêng thoát ra khỏi cái vẻ ngoài của Tam giáo; cũng như trước phải ra khỏi hầm giếng, rồi sau mới nói tới chuyện biển Đông! Nếu chỉ bo bo nhặt lấy đồ khạc nhổ của tiền nhân, học những lời cũ ghi trên giấy mà muốn nhận lấy điều này, bác bỏ điều kia thì chẳng khỏi bị thiên hạ chê cười!
 Thư nói rằng: “Biết chẳng phải là khó, thực hành mới khó.” Khi sự già nua, bệnh tật còn chưa đến, ai ai cũng có thể nói hay nói giỏi. Nào là giảng tâm nói tánh, chê bai cổ nhân, luận huyền thuyết diệu, lỗi lạc hơn người. Đến khi quan sát kỹ mọi hành vi trong ngày, há không có một niệm tham lam, yêu thích, mừng vui, tức giận bám chặt trong lòng đó sao? Há không có một ý nghĩ về rượu thịt, nữ sắc, tài khí làm che mờ sự thấy biết chân chánh đó sao?
Đức Khổng tử dạy lặng nghe mà ghi nhận, xét một lẽ mà rõ thông tất cả. Ngài Nhan Hồi muốn giữ lòng trong sạch, Khổng tử dạy rằng đừng nghe bằng tai, chỉ nghe bằng tâm, nên  suốt  ngày  ngồi  lặng  thinh  mà  quên  đi  hết  thảy.  Lão tử dạy giữ lấy một lý để trong sạch tinh thần, tự mình giữ lấy thể chất của mình. Trang tử dạy giữ lòng không hệ lụy, như cánh chim bằng bay một mạch chín muôn dặm từ biển Bắc qua biển Nam. Đức Thế Tôn trong pháp hội cầm một cành hoa đưa lên mà chỉ có ngài Ca-diếp nhoẻn miệng cười. Ngài Đạt-ma truyền pháp, Đạo Phó được phần da, Huệ Khả được phần tủy. Chỉ e rằng

* Trang 461 *
device

những bậc thánh trước kia chưa hẳn đã hành xử giống như các vị. Cho nên đức Khổng tử dạy rằng: “Hãy làm trước, rồi sau mới nói theo chỗ đã làm.” Chưa từng nghe như kẻ què chân giảng pháp, chỉ nói được mà không làm được!
Thế nên ngài Tuyết Phong dạy: “Hiểu biết rồi, cần phải hành trì. Nếu chẳng hành trì thì sự hiểu biết ấy chỉ là cái trí chết khô. Gặp khi đối mặt với sống chết, rốt cùng chẳng có chút sức lực.” Cho nên biết rằng, chẳng do sự nói nhiều, chỉ xem việc làm được thế nào mà thôi.
Từ xưa, Tam giáo phân ra như ba chân của cái vạc, chỗ dùng nương nhau, chính như nước nhà dùng binh khí, há có thể bỏ được sao? Nếu đời sau ai nấy đều quên mất cái tường ngăn cách tình làng nghĩa xóm, thì mỗi khi gió mát thổi đến, không ngày nào chẳng là ngày thái bình như đời Phục Hy, Hoàng Đế!(1)
Ta biết rằng ba vị Thánh nhân quyết chẳng có ý gây sự tranh chấp thị phi, chỉ vì người đời nay khác người đời xưa, chỗ kiến thức khác xưa, mà sự hành xử cũng khác xưa. Cho nên có lời này:
Đầu miệng nói ra ngàn tiếng đạo,
Dưới chân khó mất chút bụi trần!
____________________________________
(1)Phục Hy, Hoàng Đế là hai vị Thánh vương đời Thái cổ ở Trung Hoa. Vua Phục Hy giáo hóa nhân dân, vạch ra Bát quái và sáng lập văn tự. Hoàng Đế mở mang nghề làm thuốc. Người dân sống trong hai đời vua ấy được hưởng cảnh thái bình, an vui.

* Trang 462 *
device

Cho nên, Thánh nhân không thể không đưa tay cứu vớt người đời!
Đời nhà Tống có cư sĩ Vô Cấu là Trạng nguyên họ Trương, sau khi thi đậu thường dạo chơi khắp các chốn thiền lâm, học phép Tam-muội. Một sớm kia đến ra mắt thiền sư Diệu Hỷ bàn về ý nghĩa “cách vật”. Ngài Diệu Hỷ nói: “Ông chỉ biết nghĩa cách vật, chẳng biết nghĩa vật cách.” Trương công hỏi: “Sư há không có phương tiện hay sao?” Ngài Diệu Hỷ liền thuật chuyện Đường Minh Hoàng đến đất Thục chém bức chân dung quan Thái thú châu Lãng.(1) Nghe chuyện ấy, Trương công ngộ được ý chỉ huyền diệu, bèn đọc kệ rằng:
Tử Thiều nói cách vật,
Diệu Hỷ nói vật cách.
Nên biết một xâu tiền,
Là hai lần năm trăm.(2)
Như vậy quả là đủ mắt tri âm. Chỉ xem nơi công án này, há Tam giáo có chỗ ngăn ngại người hay sao? Nếu chẳng vậy, hãy nghe thêm bài kệ này:
Tam giáo từ xưa vẫn có nghe,
Lá vàng dỗ trẻ thôi khóc nhè.
_____________________________________________
(1) Vua Minh Hoàng nhà Đường, khi có loạn An Lộc Sơn phải chạy tránh vào đất Thục, đi ngang qua châu Lãng. Thái thú châu Lãng là bạn của An Lộc Sơn, sợ vua bắt tội mới trốn qua Thiểm Tây, để lại một bức chân dung. Vua sai đem chém bức tranh ấy.
(2) Một xâu tiền tức là một quan, gồm một ngàn đồng tiền dùng dây xâu lại. Nguyên bản dùng ngũ mạch (五陌) là cách viết cổ của ngũ bách (五百).

* Trang 463 *
device

 
Quy Nguyên Trực Chỉ