LOGO VNBET
不可思議。汝當繼念,令無間斷。命終之後決定往生,永不退轉。
              說是語已。時二大聖各舒金手摩照頂為授記別。
              汝已念佛故,不久證無上正等菩提。若善男女等,願疾成佛者,無過念佛,則能速證無上菩提。
              ,時二大聖互說伽陀。照聞已歡喜踊躍,疑網悉除。又更作禮。禮謝而退。
              已上二則載於有宋高僧傳。俱在藏內富字函。前後事由,文煩不錄。 
26. Ba vị Đại Thánh dứt lòng nghi cho người(1)

Về đời nhà Đường, ở thành Lạc Dương, chùa Võng  Cực,  có  một  vị  tăng  hiệu  Thích  Huệ Nhật, vốn người họ Tân quê ở Đông Lai. Ngài xuất gia và thọ giới Cụ túc vào khoảng triều vua Đường Trung Tông (705-707),
______________________________
(1)Ba vị Đại Thánh được nêu trong bài này là Bồ Tát Quán Thế Âm, Bồ Tát Văn-thù và Bồ Tát Phổ Hiền. Trong hai câu chuyện được kể sau đây, ba vị Đại Thánh này đã hiển linh để dứt sạch lòng nghi ngờ cho 2 vị cao tăng, đồng thời cũng lưu lại một tấm gương cho người đời soi vào để thấy được chỗ thù thắng của pháp môn Tịnh độ.

* Trang 742 *
device

vô gián đoạn. Mạng chung chi hậu quyết định vãng sanh, vĩnh bất thối chuyển.
Thuyết thị ngữ dĩ, thời nhị đại thánh các thư kim thủ ma Chiếu đảnh vi thọ ký biệt:
Nhữ dĩ niệm Phật cố, bất cửu chứng Vô thượng chánh đẳng Bồ-đề. Nhược thiện nam nữ đẳng, nguyện tật thành Phật giả, vô quá niệm Phật, tắc năng tốc chứng Vô thượng Bồ-đề.
Ngứ dĩ, thời nhị đại thánh hỗ thuyết Già-đà. Chiếu văn dĩ hoan hỷ dũng dược, nghi võng tất trừ. Hựu cánh tác lễ. Lễ tạ nhi thối.
Dĩ thượng nhị tắc, tải ư hữu Tống Cao tăng truyện, câu tại tạng nội phú tự hàm. Tiền hậu sự do, văn phiền bất lục.
sau gặp ngài Nghĩa Tịnh Tam Tạng, tiếp nhận được giáo pháp Nhất thừa sâu xa nhất.
Ngài  Huệ  Nhật  trong  lòng  thường  tưởng  mộ,  quyết  đi đến Thiên Trúc. Ngày kia đối trước tượng Phật phát lời thệ nguyện, lên đường sang Tây Vực.(1) Ban đầu nương thuyền vượt  biển,  trong  khoảng  ba  năm  đã  trải  qua  hầu  hết  cácnước miền Đông Nam hải như Côn Lôn, Phật Thệ, Sư Tử Châu... Vượt qua nhiều nước, cuối cùng mới đến được Thiên Trúc, ngài đến lễ bái các thánh tích và tìm
______________________
(1)Thiên Trúc, Tây Vực đều là những tên khác để chỉ Ấn Độ.

* Trang 743 *
device

kiếm thu thập các bản kinh văn tiếng Phạn. Ngài cũng đi khắp nơi tham bái các bậc thiện tri thức. Trong suốt 13 năm tìm cầu học hỏi giáo pháp, chỉ mong muốn được làm lợi ích cho muôn người!
Rồi ngài chống gậy lên đường về. Đường xa thăm thẳm một bóng một mình, vượt qua bao núi tuyết, bao xóm làng hẻo lánh. Đi được 4 năm dài, trải qua không biết bao nhiêu sự khổ nhọc, đau đớn, sanh ra chán ngán cõi Diêm-phù này,
bèn tự than rằng: “Có đất nước nào, thế giới nào chỉ có vui mà không có khổ? Có pháp môn nào, hạnh nguyện nào có thể mau chóng được gặp Phật?” Ngài lại đem việc ấy đi hỏi khắp các vị học giả trên toàn cõi Thiên Trúc. Ai nấy đều ngợi khen pháp môn Tịnh độ, vừa phù hợp với lời Phật dạy, vừa mau chóng đạt đến kết quả, chính là con đường có thể tu tập chỉ trong một đời, dứt bỏ thân này ắt được vãng sanh về Thế giới Cực Lạc, tự mình được phụng sự đức Phật A-di-đà.
Nghe được những lời ấy rồi, ngài Huệ Nhật cúi đầu vâng lãnh.  Rồi  ngài  liền  đi  dần  lên  phía  bắc  Ấn  Độ,  đến  nước Kiện-đà-la Gandhāra). Về phía đông bắc kinh đô nước này có một ngọn núi lớn. Trên núi có tượng đức Bồ Tát Quán Âm, đã có nhiều người chí thành cầu thỉnh được thấy Bồ Tát hiện thân. Ngài Huệ Nhật bèn khấu đầu làm lễ trước tượng Bồ Tát trọn bảy ngày, lại phát nguyện tuyệt thực đến chết nếu không được thấy Bồ Tát hiện thân. Đến ngày thứ bảy, khi trời còn chưa sáng, đức Quán Âm bỗng hiện ra thân hình màu vàng rực giữa không trung, chiều cao hơn một trượng, ngồi trên tòa sen báu, đưa tay phải xuống xoa đầu Huệ Nhật dạy rằng:

* Trang 744 *
device

“Ông  muốn  truyền  pháp  lợi  mình  lợi  người,  chỉ  có  một pháp hướng về cõi Phật A-di-đà ở phương Tây mà thôi. Nên khuyên người niệm Phật, tụng kinh, hồi hướng phát nguyện vãng sanh. Khi được về cõi ấy, được gặp ta và đức Phật A-di-đà, được lợi ích lớn. Ông nên tự biết rằng pháp môn Tịnh độ vượt hơn tất cả các hạnh nguyện khác.”
Dạy  như  thế  rồi,  bỗng  dưng  biến  mất.  Ngài  Huệ  Nhật tuyệt thực đã đến lúc sắp bỏ mạng, nhưng vừa nghe xong những lời ấy bỗng trở nên khỏe mạnh, liền thẳng đường leo qua núi ấy, nhắm hướng đông mà đi.(1) Đường ngài đi trải qua hơn 70 nước, tính thời gian từ khi đi cho đến lúc về tới Trung Hoa là 18 năm (701-719). Niên hiệu Khai Nguyên thứ 7 đời vua Đường Huyền Tông (719), ngài về tới Trường An.  Ngài  dâng  lên  hoàng  đế  những  kinh  tượng  mang  về được từ Ấn Độ. Sau, ngài cũng khai ngộ cho hoàng đế, được ban tứ hiệu là Từ Mẫn Tam Tạng Sanh Pháp sư.
Suốt đời ngài tinh cần tu tập pháp môn Tịnh độ, có soạn bộ sách Vãng sanh Tịnh độ tập lưu truyền ở đời. Lời dạy của ngài cùng với các vị Thiện Đạo và Thiếu Khương, tuy khác thời đại nhưng chỗ giáo hóa đều như nhau.
*
Niên hiệu Đại Lịch thứ 2 đời Đường Đại Tông (767), có Đại sư Pháp Chiếu trụ trì chùa Vân Phong tại Hoành Châu. Ngài siêng cần tu học không hề giải đãi, luôn lấy sự khuyên người niệm Phật làm việc gấp rút, khẩn thiết.
___________________________________________
(1)Từ Ấn Độ nhắm hướng đông mà đi tức là hướng về Trung Hoa. Trước đó ngài đã lên đường về, nhưng vì chưa quyết định theo pháp môn Tịnh độ nên còn dần dà trên đất Ấn. Kể từ lúc này mới quyết lòng tin tưởng vào pháp môn Tịnh độ.

* Trang 745 *
device

Đã  hai  lần  trong  Tăng  đường,  ngài  nhìn  vào  bát  cháo thấy hiện ra thắng cảnh ở Ngũ Đài. Trong thắng cảnh ấy lại hiện ra một ngôi chùa, có bảng vàng đề mấy chữ “Chùa Đại Thánh Trúc Lâm”.
Từ đó, ngài Pháp Chiếu đem lòng khát ngưỡng, muốn đến Ngũ Đài chiêm bái. Tại chùa Hồ Đông ở Hoành Châu, ngài 5 lần lập đạo tràng niệm Phật, phát nguyện được thấy Đại Thánh.
Ngày 13 tháng 8, niên hiệu Đại Lịch thứ 4 (769), ngài khởi hành. Đến ngày mồng 5 tháng 4 năm sau thì vừa tới huyện Ngũ Đài. Từ xa, ngài nhìn về phương nam thấy nơi chùa Phật Quang có mấy đạo hào quang trắng sáng tỏa lên. Qua hôm sau thì đến chùa Phật Quang, thấy quang cảnh y hệt như trước đây nhìn thấy trong bát cháo, không khác chút nào!
Đêm hôm ấy, vừa qua canh tư, ngài Pháp Chiếu nhìn thấy một đạo hào quang từ trên ngọn núi phía bắc bay xuống chiếu  vào  trong  chùa.  Ngài  vội  vào  chùa  thưa  hỏi  chúng tăng: “Hào quang ấy là điềm gì, lành hay dữ?” Có một vị tăng đáp rằng: “Đó là hào quang không thể nghĩ bàn của đức Đại Thánh, thường giác ngộ cho những ai có duyên lành.”
Ngài  Pháp  Chiếu  nghe  như  vậy  rồi  liền  chỉnh  đốn  oai nghi, theo hướng hào quang mà thẳng đường lên chùa. Đi về hướng đông bắc chừng 50 dặm, quả nhiên gặp một ngọn núi. Dưới núi có khe nước, phía bắc khe nước có một cửa đá. Có hai đồng tử mặc áo xanh, khoảng tám, chín tuổi, dung mạo đoan chánh, đang đứng trước cửa. Một người xưng tên là Thiện Tài, một người là Nan-đà.

* Trang 746 *
device

Đôi bên gặp nhau bày tỏ sự vui mừng, cùng theo lễ hỏi han nhau. Rồi hai người ấy dẫn Pháp Chiếu vào cửa, cùng đi về hướng bắc khoảng 5 dặm thì tới. Nơi đây có một tòa lầu cửa vàng, khi đến tận cửa thì mới biết đó là một ngôi chùa. Trước chùa có một bảng vàng lớn đề mấy chữ: “Chùa Đại Thánh Trúc Lâm”. Quang cảnh nơi ấy vuông vức mỗi bề chừng 20 dặm, có 120 viện, thảy đều có bảo tháp trang nghiêm. Mặt đất toàn là vàng ròng, lại có ao nước chảy, có hoa trái, cây cối mọc đầy bên trong.
Pháp Chiếu vào chùa, bước vào trong giảng đường nhìn thấy đức Văn-thù bên phía tây, đức Phổ Hiền bên phía đông. Hai vị Bồ Tát ấy đều ngự trên tòa sư tử, tiếng thuyết pháp nghe  rất  rõ  ràng,  vang  dội.  Hai  bên  đức Văn-thù có  hơn muôn vị Bồ Tát theo hầu, còn chung quanh đức Phổ Hiền cũng có vô số vị Bồ Tát.
Pháp Chiếu tiến tới trước hai vị Bồ Tát, lễ lạy rồi thưa hỏi rằng: “Con là phàm phu sanh nhằm đời mạt pháp, cách Phật đã xa, tri thức hèn kém, nghiệp chướng nhơ nhớp lấp sâu nên tánh Phật không do đâu mà hiển bày! Phật pháp mênh mông, con thật không biết phải tu tập pháp môn nào là cốt yếu. Cúi xin hai vị Đại Thánh vì con phá sạch chỗ nghi ngờ.”
Đức Văn-thù đáp rằng: “Nay chính là lúc ông nên tu pháp môn niệm Phật. Trong tất cả các môn tu hành, không có pháp môn nào vượt hơn pháp niệm Phật và cúng dường Tam bảo. Đó là đồng thời tu phướclẫn tu huệ. Chỉ có hai pháp tu đó là con đường thẳng tắt nhất, cốt yếu nhất. Vì sao vậy? Như ta đây trong đời quá khứ chính nhờ quán tưởng Phật, niệm Phật và cúng dường mà nay đạt được trí tuệ giải thoát hiểu biết tất cả. Cho nên, tất cả các

* Trang 747 *
device

 
Quy Nguyên Trực Chỉ