LOGO VNBET
宗本頂禮,謝師曰。若非宿生慶幸,焉得遇於明師開示也。
禪師告辭而又曰。汝若有疑未决,可看蓮宗寶鑑,淨土指歸,龍舒淨土文,萬善獞同歸集,智者大師十疑論,天如則禪師或問,神棲安養賦,淨土决疑論。凡所讚揚淨土經教者,皆可看之。
宗本曰。恭禀師命,信受奉行。出家叅學事理,文長不錄。
__________________________________________________________________________________
4. Trên đường cầu thầy học đạo(1)
Tông  Bổn  tôi  sanh  ở  nhà  họ  Trần  nơi  xứ  Tứ Minh, nhờ ơn cha mẹ nuôi dưỡng và rước thầy dạy dỗ từ nhỏ. Đến lúc vào trường đèn sách, cha nghiêm huấn, thầy chỉ bảo, nên cũng hiểu thông được văn chương lễ nghĩa.
Năm 15 tuổi, có người anh họ là Hủ Mộc,(2) nhân có bệnh nhẹ mà qua đời, thi thể còn đặt nơi nhà trống. Tôi
_______________________________
(1) Bài này là lời tự thuật của ngài Tông Bổn, ghi lại lúc mới phát tâm xuất gia tu tập và gặp thầy dẫn dắt, nhờ đó mới tỉnh ngộ và đắc nhập pháp môn niệm Phật với Mười pháp giới.
(2) Nguyên văn là Hủ Mộc xử sĩ. Xử sĩ là những người có học nhưng vì lý do nào đó không muốn tham gia việc đời, cũng có nghĩa như ẩn sĩ, cư sĩ. Hủ Mộc có lẽ là tên hiệu chứ không phải tên thật. Người này tự cho rằng thân mình không ra giúp đời, cũng như cây gỗ mục chẳng làm được gì, mới tự xưng là Hủ Mộc xử sĩ.

* Trang 82 *
device

Tông Bổn đảnh lễ, tạ sư viết: Nhược phi túc sanh khánh hạnh, yên đắc ngộ ư minh sư khai thị dã.
Thiền sư cáo từ, nhi hựu viết: Nhữ nhược hữu nghi vị quyết,  khả  khán  Liên  Tông  Bảo  Giám,  Tịnh  độ  chỉ  quy, Long Thư Tịnh độ văn, Vạn thiện đồng quy tập, Trí Giả Đại sư thập nghi luận, Thiên Như Tắc Thiền sư hoặc vấn, Thần Thê An Dưỡng phú, Tịnh độ quyết nghi luận. Phàm sở tán dương Tịnh độ kinh giáo giả, giai khả khán chi.
Tông Bổn viết: Cung bẩm sư mạng, tín thọ phụng hành. Xuất gia tham học sự lý, văn trường bất lục.
 ________________________________________________________________________________
đi ngang qua cửa, thấy cái thân tứ đại(1) của anh mình thì sợ sệt, lo buồn,  tự  than  rằng:  “Ôi!  Hình  tướng  ở  đời  không  hề  bền chắc, mạng sống chỉ như ngọn đèn trước gió. Vô thường xảy tới, trốn tránh khó thay!” Liền muốn xuất gia học đạo, cầu được siêu thoát luân hồi.
Nhưng chẳng biết khởi sự tu hành như thế nào, nên lòng còn do dự. Liền đến ngôi chùa nhỏ trong vùng mà lễ Phật. Bỗng gặp một vị tăng đang ngồi thẳng lung dáng
_____________________________
(1)Cái thân tứ đại: Theo quan niệm xưa thì thân thể con người hợp bởi bốn chất, gọi là bốn đại hay tứ đại. Bốn đại ấy là: 1. Địa đại, hay chất đất, cũng chỉ chung những yếu tố thuộc về thể rắn. 2. Thủy đại, hay chất nước, cũng chỉ chung những yếu tố thuộc về thể lỏng. 3. Hỏa đại, hay chất lửa, cũng chỉ chung những yếu tố thuộc về sức nóng, hơi ấm. 4. Phong đại, hay chất gió, cũng chỉ chung những yếu tố thuộc về sự chuyển động. Khi bốn đại tan rã thì thân xác con người không còn tồn tại nữa.

* Trang 83 *
device

vẻ uy nghi, tôi liền cúi đầu làm lễ thưa hỏi rằng: “Đại đức là ai?”
Vị tăng đáp: “Tôi là người tu thiền(1) đi du phương.”(2)
Tôi nghe được lời ấy, mừng khôn kể xiết. Tức thì thỉnh vị tăng ấy về nhà, sắm đủ hương hoa và các thứ vật thực cúng dường.
Lễ cúng dường đã xong, tôi quỳ lạy thiền sư mà thưa hỏi rằng: “Đệ tử muốn thoát khỏi vòng sanh tử, chưa biết nên tu theo pháp gì?”
Thiền sư liền hỏi rõ họ tên và tuổi tác. Tông Bổn này thưa rằng: “Đệ tử họ Trần, tên là Tĩnh Tu, năm nay được mười lăm tuổi.”
Thiền sư khen ngợi rằng: “Tuổi còn nhỏ mà phát tâm cao, thật là ít có trong đời! Này thiện nam tử họ Trần, hãy giữ một lòng tịch tĩnh mà nghe ta nói đây: Duy có một pháp tu thẳng tắt là chỉ cần niệm đức Phật A-di-đàmà thôi.”
Tông  Bổn  này  hỏi  lại:  “Niệm  Phật A-di-đà có  thể  vượt thoát được sanh tử hay sao?
Thiền sư đáp: “Cứ tin theo lời Phật dạy thì trong các pháp tu thoát khổ, chẳng pháp nào bằng niệm Phật. Nếu chẳng niệm Phật, khó mà vượt thoát được sanh tử.”
_______________________________________
(1) Nguyên văn là “thiền hòa tử du phương”. Cách dùng “thiền hòa tử” ở đây cũng giống như “thiền tăng”. Từ điển Đinh Phúc Bảo ghi: “Thiền hòa, cũng viết là thiền hòa tử. Thiền hòa tức là người tham thiền.” (禪和, 又曰禪和子。禪和者,參禪之人也。- Thiền hòa, hựu viết thiền hòa tử. Thiền hòa giả, tham thiền chi nhân dã.)
(2) Du phương: đi nhiều nơi. Vị tăng du phương là người chọn cách du hóa khắp nơi, vừa để hóa độ những kẻ hữu duyên, vừa để tham học với những bậc cao tăng thạc đức.

* Trang 84 *
device

Tông Bổn lại hỏi: “Pháp môn niệm Phật này do đâu mà có?”
Thiền sư đáp: “Pháp môn niệm Phật chẳng phải chỉ có dạy trong một kinh mà thôi. Trong vô số kinh điển, không có kinh nào lại chẳng nói đủ về pháp môn niệm Phật. Nếu y theo phép này mà tu, chắc chắn sẽ được vãng sanh về Tịnh độ.”
Lại hỏi: “Công đức niệm Phật được bao nhiêu mà có thể vãng sanh về Tịnh độ?”
Đáp rằng: “Nếu có người đem bảy món báu trong bốn cõi thiên hạ (1) mà cúng dường chư Phật, Bồ Tát, Duyên giác, Thanh  văn,  La  hán,  phước  đức  rất  nhiều.  Như  có  người khuyên người khác niệm Phật một tiếng, phước đức lại cònnhiều hơn thế nữa.”
Lại hỏi: “Niệm Phật một tiếng, làm sao phước đức lại có thể nhiều hơn?”
Thiền sư đáp: “Sách Vạn thiện đồng quydẫn lời trong Trí luận nói rằng:(2)
‘Ví như có người vừa sanh ra rơi xuống đất đã có thể đi được mỗi ngày ngàn dặm, đi như vậy trọn ngàn năm, dùng hết thảy bảy món báu trong các cõi thế giới mình đã đi qua mà dâng cúng Phật, cũng không bằng có người ở đời ác trược về sau xưng niệm được một câu
___________________________________
(1) Bốn cõi thiên hạ: Chỉ chung cõi thế gian này. Theo quan niệm xưa là gồm có bốn châu: 1. Phương bắc là Câu-lô châu, 2. Phương nam là Thiệm-bộ châu, 3. Phương đông là Thắng thần châu, 4. Phương tây là Ngưu-hóa châu.
(2) Nguyên văn ghi là “Phật quốc Vãng sanh luận”. Tuy nhiên, cho đến nay chúng tôi chưa biết có bộ luận nào mang tên này, nhưng thực sự có tìm được đoạn trích dẫn trên đây trong sách Vạn thiện đồng quy, nói là trích từ bộ Trí luận. Có lẽ đây là nhầm lẫn của người biên soạn Quy nguyên trực chỉ. Vì thế chúng tôi xin điều chỉnh lại để tạo sự dễ dàng cho quý độc giả nào muốn tra khảo các văn bản gốc.

* Trang 85 *
device

Nam mô A-di-đà Phật. Phước của người niệm Phật còn hơn cả phước của người kia. Tự mình niệm Phật còn được như thế, huống chi còn khuyên người khác niệm?”
Lại  hỏi:  “Tuy  biết  là  đức  độ  của  Phật  lớn  lao  như  thế, nhưng kẻ phàm phu nghiệp ác vốn đã nhiều, làm sao chỉ niệm Phật trong một đời mà có thể vãng sanh về Tịnh độ?”
Đáp: “Kinh Thập lục quán(1)nói: “Chí tâm niệm một tiếng Nam mô A-di-đà Phậtcó thể diệt được tội nặng trong tám mươi ức kiếp sanh tử. Có người trọn đời tạo năm tội nghịch,(2)làm mười điều ác,(3)nhưng lúc lâm chung niệm được mười câu Nam mô A-di-đà Phậtcòn được vãng sanh. Huống chi người trọn đời ăn chay, giữ giới và niệm Phật?”
Tông  Bổn  lại  hỏi:  “Do  đâu  mà  đức  Phật A-di-đà lại  có công đức và hạnh nguyện rộng lớn như vậy?”
Đáp: “Long Thư Tăng Quảng Tịnh độ văn(4)có dẫn kinh
______________________________________
(1)Thập Lục Quán Kinh, tức là Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh.
(2)Năm tội nghịch, hay ngũ nghịch: Năm tội được xem là nặng nề nhất, ngỗ nghịch nhất, và vì thế mà quả báo cũng nặng nề nhất. Đó là: 1. Giết cha, 2. Giết mẹ, 3. Giết A-la-hán, 4. Phá hòa hợp tăng, 5. Làm thân Phật chảy máu.
(3)Mười điều ác, hay thập ác, ngược lại với mười điều thiện hay thập thiện. Mười điều ác là: 1. Sát sanh, 2. Trộm cướp, 3. Tà dâm, 4. Nói dối, 5. Nói hai lưỡi, đâm thọc, 6. Nói điều ác, gây tổn hại 7. Nói lời trau chuốt, 8. Tham dục, 9. Sân nhuế, 10. Si mê, tà kiến.
(4)Nguyên tác ghi là “Đại A-di-đà kinh vân...”, nhưng chúng tôi tìm thấy chính xác là nguyên văn đoạn trích dẫn ở đây được trích lại từ Long Thư Tăng Quảng Tịnh độ văn(龍舒增廣淨土文) của Vương Nhật Hưu đời Tống, nên đã có điều chỉnh để dễ dàng hơn cho sự tra cứu. Trong Phật thuyết Đại A-di-đà kinh(Đại chánh tạng, quyển 12, trang 326, số hiệu 364), nội dung của trích đoạn này được trình bày ở phần thứ hai: A-nan phát vấn(阿難發問分第二- A-nan phát vấn đệ nhị phần), nhưng kinh văn có một vài khác biệt nhỏ.

* Trang 86 *
device

Đại A-di-đà(1) nói rằng : ‘Một ngày nọ, Đức Phật Thích-ca dung nhan khác thường. Thị giả (2) là A-nanlấy làm lạ, bèn thưa hỏi. Phật dạy rằng: ‘Lành thay câu hỏi của nhà ngươi, còn hơn là cúng dường cho các vị Thanh văn và Duyên giác trong một cõi thiên hạ, cùng là bố thí cho chư thiên, nhân dân, cho đến những loài chúng sanh nhỏ bé nhất. Dầu cho trải qua rất nhiều kiếp cúng dường và bố thí như vậy, lại đem công đức ấy nhân lên gấp trăm, ngàn, muôn, ức lần, cũng  chẳng  bằng  công  đức  của  câu  hỏi  này.  Tại  sao  vậy? Bởi vì chư thiên, vua chúa, nhân dân, cho đến những loài chúng sanh nhỏ bé nhất đều sẽ do nơi câu hỏi này mà được độ thoát.’
“Theo đó suy ra, đây chính là lúc Phật Thích-camuốn khởi thuyết về đức Phật A-di-đà. Ngài vừa khởi lên điều ấy trong tâm, mà đã hiện ra vẻ mặt khác với ngày thường, thì mối giao cảm của đức Phật A-di-đàđối với chư Phật đã là phi thường, huống chi là chỗ giao cảm với hết thảy chúng sanh.
“Vì sao vậy? Xét theo lời phát nguyện ban sơ của đức Phật A-di-đàcó nói rằng:
Nguyện khi ta thành Phật.
Danh vang khắp mười phương.
Trời, người vui được nghe.
Cùng sanh về nước Phật.
... ... ...
_________________________________
(1) Tức là kính Vô lượng Thọ.
(2) Thị giả: người đệ tử thường xuyên theo hầu bên cạnh một vị thầy, để phục vụ những công việc thường ngày cũng như để thầy sai bảo. Mỗi vị tôn sư đều có một thị giả tự nguyện theo hầu. Thị giả của đức Phật Thích-ca là ngài A-nan.

* Trang 87 *
device

Địa ngục, quỷ, súc sanh.
Cũng sanh về nước Phật.
“Theo đó thì đã có thể biết rằng hết thảy những chúng sanh đang luân hồi trong ba cõi, sáu đường,(1) không một ai mà ngài chẳng muốn cứu độ. Đức Phật A-di-đàhiện ở tại thế giới Cực Lạc bên phương tây và các cõi thế giới trong mười phương mà giáo hóa hàng trời, người số đông không kể xiết, cho đến những loài chúng sanh nhỏ bé nhất. Như đến các loài chúng sanh nhỏ bé nhất mà Phật còn hóa độ, huống chi là loài người!
“Đức Phật A-di-đàlại có phát nguyện như thế này: ‘Như ai niệm danh hiệu ta, ắt sanh về cõi Phật của ta. Nếu chẳng được như vậy, ta thề không làm Phật.’ Do đó mà ngài rộng độ khắp chúng sanh, không có giới hạn. Người phát tâm quy y chỉ trong một niệm, rốt lại cũng được sanh về cõi Phật của ngài. Theo đó mà suy ra, công đức niệm Phật thật không thể nghĩ bàn hết được.
“Đức Phật A-di-đàlại có dạy rằng: Nếu chúng sanh nào muốn sanh về cõi Phật của ta vào hàng thượng phẩm,(2) thì nên tu tập hạnh từ bi, không giết hại, thương xót che chở hết thảy mọi sanh linh, giữ tròn giới hạnh, đọc tụng
____________________________
(1)  Ba cõi, sáu đường (Tam giới, Lục đạo) Ba cõi là: Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Sáu đường là: cõi trời, cõi người, cõi a-tu-la, cõi địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh. Hết thảy chúng sanh trôi lăn trong cõi luân hồi, tùy theo nghiệp lực mà thọ sanh vào một trong ba cõi, sáu đường này.
(2) Theo Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật thì người được vãng sanh về cõi Phật, tùy theo công đức niệm Phật và tu tập mà chia làm ba bậc là thượng phẩm, trung phẩm và hạ phẩm; trong mỗi bậc ấy lại chia ra ba bậc nữa là thượng sanh, trung sanh và hạ sanh. Như vậy, cả thảy có chín bậc khác nhau, gọi là cửu phẩm. Được kể ra cụ thể theo thứ tự từ bậc cao nhất đến thấp nhất là: thượng phẩm thượng sanh, thượng phẩm trung sanh, thượng phẩm hạ sanh, trung phẩm thượng sanh, trung phẩm trung sanh,trung phẩm hạ sanh, hạ phẩm thượng sanh, hạ phẩm trung sanh và hạ phẩm hạ sanh.

* Trang 88 *
device

kinh điển Đại thừa, hiểu thấu nghĩa chân thật, rõ thông lý sâu xa, cúng dường Tam bảo, hiếu kính mẹ cha, thương xót những kẻ nghèo khổ, giáo hóa hết thảy hữu tình, ăn uống giữ theo đúng pháp,(1) rộng làm việc bố thí cho quỉ thần, không làm các điều ác, thường làm các việc lành. Nếu ai niệm Phật được như vậy, chắc chắn vãng sanh vào hàng Thượng phẩm thượng sanh, thẳng đến quả vị Phật.
“Còn như chưa đủ sức làm như vậy, tự mình hãy bền chí ăn chay giữ giới, nhất tâm niệm Phật. Nếu có thể nhất tâm niệm Phật không gián đoạn, thì cũng có thể vãng sanh ở vào hàng Trung phẩm.
“Pháp niệm Phật này chẳng phân biệt kẻ hiền người ngu, kẻ sang người hèn, kẻ giàu người nghèo, cũng chẳng phân biệt nam nữ, già trẻ, tăng tục, chẳng kể xa gần, hết thảy đều có thể niệm Phật.
“Phương thức niệm Phật cũng chẳng có chi bó buộc: hoặc niệm lớn tiếng, hoặc niệm nhỏ tiếng, hoặc niệm liên tục như nước chảy, hoặc niệm khi đảnh lễ, hoặc nhiếp tâm mà niệm, tham cứu mà niệm, quán tưởng mà niệm, hoặc lần chuỗi
hạt niệm, hoặc đi nhiễu quanh điện Phật mà niệm, hoặc đứng thẳng niệm, hoặc ngồi yên niệm, hoặc nằm nghiêng mà  niệm,  hoặc  niệm  thầm  hay  niệm  rõ  tiếng,  hoặc  niệm ngàn lần, muôn lần, thảy đều là một niệm. Điều quan trọng nhất là phải có lòng tin chắc quyết và cầu sanh Tịnh độ. Nếu hành trì được như vậy, cần gì phải cầu tìm bậc tri thức khác?
“Như vậy có thể nói là:
_________________________________
(1) Pháp thực: ăn uống theo đúng pháp, nghĩa là không ăn phi thời (ngày chỉ ăn một bữa vào giữa trưa) và không ăn các thức ăn chẳng trong sạch.

* Trang 89 *
device

Thuyền đi quyết định do người lái,
Nước Phật đón người rõ phép tu.
Tông Bổn lại hỏi rằng: “Thế gian có nhiều người thường nói rằng: Việc nhà bận rộn, việc đời vướng vít, đợi lúc tuổi già rồi sẽ lo niệm Phật. Xin thầy nói cho nghe về hạng người ấy.”
Thiền sư đáp rằng: “Khổ thay! Khổ thay! Lời nói ấy thật ngu muội, sai lầm biết bao! Chẳng nghe thiền sư Tử Tâm nói đó sao? Những người thế gian có của báu như núi, thê thiếp đầy nhà, ngày đêm vui thỏa, há lại chẳng muốn sống hoài ở đời hay sao? Nhưng ngặt nỗi đời sống có giới hạn, cái chết luôn chờ chực, mạng dứt phải đi, chẳng thể trì hỗn được. Diêm vương chẳng thuận tình người, quỷ vô thường chợt đến có ai thấy mặt?
“Hãy  cứ  xét  nơi  những  việc  mắt  thấy  tai  nghe  của  hết thảy mọi người: đường trước ngõ sau, họ hàng thân thích, bạn hữu anh em, có biết bao người chết vào độ tuổi xuân cường tráng! Chẳng nghe người xưa đã nói sao:
Chớ đợi tuổi già theo học đạo,
Mồ hoang bao kẻ mái đầu xanh!
“Từ những năm tuổi trẻ, vất vả bon chen để nuôi dưỡng vợ con, tạo lập nhà cửa, nếm đủ muôn cay ngàn đắng. Chợt khi hơi dứt mạng vong, cũng chưa thể nhất thời dứt sạch.(1)Nếu như con cháu hiếu thuận, biết lo thỉnh thầy làm chay, tụng kinh siêu độ, lại giữ lệ mùa xuân tháng
_______________________________________
(1)Người đời có khi vẫn nói: “Chết là hết.” Nhưng thật ra thì nghiệp báo thiện ác vẫn luôn đeo đuổi như bóng theo hình, nên ở đây nói là “chưa thể nhất thời dứt sạch”.

* Trang 90 *
device

tụng kinh siêu độ, lại giữ lệ mùa xuân tháng ba,ba,(1) mùa thu tháng  chín,(2)  vọng  cúng  vài  chén  cơm  canh,  khóc  thương mấy tiếng, cũng gọi là thương cha nhớ mẹ. Nếu gặp phải đứa con ngỗ nghịch thì cha mẹ vừa mới qua đời, xương đầu còn ấm nó đã phá tan tài sản, bán sạch ruộng vườn, thỏa ý ăn chơi.
“Lấy đó mà suy ra thì việc tu niệm cần phải gấp rút, khẩn thiết biết bao! Con cháu vốn tự có nghiệp báo thiện ác riêng của chúng, chẳng cần phải vì chúng mà lo xa tính toán.
“Cổ đức có thơ rằng:
Đáng cười lão nhà giàu.
Đời bon chen hối hả.
Gạo trong bồ sanh mọt.
Tiền để mục trong kho.
Ngày cân đong đo đếm.
Tối chong đèn tính sổ.
Thân gầy mòn ốm yếu,
Khư khư giữ nết cũ.(3)
“Thiền sư Tử Tâm đã hết lòng khuyên dạy như thế, há lại có thể cho rằng nên đắm mê thế tục, đợi đến lúc già mới niệm Phật hay sao? Phải thường suy xét rằng, đời sống con người thật chẳng được bao lâu, chỉ thoáng qua như nháng lửa, như điện xẹt, vừa chớp mắt đã qua rồi! Vậy
_______________________________
(1) Tức là lễ cúng vào tiết Thanh minh.
(2) Tức là lễ cúng vào dịp Trùng cửu, mồng 9 tháng 9.
(3) Bài này muốn nói lên tính cách tham lam, mê muội của một người nhà giàu, chỉ biết tích cóp, vun bồi tài sản mà chẳng biết được ý nghĩa thực sự của đời sống. Thực ra, đây là một tính cách được phóng đại, nhưng ở một mức độ nào đó thì nhiều người trong chúng ta đôi khi cũng rất dễ rơi vào khuynh hướng này.

* Trang 91 *
device

nên phải nhân khi tuổi già chưa đến, còn đang độ thanh xuân tráng kiện mà phấn phát thân tâm, dẹp bỏ việc đời. Được sáng suốt một ngày thì niệm Phật một ngày, được công phu một lúc thì tu nghiệp lành một lúc. Cho dù lúc phút lâm chung có lành hay dữ, chỉ quan trọng nhất là hành trang đã chuẩn bị được đầy đủ, thì con đường sắp tới chắc chắn được yên ổn. Nếu chẳng lo liệu từ trước, sau ăn năn chẳng kịp, hãy suy ngẫm cho kỹ điều đó!
“Đáng mừng là, Di-đàrất dễ niệm, Tịnh độ rất dễ vãng sanh! Tuy rằng làm người rất khó tránh khỏi những lo toan tính toán việc nhà, nhưng cũng nên sớm chiều đốt hương niệm Phật.
“Pháp môn niệm Phật này, ai ai cũng có thể làm theo. Ví như căn nhà tăm tối lâu năm, chỉ cần một ngọn đèn thắp lên liền sáng tỏ; dầu là những người giết bò mổ heo, buông dao xuống liền có thể tu tập.(1)
“Phép tu này không khó, lại cũng không ngăn trở những sự nghiệp của người ta trong thế sự. Người làm quan niệm Phật cũng không trở ngại cho chức nghiệp, hàng trí thức niệm Phật cũng không trở ngại việc học hỏi, người thương gia  niệm  Phật  cũng  không  trở  ngại  việc  buôn  bán,  người nông  dân  niệm  Phật  cũng  không  trở  ngại  việc  cấy  trồng. Người  phụ  nữ  niệm  Phật  cũng  không  trở  ngại  bổn  phận trong  gia  đình.  Nơi  cơ  quan  Nhà  nước,  niệm  Phật  không làm trở ngại việc vâng lệnh cấp trên. Nơi chùa chiền, niệm Phật không làm trở ngại việc tham thiền.
______________________________________
(1) Trong kinh Đại Bát Niết-bàn, quyển 19, có nói việc Quảng Ngạch (廣額) làm nghề đồ tể, ngày ngày sát sanh hại vật. Sau bỏ nghề, phát tâm Bồ-đề, tại gia chuyên tâm tu hành, được Phật thọ ký cho sẽ là một trong số một ngàn đức Phật lần lượt ra đời trong Hiền kiếp này.

* Trang 92 *
device

“Nói chung, người tu theo pháp niệm Phật thì hết thảy mọi công việc đều không ngăn trở. Hoặc có thể lễ bái niệm Phật vào lúc sáng sớm hoặc chiều hôm, hoặc cũng có thể trong lúc đang làm việc, dù là gấp rút hay chậm rãi đều có thể niệm Phật. Mỗi ngày hoặc niệm trăm ngàn tiếng, hoặc niệm năm ba trăm tiếng, hoặc niệm mười tiếng... Cốt yếu là phải phát nguyện hướng về việc vãng sanh Tây phương. Nếu được lòng thành như vậy, việc vãng sanh có thể xem như chắc chắn.
“Này thiện nam tử họ Trần! Nếu như ngươi ăn chay giữ giới tinh nghiêm, một lòng niệm Phật mà chẳng sanh về Tịnh độ, thì ta đây ắt phải đọa vào Địa ngục rút lưỡi.”(1)
Tôi thấy thiền sư phát lời thề rất nặng nên sợ hãi quì lạy, cảm tạ ơn ngài đã mở mang chỉ bảo cho pháp môn niệm Phật.
Thiền sư dạy rằng: “Nếu nói về pháp môn Tịnh độ, cho dầu có nói trong trăm ngàn kiếp cũng chẳng cùng. Cho nên ta chỉ lược nói ra đây những điều cơ bản nhất mà thôi.
“Người xưa nói rằng:
Kẻ trí một lòng tin chắc.
Mọi việc tức thì hiểu rõ.
Người ngu chẳng dứt mối nghi.
Nghe nhiều lại càng thêm nghi.
Lời ấy đúng thật biết bao!
___________________________________
(1) Ý của thiền sư khi nói câu này là muốn xác quyết những điều mình đã nói về pháp môn niệm Phật không hề có chút gì gian dối, sai lệch. Địa ngục rút lưỡi (Bạt thiệt địa ngục): cảnh giới địa ngục mà những người tạo khẩu nghiệp nặng nề phải bị đọa vào. Tại đây, tội nhân phải chịu sự hành hạ đau đớn và lưỡi bị rút ra.

* Trang 93 *
device

Những ai đã thật lòng tin chắc tu hành, muốn được vãng sanh Tây phương Tịnh độ, chẳng thể chỉ nói suông rồi bỏ qua. Cần phải ôm ấp trong lòng như việc lớn của một đời, quyết chí phải làm cho được!
Như có thể phát khởi được lòng tin, thì từ nay trở đi phải hết sức dũng mãnh, hết sức tinh tấn, chẳng cần lưu tâm đến việc biết hay là chẳng biết, thấy tánh hay không thấy tánh, chỉ bền giữ trong lòng một câu Nam mô A-di-đà Phậtmà thôi, như dựa vào ngọn núi Tu-di, dù có bị quấy rối hay lay chuyển cũng vẫn giữ yên chẳng động. Chỉ một niệm ấy là vị thầy dắt dẫn. Chỉ một niệm ấy là đức Phật hóa thân. Chỉ một niệm ấy là vị tướng mạnh mẽ phá tan địa ngục. Chỉ một niệm ấy là lưỡi gươm báu chém lũ tà ma. Chỉ một niệm ấy là ngọn đèn sáng soi vào chỗ tối. Chỉ một niệm ấy là con thuyền lớn vượt qua biển khổ. Chỉ một niệm ấy là vị thuốc hay cứu thoát sanh tử. Chỉ một niệm ấy là con đường tắt ra khỏi Ba cõi. Chỉ một niệm ấy là Phật A-di-đà trong tự tánh. Chỉ một niệm ấy là cõi Tịnh độ ngay trong tâm mình.
Cốt yếu là phải luôn nghĩ nhớ đến một câu A-di-đà Phật, chẳng lúc nào xao lãng. Lúc nào cũng duy trì niệm ấy, lúc nào cũng có niệm ấy trong tâm. Lúc vô sự cũng niệm như vậy, lúc hữu sự cũng niệm như vậy, lúc yên vui cũng niệm như  vậy,  lúc  đau  khổ  cũng  niệm  như  vậy,  lúc  đang  sống cũng niệm như vậy, lúc sắp chết cũng niệm như vậy. Một niệm sáng suốt rõ ràng như vậy, cần gì phải hỏi thăm đường về ở nơi người khác?
Như vậy có thể nói là:

* Trang 94 *
device

Một niệm Di-đàkhông xen tạp,
Thảnh thơi phút chốc đến Tây phương.(1)
Thiền sư lại dặn kỹ rằng: “Này thiện nam tử họ Trần! Nay ta đem pháp môn nói về mười pháp giới mà truyền giao cho ngươi, ngươi phải dùng pháp môn này mà mở mang chỉ bảo cho người sau, cùng nhau tinh tấn tu hành cho đến khi thành tựu quả Phật.”
Tông Bổn thưa rằng: “Con xin mang pháp ấy giảng rộng cho người sau, mong rằng sẽ mang lại lợi ích trong tương lai.”
Thiền sư dạy rằng: “Lành thay, lành thay! Mười pháp giới ấy là: pháp giới của chư Phật, pháp giới của các vị Bồ Tát, pháp giới của hàng Duyên giác, pháp giới của hàng Thinh văn, pháp giới của chư thiên, pháp giới của loài người, pháp giới của loài a-tu-la, pháp giới của loài ngạ quỉ,(2) pháp giới súc sanh và pháp giới địa ngục.
“Mười pháp giới ấy, trong tâm mỗi người đều có đủ. Tùy nơi chỗ đã tạo ra mà tự thọ nhận lấy, nhân nào quả nấy không sai chạy. Việc làm lành, làm dữ là nhânthế gian, mà ba cõi, sáu đường là quảthế gian vậy. Việc giữ giới, niệm Phật là nhânra khỏi thế gian, mà cõi Tịnh độ, được thành Phật, đó là quảra khỏi thế gian.
Trong cõi trời người, việc tu phước là nên làm trước nhất. Trong biển khổ sanh tử, việc niệm Phật là hơn hết. Như muốn hưởng sự khoái lạc trong cõi trời người mà
_________________________
(1)Nguyên văn là: Nhất cú Di-đà vô biệt niệm, bất lao đàn chỉ đáo Tây phương. Dịch sát nghĩa là: “Chỉ một câu Di-đà, chẳng có niệm nào khác, không cần nhọc sức đến như khảy móng tay đã có thể đến được cõi Tây phương.”
(2)Ngạ quỷ: loài quỷ đói, do nghiệp lực mà không lúc nào được no đủ.

* Trang 95 *
device

không tu phước, muốn ra khỏi biển khổ sanh tử mà không niệm Phật, chẳng khác nào chim không cánh mà muốn bay, cây không rễ mà muốn được tươi tốt, há có thể được sao?
Cho  nên,  điều  cốt  yếu  là  phải  lấy  việc  niệm  Phật  gieo trồng nhân chính, lấy việc tu phước làm pháp hỗ trợ. Phước đức và trí huệ đều cùng tu mới có thể thành bậc Chánh đẳng Chánh giác.(1) Đó chính là nhân tạo thành quả, quả hoàn
toàn phụ thuộc ở nhân; nhân quả không sai khác, trước sau chẳng hề nhầm lẫn. Vì sao vậy? Hình thẳng thì bóng ngay, âm thanh hài hòa thì tiếng vang dễ nghe. Nên biết rằng nhân chân thật thì quả không hư dối. Như cuộc sống thường ngày là nhân, phút lâm chung là quả. Thường ngày làm việc ác, khi lâm chung cảnh ác hiện ra trước mắt; thường ngày niệm Phật, khi lâm chung cõi Phật tự nhiên hiện đến.
Kinh Hoa Nghiêm nói rằng:
Nếu ai muốn rõ biết,
Ba đời, mười phương Phật,(2)
Nên thấy tánh pháp giới,
Thảy đều do tâm tạo.
Chính là nói lên nghĩa ấy đó.
Tông Bổn hỏi rằng: “Bạch thầy, tu theo pháp nào thì được quả Phật?”
______________________________________
(1) Tức là quả vị Phật.
(2) Ba đời là chỉ chung hết thảy thời gian, bao gồm quá khứ, hiện tại và vị lai, mười phương là chỉ chung hết thảy không gian, bao gồm các phương đông, tây, nam, bắc, đông nam, đông bắc, tây nam, tây bắc và hai phương trên, dưới.

* Trang 96 *
device

Thiền sư đáp: “Nên biết rằng chúng sanh trong sáu đường đều sẵn có chân như Phật tánh, bình đẳng như nhau. Đối với hết thảy chúng sanh đều quán xét rằng đó là chư Phật, đó là các bậc cha mẹ của mình. Không phân biệt oán thù hay thân thích, đều nguyện cứu độ hết thảy. Từ nay mãi mãi về sau luôn thực hiện theo hạnh nguyện của đức Bồ Tát Phổ hiền.(1) Nếu tu hành được như vậy là có thể ngang bằng với chư Phật.”
Lại hỏi: “Bạch thầy, tu theo pháp nào có thể đạt đến pháp giới của các vị Bồ Tát?”
Thiền sư dạy: “Tu theo hạnh bố thí trừ được lòng tham lam, bủn xỉn; giữ theo giới hạnh trừ được sự hủy phạm; thực hành nhẫn nhục trừ được lòng sân nhuế; nỗ lực tinh tấn trừ được sự giải đãi, lười nhác; thực hành thiền định trừ được sự hôn mê, tán loạn; tu dưỡng trí huệ trừ được ngu si. Nếu tu hành được như vậy là có thể ngang bằng với các vị Bồ Tát.”
Lại hỏi: “Bạch thầy, tu theo pháp nào chỉ có thể đạt đến pháp giới của hàng Duyên giác?”
Thiền sư dạy: “Những người trong hạng Trung thừa, vui thích cảnh tịch tĩnh một mình, tuy rõ biết nhân duyên các pháp nhưng chẳng thực hành việc cứu độ chúng sanh, cho nên chỉ có thể đạt đến pháp giới của hàng Duyên giác mà thôi.”
___________________________________
(1) Hạnh nguyện của đức Bồ Tát Phổ hiền có mười điều: 1. Nguyện thường lễ bái chư Phật. 2. Nguyện thường phụng sự và xưng tán chư Phật. 3. Nguyện thường sám hối các nghiệp chướng. 4. Nguyện thường tu hạnh cúng dường. 5. Nguyện thường vui theo công đức của người khác. 6. Nguyện thường cầu thỉnh bậc đạo sư thuyết pháp. 7. Nguyện thường cầu thỉnh Phật trụ thế để giáo hóa chúng sanh. 8. Nguyện thường theo Phật tu học. 9. Nguyện thường tùy theo ý muốn của chúng sanh mà dìu dắt, hóa độ. 10. Nguyện thường hồi hướng công đức để mình và chúng sanh cùng thành Phật đạo.

* Trang 97 *
device

Lại hỏi: “Bạch thầy, tu theo pháp nào chỉ có thể đạt đến pháp giới của hàng Thanh văn?”
Thiền sư dạy: “Những người trong hạng Tiểu thừa, khiếp sợ sanh tử như loài hươu nai trốn chạy, chẳng dám ngó lại. Vì chỉ muốn mau mau ra khỏi Ba cõi, cầu lấy cảnh giới Niếtbàncho riêng mình,(1) cho nên chỉ có thể đạt đến pháp giới của hàng Thanh văn, La-hán(2) mà thôi.”
Lại hỏi: “Bạch thầy, tu theo pháp nào chỉ có thể được sanh lên cõi trời?”
Thiền sư dạy: “Tu theo Mười thiện nghiệp(3) sẽ được sanh lên cõi trời.”
Lại hỏi: “Bạch thầy, tu theo pháp nào chỉ có thể được sanh ở cõi người?”
Thiền sư dạy: “Tu theo Ngũ giới(4) sẽ được sanh ở cõi người.”
________________________________
(1) Ba cõi, hay Tam giới, bao gồm Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới.
(2) La-hán: Cách nói tắt của A-la-hán, thánh quả thứ tư, cao nhất trong Tứ thánh quả của hàng Thanh văn.
(3) Mười thiện nghiệp, hay Thập thiện nghiệp, tức là Mười điều lành, có thể tạo ra thiện nghiệp cho chúng sanh. Bao gồm:
1. Không sát sanh, phải làm việc tha thứ và phóng sanh.
2. Không trộm cắp, phải tu hạnh bố thí, cúng dường.
3. Không tà dâm, phải chung thủy một vợ một chồng.
4. Không nói dối, phải luôn nói lời chân thật.
5. Không nói trau chuốt, thô tục, phải nói những lời có ý nghĩa, có ích lợi.
6. Không nói đâm thọc, gây chia rẽ, phải nói những lời tạo ra sự đoàn kết, thương yêu nhau,
7. Không nói lời độc ác, gây tổn hại, phải nói những lời ôn hòa, nhu thuận.
8. Không tham lam, phải thấy rằng mọi thứ của cải vật chất đều chỉ là giả tạm, không thường tồn.
9. Không sân nhuế, phải có tu tập hạnh từ bi, nhẫn nhục.
10. Không ngu mê, tà kiến, phải sáng suốt tu tập theo chánh kiến.
(4) Ngũ giới, tức là năm cấm giới của hàng Phật tử tại gia. Bao gồm: 1. Không sát sanh, 2. Không trộm cắp, 3. Không tà dâm, 4. Không nói dối, 5. Không uống rượu. Về ý nghĩa chi tiết và việc hành trì theo Ngũ giới, xin tìm đọc trong sách Về mái chùa xưacủa Nguyên Minh, Nxb Tôn giáo.

* Trang 98 *
device

Lại  hỏi:  “Bạch  thầy,  tạo  tội  nghiệp  gì  phải  đọa  lạc  vào cảnh giới của loài A-tu-la?”(1)
Thiền sư dạy: “Những ai tu theo thiện nghiệp mà còn giữ lòng tranh chấp hơn thua, hờn giận, khinh ngạo kẻ khác, sẽ đọa vào cảnh giới của loài A-tu-la.”
Lại  hỏi:  “Bạch  thầy,  tạo  tội  nghiệp  gì  phải  đọa  lạc  vào cảnh giới của loài ngạ quỉ?”(2)
Thiền sư dạy: “Những ai không xả bỏ được tâm tham lam, bỏn sẻn, khinh thường đại chúng, giành lấy miếng ăn cho riêng mình, sẽ đọa vào cảnh giới của loài ngạ quỷ.”
Lại  hỏi:  “Bạch  thầy,  tạo  tội  nghiệp  gì  phải  đọa  lạc  vào cảnh giới của loài súc sanh?”(3)
Thiền sư dạy: “Những ai tạo các nghiệp ngu si, tà ngụy, độc ác, chắc chắn phải đọa vào cảnh giới của loài súc sanh.”
Lại  hỏi:  “Bạch  thầy,  tạo  tội  nghiệp  gì  phải  đọa  lạc  vào cảnh giới địa ngục?”(4)
_________________________________________________
(1) A-tu-la là một hạng chúng sanh có phép thần thông như chư thiên cõi trời, nhưng không có oai đức và hình tướng tốt đẹp như chư thiên. Họ mang tâm sân hận và hiếu chiến, thường xuyên gây gỗ, đánh nhau và sống triền miên trong sự hận thù, ganh ghét.
(2) Ngạ quỷ, hay quỷ đói, là hạng chúng sanh do ác nghiệp mà phải chịu cảnh đói khổ triền miên. Dù họ có được ban cho các món vật thực cũng không thể nào ăn vào để no đủ, hoặc vì có cổ họng rất nhỏ, không thể nuốt thức ăn, hoặc vì nghiệp lực của họ làm cho thức ăn vừa đến miệng đã hóa thành than lửa cháy rực, không sao ăn vào được.
(3) Súc sanh: chỉ chung các loài súc vật, cầm thú.
(4) Địa ngục: chỉ chung các cảnh giới mà những chúng sanh tạo ác nghiệp nặng nề phải thọ sanh vào. Có nhiều cảnh địa ngục khác nhau tùy theo ác nghiệp mà chúng sanh đã tạo, nhưng nói chung đều là những cảnh giới mà chúng sanh phải chịu những sự đau đớn, khổ sở, tương ứng với những ác nghiệp mà họ đã tạo.

* Trang 99 *
device

 
Quy Nguyên Trực Chỉ