LOGO VNBET
身若塵。臨難不懼,臨死不顧。挺身立行,力修此道者,何知其幾。
              或修隨喜。或信歸依。乃至隨德盡己之誠,而行者。其數益眾,誠所謂列宿塵沙,尤莫况其多也。
              或有半信不信,猶豫不決之人,尚生彼國,疑城,邊地。何况正信,正行,正願者,有何惑焉。傳記所載,萬不及一。自古及今,咸受其賜。豈筆舌所能盡述者乎。
              縱欲別修道品。但假自心之力。或有退轉著魔之患。唯此念佛法門,因仗佛力,修則必成。無復魔業,永不退轉,决定往生矣。


27. Thiền sư Vạn Tông chỉ thẳng đường tu

Pháp  môn Niệm  Phật Tam-muội cũng  gọi  là Nhất hạnh Tam-muội. Có nghĩa là, người tu tập pháp môn này khi đã hiểu được ý chỉ sâu xa và có thể gìn giữ sự nhất tâm thì chẳng còn noi theo một hạnh nguyện nào khác, chỉ một lòng nhớ nghĩ đến cõi thế giới Cực Lạc, một lòng niệm tưởng đến đức Phật A-di-đà mà thôi. Người ấy biết rằng, thân mình với Tịnh độ không phải là hai, lòng

* Trang 754 *
device

khinh thân nhược trần, lâm nạn bất cụ, lâm tử bất cố, đĩnh thân lập hạnh, lực tu thử đạo giả, hà tri kỳ kỷ?
Hoặc tu tùy hỷ, hoặc tín quy y, nãi chí tùy đức tận kỷ chi thành, nhi hành giả. Kỳ số ích chúng, thành sở vị liệt tú trần sa, vưu mạc huống kỳ đa dã.
Hoặc  hữu  bán  tín  bất  tín,  do  dự  bất  quyết  chi  nhân, thượng sanh bỉ quốc, nghi thành, biên địa. Hà huống chánh tín chánh hạnh, chánh nguyện giả, hữu hà hoặc yên. Truyện ký sở tải, vạn bất cập nhất. Tự cổ cập kim, hàm thọ kỳ tứ, khởi bút thiệt sở năng tận thuật giả hồ?
Túng dục biệt tu đạo phẩm, đãn giả tự tâm chi lực. Hoặc hữu thối chuyển trước ma chi hoạn, duy thử niệm Phật pháp môn, nhân trượng Phật lực, tu tắc tất thành. Vô phục ma nghiệp, vĩnh bất thối chuyển, quyết định vãng sanh hỹ. 
nhớ nghĩ và niệm tưởng cũng chỉ là một. Được như vậy mới gọi là Nhất hạnhnhư vừa nói trên.
Tuy gọi là một hạnh duy nhất, nhưng người tu hành cũng phải nhờ vào vô số các pháp thế gian và xuất thế gian, tu tập hết thảy các công đức để hỗ trợ cho đường tu thì hạnh nguyện vãng sanh mới mau chóng được thành tựu. Vì thế, tất cả các hạnh nguyện đều là chỗ tu tập của pháp môn Tịnh độ, không có đường hướng nào khác. Gọi

* Trang 755 *
device

là Nhất hạnh, cũng ví như muôn dòng nước chảy vào biển, đều gọi tên chung là biển. Cũng vậy, vì muôn điều thiện cùng quy về một mối nên gọi là Nhất hạnh.
Vì nghĩa  ấy  nên  các  pháp  như niệm  xứ,(1) chánh  cần ,(2) căn,(3) lực,(4) giác,(5) đạo,(6) tứ hoằng,(7) lục độ,(8) hết thảy đều là hạnh Tịnh độ. Cho đến những việc lành hết sức nhỏ nhặt, hoặc là niệm Phật với tâm tán loạn, thậm chí chỉ một lần xưng danh hiệu Phật, một lần chắp tay cung kính, một lần lễ bái, một lần tán thán, một lần chiêm ngưỡng
________________________________
 (1) Tức Tứ niệm xứ: bốn chỗ quán niệm của người tu tập, bao gồm: 1. Thân niệm xứ: thường quán tưởng thân này là nhơ nhớp, không thanh tịnh. 2. Thọ niệm xứ: thường quán tưởng bản chất của mọi cảm thọ, xúc chạm đều là khổ. 3. Tâm niệm xứ: thường quán tưởng tâm ý là vô thường, biến đổi, sanh diệt trong từng giây phút. 4. Pháp niệm xứ: thường quán tưởng tất cả các pháp không hề có cái gọi là “bản ngã” thường tồn độc lập, bản chất thật sự của các pháp chỉ là sự hội tụ và tan rã của các nhân duyên.
(2) Tức Tứ chánh cần: , hay bốn sự chuyên cần chân chánh, bao gồm: 1. Đối với việc ác đã sanh khởi, phải chuyên cần trừ bỏ. 2. Đối với việc ác chưa sanh khởi, phải chuyên cần chế phục, không để cho sanh khởi. 3. Đối với việc thiện chưa sanh khởi, phải chuyên cần làm cho sanh khởi. 4. Đối với việc thiện đã sanh khởi, phải chuyên cần nuôi dưỡng cho thêm lớn mạnh.
(3) Tức Ngũ căn, chỉ năm pháp căn bản của người tu tập, bao gồm: 1. Tín căn, hay đức tin vào Tam bảo, chánh tín. 2. Tinh tấn căn, hay sự tinh tấn, chuyên cần tu tập thiện pháp. 3. Niệm căn, hay sự nhớ nghĩ, niệm tưởng Chánh pháp. 4. Định căn, hay năng lực tập trung tư tưởng, ý niệm, không buông thả, tán loạn. 5. Huệ căn, hay trí huệ sáng suốt thấu rõ chân lý.
(4) Tức Ngũ lực, chỉ sự phát triển mạnh mẽ Ngũ căn vừa nói trên. Như vậy bao gồm: Tín lực, Tinh tấn lực, Niệm lực, Định lực, và Huệ lực.
(5) Tức Thất giác ý, cũng gọi là Thất Bồ-đề phần, bao gồm: 1. Trạch pháp, 2. Tinh tấn, 3. Hỷ, 4. Khinh an, 5. Niệm, 6. Định, 7. Xả.
(6) Tức Bát chánh đạo hay Bát thánh đạo, bao gồm: 1. Chánh tri kiến, 2. Chánh tư duy, 3. Chánh ngữ, 4. Chánh nghiệp, 5. Chánh mạng, 6. Chánh tinh tấn, 7. Chánh niệm, 8. Chánh định.
(7) Tức Tứ hoằng thệ nguyện, bốn sự phát nguyện rộng lớn của người tu hành. Đó là: 1. Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ. 2. Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn. 3. Pháp môn vô lượng thệ nguyện học. 4. Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.
(8) Lục độ, tức Lục ba-la-mật, sáu pháp tu tập của hàng Bồ Tát, giúp đạt đến quả vị giải thoát, gồm có: 1. Bố thí, 2. Trì giới, 3. Nhẫn nhục, 4.Tinh tấn, 5. Thiền định, 6. Trí huệ.

* Trang 756 *
device

cho đến dâng cúng một nén nhang, một chén nước, một cành hoa, một ngọn đèn, hoặc chỉ một lần cúng dường, dùng một món cúng dường, hoặc chỉ khởi một niệm tu tập, cho đến mười niệm, hoặc chỉ phát tâm làm được một việc bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ... hết thảy những ăn lành ấy đều hồi hướng về Cực Lạc.
Nhờ  duy  trì  được  nguyện  lực  nên  sớm  muộn  gì  cũng đều được vãng sanh đúng như trong kinh đã dạy. Ví như thuở xưa, có người đem một giọt nước nhỏ gửi vào biển lớn, nguyện cho giọt nước ấy chẳng hoại, chẳng mất, chẳng biến đổi, chẳng khô cạn. Tuy trải qua nhiều đời mà giọt nước ấy vẫn còn nguyên. Người ấy sau khi trải qua nhiều kiếp vẫn nhận lại được giọt nước nguyên vẹn như khi gửi vào, không hề hoại mất, không hề khô cạn. Người đã đem một chút căn lành nhỏ nhoi hồi hướng về Cực Lạc, cũng giống như người kia gửi giọt nước vào biển lớn, tuy trải qua nhiều đời nhiều kiếp nhưng căn lành ấy không hề hoại mất, không hề khô kiệt, chắc chắn thế nào cũng sanh về Cực Lạc.
Huống chi những việc như chánh kiến, tà kiến, Đại thừa, Tiểu thừa, hữu lậu, vô lậu, loạn tâm hay định tâm làm việc thiện, các pháp quán tưởng, trí huệ... thảy đều gọi là Nhất hạnh,  thảy  đều  sẽ  được  vãng  sanh,  chỉ  trừ  những  kẻ  tin nhận ngoại đạo mà thôi.
Cho nên nói rằng: “Chỉ cần có lòng tin chắc, quyết không bị dối gạt.” Trong kinh lại dạy rằng: “Những ai xưng niệm một lần Nam-mô Phật, đều sẽ thành Phật đạo.” Rất đáng tin sâu lời ấy. Nhưng đối với những ai chưa khởi lòng nhân, chưa làm các việc lành, thân tâm chưa điều phục, chưa có sự cảm ứng thì chớ vội nói ra như vậy.

* Trang 757 *
device

Bởi vậy, trong suốt một đời đức Phật Thích-ca đã nói ra vô lượng tam-muội, vô lượng pháp giải thoát, vô lượng hạnh nguyện và các pháp tổng trì tương ứng nhau, cùng vô lượng pháp môn, nhưng chỉ riêng có pháp niệm Phật là thâu gồm tất cả vào trong, hết thảy đều đầy đủ. Như biển lớn kia dung chứa tất cả các dòng nước chảy vào mà tánh biển vẫn không thêm, không bớt; như hạt ngọc như ý đặt trên tòa cao làm thỏa mãn tất cả ước nguyện của chúng sanh mà thể chất của ngọc vẫn không hao tổn. Phép Niệm Phật Tam-muội này cũng vậy, có thể thâu nhiếp tất cả, bao gồm đầy đủ tất cả.
Vì nghĩa ấy nên khi xưa đức Thế Tôn đã rất nhiều lần đem phép Niệm Phật Tam-muộinày mà dạy cho tất cả chúng hội. Trong chúng hội ấy có rất nhiều người lắng nghe rồi vâng theo, đều thuộc hàng đại căn như Bồ Tát Văn-thù, hoặc các vị thánh hiền trong Ba thừa và Tám bộ thiên long,(1) thảy đều hết lòng tin theo. Đến khi pháp Phật truyền sang Đông độ, có vị đại nhân ở núi Lô sơn xiển dương giáo hóa, người người tin tưởng làm theo, ào ạt như gió lướt trên ngọn cỏ! Khắp thiên hạ đều hướng về, ai ai cũng ngợi khen pháp ấy.
Từ Phật đến nay đã hơn hai ngàn mấy trăm năm, có biết bao bậc thánh hiền, những vị cao tăng, những bậc danh nho cự  phách,  cùng  những  giới  sĩ,  nông,  công,  thương,  những hạng đàn ông, đàn bà hèn kém, cho đến những kẻ nô tỳ, quan hoạn... hoặc tự mình tu tập, khuyên người tu tập, hoặc soạn văn, hoặc phát thệ nguyện, trân
___________________________________
(1)Tám bộ thiên long: (Thiên long bát bộ): cách nói tắt để chỉ chung 8 loài chúng sanh thường đến nghe Phật thuyết pháp, gồm chư thiên, loài rồng, loài dạ-xoa, loài càn-thát-bà, loài a-tu-la, loài khẩn-na-la, loài ca-lâu-la và loài ma-hầu-la-già.

* Trang 758 *
device

trọng chánh pháp như vật báu, coi khinh thân mạng như hạt bụi, gặp nạn chẳng sợ, gặp chết chẳng lo, xả thân lập hạnh, đem hết sức mình tu tập pháp môn niệm Phật. Những người như thế thật nhiều không kể xiết!
Lại có những người thấy kẻ khác tu tập mà hoan hỷ vui theo, hoặc tin tưởng nương theo, cho đến những người noi theo đức độ người tu mà đem hết lòng thành của mình ra niệm Phật, số ấy lại càng đông đảo, quả thật là nhiều như sao đêm, như cát bụi, số nhiều lại càng nhiều hơn.
 Lại có những người niệm Phật mà nửa tin nửa ngờ, do dự chẳng quyết. Thế mà họ cũng được sanh về Cực Lạc, nơi những vùng biên địa Nghi thành,(1) huống chi đối với những người  có  lòng  tin  chân  chánh,  tu  hành  chân  chánh,  phát nguyện chân chánh, lẽ nào còn có chỗ nghi hay sao? Những người vãng sanh được ghi lại trong sách truyện chỉ là một phần nhỏ trong muôn vạn trường hợp. Từ xưa tới nay, số người đã nương nhờ ơn Phật mà được vãng sanh thật không có giấy bút nào, không miệng lưỡi nào có thể kể ra cho xiết!
Nếu như muốn tu tập các pháp môn khác, chỉ là nhờ vào sức lực của tự tâm mình, nhưng nếu có sự thối chuyển, ắt vướng phải nạn ách của chúng ma. Chỉ duy nhất một pháp môn  niệm  Phật  này,  nương  nhờ  sức  Phật,  tu  tập  ắt  được thành tựu, không còn trở lại vướng vào nghiệp ma, mãi mãi không thối chuyển, chắc chắn được vãng sanh!
_____________________
(1) Vùng biên địa Nghi thành: nơi dành cho những người tu Tịnh Độ nhưng chưa đủ lòng tin, còn có sự nghi ngờ (nên gọi là Nghi thành). Khi vãng sanh về đó, họ không được tự thân gắp Phật, phải trải qua một thời gian rất lâu, khi sự nghi ngờ đã trừ hết mới được gặp Phật

* Trang 759 *
device

 
Quy Nguyên Trực Chỉ