LOGO VNBET
嗚呼。曾不知宋儒言語是禪宗流將出去者也。
太原曰。師之所言,皆出吾儒之書,非存私也,非不公也。且言世之排佛者,可是學力之未博乎,可是理學之未通乎,可是學佛未至而反排乎,可是紀昌之用心乎,可是局於此量不能化之而大通乎。
於戲。尙亦不敢輕於常人,安忍欲沽自己之幻名,曲排三界大聖人度人之大法。吾爲之憂,憂彼排者。虧損陰德,至於至也。 
8. Học Phật bài bác Phật

Ông Thái Nguyên(1) thưa hỏi rằng: “Chu tử(2) chú giải sách thường dẫn nhiều lời trong kinh Phật, không biết có những sách nào, ông ấy dùng từ ngữ nào của Phật để chú giải?”
Thiền sư Không Cốc đáp: “Những từ ngữ của đạo Phật mà Hối Am thường dùng như là “hư linh bất muội”,(3) “bất
___________________________________
(1) Tức Vương Trung, người xứ Thái Nguyên, là người đã thưa hỏi Thiền sư Không Cốc trong những bài trước.
(2) Tức ông Hối Am.
(3) Hư linh bất muội: tánh rỗng rang mầu nhiệm không thể che mờ. Từ ngữ này được trích từ luận Đại Trí độ dịch vào đời nhà Đường và nhiều kinh sách của Thiền tông.

* Trang 922 *
device

Ô hô, tằng bất tri Tống Nho ngôn ngữ, tận thị Thiền tông lưu tương xuất khứ giả dã.
Thái Nguyên viết: Sư chi sở ngôn, giai xuất ngô Nho chi thư, phi tồn tư dã, phi bất công dã. Thả ngôn thế chi bài Phật giả, khả thị học lực chi vị bác hồ, khả thị lý học chi vị thông hồ, khả thị học Phật vị chí nhi phản bài hồ, khả thị Kỷ Xương chi dụng tâm hồ, khả thị cuộc ư thử lượng bất năng hóa chi nhi đại thông hồ?
Ô  hô!  Thượng  diệc  bất  cảm  khinh  ư  thường  nhân,  an nhẫn dục cô tự kỷ chi huyễn danh, khúc bài Tam giới đại thánh nhân độ nhân chi đại pháp? Ngô vị chi ưu, ưu bỉ bài giả, khuy tổn âm đức, chí ư chí dã. 

khả  hạn  lượng”,(1) “tự  thị  nhi  phi”.(2) Trong  sách Đại  học bổ khuyếtthì dùng những câu như là “thủy ngôn nhất lý, trung tán vi vạn sự, mạt phục hiệp vi nhất lý”,(3) hoặc nói “chân thật vô vọng, chân thật chi lý”,(4) hoặc nói “hữu thị
______________________________________
(1) Bất khả hạn lượng: không thể giới hạn hay đo lường được. Từ ngữ này được trích từ kinh Hoa Nghiêm, kinh Bảo Tích, kinh Đại tập.
(2) Tự thị nhi phi: dường như là như thế nhưng thật ra không phải như thế. Từ ngữ này được trích từ Đàm tân tập. Tất cả những từ ngữ vừa dẫn đều là cách dùng riêng trong đạo Phật, tuy ngắn gọn mà hàm ý sâu sắc, lại đòi hỏi chỗ tri kiến thực nghiệm của người nghe mới có thể nắm bắt được trọn vẹn ý nghĩa.
(3) Thủy ngôn nhất lý, trung tán vi vạn sự, mạt phục hiệp vi nhất lý: Ban đầu chỉ nói một lẽ, sau phân ra thành muôn sự vật, đến cuối cùng hợp lại thành một lẽ”.
(4) Chân thật vô vọng, chân thật chi lý: Chỗ chân thật không hư vọng, đó là lẽ chân thật.

* Trang 923 *
device

lý nhi phục hữu thị sự”,(1) hoặc nói “thiên địa chi lý, chí thật vô vọng”,(2) hoặc nói “thánh nhân chi tâm chí thật vô vọng”,(3) hoặc nói “năng tri giác, sở tri giác”,(4) hoặc nói“thiên thánh tương truyền tâm pháp”,(5) hoặc nói “thoát nhiên hữu ngộ xứ, hựu phi kiến văn tư lự chi khả cập dã”,(6) hoặc nói “vật ngã nhất lý, cố hữu chi tánh, tâm chi thể dụng”,(7) hoặc nói “ngô tâm chánh, nhi thiên địa chi tâm diệc chánh”,(8) hoặc nói “vạn vật chi bổn nguyên, nhất tâm chi diệu dụng”(9) hoặc nói “hoạt bát bát địa, triệt đầu triệt vĩ tố công phu”,(10) hoặc nói “đáo giá lý”,(11) “giảo thái
_______________________________
(1) Hữu thị lý nhi phục hữu thị sự: Có cái lý như vậy, lại cũng có cái sự như vậy.
(2) Thiên địa chi lý chí thật vô vọng: Cái lẽ của trời đất là hết sức chân thật, không hề hư dối.
(3) Thánh nhân chi tâm chí thật vô vọng: Cái tâm của bậc thánh nhân hết sức chân thật, không hề hư dối. Những từ ngữ, cách nói vừa dẫn đều là do ngài Tổng Thiền sư ở chùa Đông Lâm truyền dạy cho Chu Liêm Khê.
(4) Năng tri giác, sở tri giác: chỉ chủ thể có năng lực nhận biết và đối tượng khách quan  được  nhận  biết.  Khái  niệm  và  cách  nói  này  được  thấy  trong  kinh  Lăng Nghiêm và nhiều kinh điển khác nữa.
(5) Thiên thánh tương truyền tâm pháp: Ngàn vị thánh nối tiếp nhau đều chỉ truyền riêng một pháp tâm.
(6) Thoát nhiên hữu ngộ xứ, hựu phi kiến văn tư lự chi khả cập dã: Bỗng nhiên có chỗ chứng ngộ, lại không do chỗ thấy nghe suy nghĩ mà hiểu được đến chỗ ấy.
(7) Vật ngã nhất lý, cố hữu chi tánh, tâm chi thể dụng: Loài vật với ta cũng đồng một lý, nên cũng có bản thể và chỗ hoạt dụng của tâm tánh.
(8) Ngô tâm chánh, nhi thiên địa chi tâm diệc chánh: Tâm ta được chân chánh thì cái tâm của trời đất cũng chân chánh.
(9) Vạn vật chi bổn nguyên, nhất tâm chi diệu dụng: Cội nguồn của trời đất chính là chỗ diệu dụng của một tâm này.
(10) Hoạt bát bát địa, triệt đầu triệt vĩ tố công phu: Đạt đến chỗ dụng tâm linh hoạt, dứt sạch cả đầu đuôi mà thực hành công phu.
(11) Đáo giá lý: đến trong ấy, đến chỗ ấy... Cách nói của Thiền tông để chỉ đến chỗ đối mặt với sanh tử, quyết định ý nghĩa cuộc đời mình. Người tu tập phải lấy điều thiết yếu nhất là tỏ ngộ được trong chỗ này, vượt qua được mọi nỗi lo sợ về sống chết

* Trang 924 *
device

căn”,(1) “vô phùng tháp”.(2) Hoặc dùng ba câu để phá trừ bệnh chấp trước là: “một đao chặt đứt làm đôi”, “đánh một gậy để lại một lằn” và “một cái tát in dấu bàn tay máu”.(3)
“Khi chú giải quẻ phục,(4) Hối Am dẫn lời trong kinh Lăng Nghiêm làm chứng cứ rằng: Không chỉ là năm có sự biến đổi, mà tháng cũng có biến đổi.
“Những sách mà Hối Am chú giải, chỉ riêng có một quyển Mao thi(5) là do sức học của ông làm thành mà thôi, ít dùng đến Phật pháp. Ngoài ra, trong sự chú giải các sách Tứ thư(6) cũng như trước tác, Hối Am đều dùng đến Phật pháp. Ông dùng rất nhiều lời trong kinh Phật và các Thiền ngữ, chỉ thay đổi hình thức, biến đổi câu văn, nhưng vẫn giữ lấy ý tứ. Cách dùng như vậy phổ biến trong khắp các sách của ông. Hối Am đã sử dụng những từ ngữ
________________________________________
(1) Giảo thái căn: ăn rễ rau. Cách nói để chỉ người không còn bị trói buộc vào sự tham muốn, có thể tùy duyên mà sống, không bị lôi cuốn theo sự tham dục.
(2) Vô phùng tháp: cái tháp nguyên khối, không có chỗ chắp nối. Cách nói để chỉ trong đạo Phật như vậy, sự việc cực kỳ siêu việt, khó khăn, hầu như không thể dùng năng lực của người bình thường mà làm được. Thường nói “tạo nhất cá vô phùng tháp” (造箇無縫塔), nghĩa là “làm ra một cái tháp nguyên khối”. Còn có cách nói tương tự là vô phùng y (無縫衣): chiếc áo không có đường khâu.
 (3) Những cách nói dẫn trong đoạn này đều được rút ra từ kinh điển và các sách ngữ lục của Thiền tông.
(4) Quẻ phục: tên một quẻ trong kinh Dịch, vị trí ở dưới quẻ chấn, trên quẻ khôn, chỉ sự trở lại, trở về.
(5) Mao thi: tức là bản kinh Thi do hai nhà họ Mao là Mao Hanh (毛亨) tức Đại Mao và Mao Trường (毛長) tức Tiểu Mao sưu tập, chú giải và truyền lại. Tương truyền vào đời Hán vẫn còn đến 4 bản kinh Thi, ngoài bản của họ Mao ra còn có Lỗ thi do Thân Bồi (người nước Lỗ) chú giải, Tề thi do Viên Cố Sanh (người nước Tề) chú giải, và Hàn thi do Hàn Anh (người nước Yên) chú giải. Về sau, bản Tề thi truyền đến đời Ngụy thì tuyệt bản; bản Lỗ thi truyền đến đời Tấn rồi mất; bản Hàn Thi cũng chỉ truyền đến đời Ngũ đại. Cho đến nay chỉ còn lại duy nhất bản Mao thi mà thôi.
(6) Tứ thư: bốn bộ sách được xem như kinh điển giáo khoa của Nho giáo, gồm có: Đại học, Luận ngữ, Trung dung và Mạnh tử.

* Trang 925 *
device

trong Đạo Phật như vậy, lại sợ các ông Chu tử(1) và Trình tử(2) làm sáng rõ lời Phật, thật chẳng biết lòng dạ của ông ta như thế nào?
“Hối Am trước theo học với Lý tiên sanhở Diên Bình.(3) Sau giận vì học lâu mà không có chỗ sáng rõ, lại tìm hỏi các bậc trưởng thượng, ai nấy đều hướng về Thiền học. Do đó ông mới tìm học khắp các bậc tiền bối trong nhà Thiền. Ông có cùng với Lữ Đông Lai và Trương Nam Hiên đến hỏi đạo nơi ngài thiền sư Đại Huệ.(4)
“Năm 18 tuổi, Hối Am cùng với Lưu Bình Sơn dạo chơi. Bình Sơn có ý cho rằng Hối Am lưu tâm về đường khoa cử, bèn lục tìm trong rương của Hối Am, nhưng chỉ thấy có một bộ ngữ lục của thiền sư Đại Huệ mà thôi. Qua năm sau, Hối Am thi đỗ.(5)
“Hối Am gửi thư cho thiền sư Khiêm ở chùa Khai Thiện nói rằng: ‘Chu Hy này nhờ ơn thiền sư Đại Huệ chỉ bày cho câu thoại đầu(6) tánh Phật của con chó,(7) nhưng chưa
________________________________________
(1) Tức Chu Liêm Khê.
(2) Tức Trình Minh Đạo và Trình Y Xuyên.
(3) Hối Am đỗ tiến sĩ năm 18 tuổi, được bổ làm Chủ bạ huyện Đồng An tỉnh Phúc Kiến, chỉ được ít lâu thì từ quan về quê. Ông nghe tiếng tiên sanh Lý Đồng ở Diên Bình thuộc huyện Nam Bình là người đạo cao đức trọng liền tìm đến tham học.
(4) Đoạn này trích từ sách Đại huệ niên phổ.
(5) Trích ở lời tựa cuốn Đại Huệ Ngữ lục. Về năm tháng hẳn có phần sai biệt đôi chút, vì các tư liệu chính thức chép rằng Hối Am đỗ tiến sĩ năm 18 tuổi. Cũng có thể do cách tính tuổi theo âm lịch, tròn 18 tuổi được tính là 19 tuổi.
(6) Thoại đầu: câu nói hoặc câu chuyện kể được các bậc thầy nêu ra làm đầu mối tham cứu cho các thiền sanh, giúp họ qua quá trình tham cứu có thể đạt đến chỗ liễu ngộ. Thông thường thì thoại đầu hay các công án không mang ý nghĩa suy luận mà ngược lại còn nhắm đến việc dứt sạch mọi sự suy luận, phán xét của thiền giả.
(7) Tánh Phật của con chó (cẩu tử Phật tánh): Đây chỉ công án thứ nhất trong Vô môn quan, tức công án Triệu Châu cẩu tử(Con chó của ngài Triệu Châu). Trong công án này kể rằng, có người hỏi ngài Triệu Châu: “Con

* Trang 926 *
device

có chỗ ngộ nhập. Xin ngài ban cho một lời để gợi mở chỗ mà Chu Hy chưa hiểu được.’ Thiền sư Khiêm viết thư đáp rằng: ‘Cứ nắm chặt lấy một niệm nêu lên cái thoại đầu con chó ấy, không cần so đo tính toán, mạnh mẽ xông về phía trước, một đao chặt đứt làm đôi.’ Hối Am xem thư có chỗ thức tỉnh.(1)
“Hối Am tụng kinh Phật nơi mái hiên chùa Trúc Lâm, có làm bài thơ rằng:
Nghiêm cẩn sống riêng, lòng rỗng không,
Lần dở Phật kinh, lướt đôi dòng.
Bụi trần tạm phủi trong thoáng chốc,
Vượt lên cùng Đạo bỗng tương thông.

Cửa chùa khép lại chiều buông tối,
Núi vắng mưa xong tiếng chim rền.
Pháp vô vi ấy vừa thấu suốt,
Thân tâm cùng tĩnh lặng như như.(2)
“Hối Am có thư nói với thiền sư Quốc Thanh rằng: ‘Khi nào thơ của Hàn Sơn Tử khắc xong, xin thầy sớm gửi cho tôi.’(3)
“Hối Am lại có gửi cho một vị tăng ẩn cư trên núi bài thơ rằng:
__________________________________________
chó có tánh Phật hay không?” Ngài Triệu Châu đáp: “Không.” Kinh Phật dạy rằng: “Tất cả chúng sanh đều có tánh Phật.” Nhưng ngài Triệu Châu lại là một bậc chân tu thực chứng nên lời dạy của Ngài cũng không thể nói là sai. Vì thế, công án này nêu lên một điều hầu như hoàn toàn mâu thuẫn, trái ngược, không thể lý giải, buộc người tham cứu phải toàn tâm toàn ý dứt sạch mọi sự suy xét phân biệt mới có thể hội nhập được.
(1)Những chi tiết này được trích ở các sách Tư giám, Củng thần tập và Tánh lý quần thư.
(2)Đoạn này trích ở Chu tử đại toàn tập và Đạo dư lục.
(3)Đoạn này trích ở bản in cũ tập Hàn Sơn thi.

* Trang 927 *
device

Mái thiền thanh thản mấy thanh ngang,
Nước trong êm chảy trước lan can.
Đệm cỏ, ghế tre, ngồi suốt sáng,
Quét đất, xông hương, ngày ngủ càn.
Đất hẹp không đón người khách lớn,(1)
Nhà trống sao trời chẳng rải hoa?(2)
Trong ấy có lời không ai biết,
Đâu phải chuyện thiền khắp muôn phương?(3)
“Các ông Lục Văn An, Công Cửu Uyên đều đã cùng tranh luận với Hối Am về thuyết Thái cực đồ, đều biết chỗ học thiền của Hối Am, nên nói rằng Hối Am có chỗ chứng ngộ thì người đời đều chê cười việc ấy.(4)
_________________________________________
(1) Không đón người khách lớn: nguyên văn dùng “bất dung huy chủ khách”, tức là vị khách cầm cây phất chủ, chỉ các bậc đại tăng lúc nào cũng cầm cây phất chủ (phất trần), khi thuyết pháp trên tòa thì vung cây phất chủ này để làm điệu bộ. Ý nói không phải nơi đây chẳng có các bậc cao tăng đại giá quang lâm, chỉ vì chật hẹp nên không thể đón tiếp các vị. Câu này còn hàm ý chủ nhân không hề quan tâm đến danh tiếng cao trọng, chỉ vui sống thanh thản trong thiền thất chật hẹp của mình.
(2) Nhà trống sao trời chẳng rải hoa: Câu này liên hệ đến cảnh nhà trống không của vị Bồ Tát Duy-ma-cật trong kinh Duy-ma-cật sở thuyết, thường được chư thiên đến rải hoa cúng dường tán thán. Ý nói thiền thất trống không này cũng xứng đáng được chư thiên rải hoa cúng dường. Các bản trước đây đều dịch là “hoa trời”, nhưng theo cấu trúc Hán ngữ, nếu muốn nói “hoa trời” thì phải là “thiên hoa” chứ không phải “hoa thiên”. Nguyên tác dùng “tán hoa thiên” là để chỉ “vị trời rải hoa” chứ không thể hiểu là “rải hoa trời”.
(3) Nguyên bản dùng “chư phương ngũ vị thiền”, chỉ 5 loại thiền định mà người học thiền trong khắp thiên hạ thường noi theo, bao gồm: 1. Ngoại đạo thiền, pháp thiền không thuộc về đạo Phật. 2. Phàm phu thiền, pháp thiền của kẻ phàm phu. 3. Tiểu thừa thiền, pháp thiền của hàng Tiểu thừa, tức Thanh văn, Duyên giác. 4. Đại thừa thiền, pháp thiền của hàng Bồ Tát Đại thừa. 5. Như Lai thanh tịnh thiền, pháp thiền cao trổi nhất, thấu suốt tự tánh, thẳng tới quả Phật. Đoạn này trích ở Sự văn loại tập.
(4) Đoạn này trích ở sách Sử lược.

* Trang 928 *
device

“Có người hỏi: ‘Hiện nay kẻ sĩ đều lần hồi bỏ đạo Nho vào cả trong nhà Thiền, việc ấy thế nào?’
“Hối Am đáp: ‘Những người ấy thấy biết hơn ông đó. Bình sanh ông đọc biết bao nhiêu sách vở, học thuộc bao nhiêu áng văn chương, chỉ là để mưu cầu được công danh lợi lộc mà thôi. Đến chỗ thiết yếu nhất trong đời(1) thì những việc ấy đều chẳng cậy nhờ được gì cả. Vì thế nên bị những người kia vượt qua cả rồi.
“Vương Giới Phủ(2) bình sanh học rộng đạo lý, đến khi được tỏ ngộ rồi thì biến nhà mình thành cảnh chùa.(3) Cũng trong đời Tống này, hãy xem các ông Lý Văn Tĩnh Công, Vương Văn Chánh Công, Lưu Nguyên Thành, Lữ Thân Công... là người như thế nào mà đều theo vào Thiền học cả?
“Những điều Phật dạy về Sáu căn, Sáu trần, Sáu thức, Bốn đại, Mười hai duyên sanh... đều hết sức tinh vi mầu nhiệm, nên người theo đạo Nho nói rằng Đức Khổng tử không thể theo kịp. Mười hai duyên sanh được giảng rõ trong bộ Hoa nghiêm hiệp luận. Phật dạy căn bản là phải buông bỏ hết muôn việc nơi thế gian, sau lại dạy rằng chỗ chân thật nhất là không hề vướng một mảy may bụi trần, nhưng đối với muôn việc diễn ra trước mắt không bỏ qua việc nào! Tổ Đạt-ma phá sạch mọi khuôn mẫu cứng nhắc,
______________________________________________
(1)Đến chỗ thiết yếu nhất trong đời: chỗ đối mặt với chuyện sống chết, quyết định ý nghĩa cuộc đời. Nguyên tác dùng “đáo giá lý”, là cách nói của Thiền tông để chỉ đến chỗ đối mặt sanh tử, chỗ xét cùng ý nghĩa đời sống.
(2)Vương Giới Phủ: tức Vương An Thạch, làm quan đến chức Tể tướng đứng đầu trong triều. Ông nắm quyền chính từ năm 1069, vào đời Tống Thần Tông, thi hành chính sách mới gọi là Tân pháp với rất nhiều cải cách táo bạo.
(3)Biến nhà mình thành cảnh chùa (xả trạch vi tự): tự mình quyết tâm tu học nên sửa đổi ngôi nhà đang ở thành cảnh chùa để tu tập.

* Trang 929 *
device

khởi xướng Thiền học, so với cái học ngữ nghĩa rất khác xa, thật cao siêu mầu nhiệm.
“Đại ý kinh Kim cang chỉ ở nơi hai câu hỏi của ông Tu-bồ-đề: Nên trụ tâm vào đâu? Làm thế nào để hàng phục tâm? Vậy nên Phật dạy rằng: Không nên trụ nơi pháp mà sanh tâm. Không nên trụ vào sắc mà sanh tâm...
“Thiền tông có lời rằng:
Có vật sanh trước trời đất,
Không hình tướng, vốn lặng yên;
Chi phối khắp thảy hiện tượng,
Chẳng theo bốn mùa tàn suy.
 
Đánh rụng không là vật khác
Dọc ngang chẳng phải bụi trần;
Khắp cả núi sông, cõi đất,
Hiện bày toàn thân Pháp vương.
“Nếu ai nhận biết được tâm thì khắp cõi đất này cũng chẳng có lấy một tấc đất. Hãy xem kiến thức của người ta là thế nào, nay cứ bo bo giữ lấy kiến thức của hạng tiểu nho thì làm sao ra khỏi tay người, tránh sao khỏi bị người đánh ngã?’(1)
Hối Am đã học biết rộng về Phật học như vậy, nhưng lại dạy người từ bỏ Phật học, thật chẳng biết tâm ý của ông ấy là thế nào?”
(Trước đây có nói rằng Hối Am tự mình sử dụng từ ngữ của đạo Phật, nhưng lại sợ các ông Chu tử và Trình tử
____________________________________
(1)Đoạn vấn đáp này trích ở Chu tử ngữ lục và các sách Dịch giải, Âu Dương Huyền tạp ký, Tánh lý quần thư.

* Trang 930 *
device

giảng rõ lời Phật; tự mình học rộng về đạo Phật, nhưng lại dạy người ta từ bỏ Phật học. Hai điểm này đều làm lộ rõ chỗ tâm bệnh của Hối Am.)
Thiền sư Không Cốc lại nói với Vương Trung rằng: “Nếu ông có thể thâm nhập hòa hợp, quán chiếu thấu suốt, thấy được  một  cách  toàn  diện,  thì  mới  biết  rằng  các  ông  Chu, Trình, Trương, Tạ, Du, Dương(1) và Hối Am thảy đều làm như vậy. Trong khi viết sách, đặt câu, những chỗ thuyết dạy đạo lý thì mỗi việc đều lấy ý tứ trong kinh Phật, lời Thiền. Há chẳng nghe Trung Túc Công có nói rằng: ‘Học thuyết tánh lý do thầy Đông Lâm truyền cho Liêm Khê, những lời dạy ấy đều thấy có trong khắp các kinh Phật.’
“Gần đây, thảng hoặc có đôi kẻ chỉ vào Thiền ngữ mà nói rằng: ‘Chương sách này sao giống với lời lẽ của Tống nho! Những câu này cũng giống với văn chương Tống nho!’
“Than ôi! Họ chưa từng biết rằng ngôn ngữ của Tống nho đều từ nơi Thiền tông mà ra vậy!”
Thái Nguyên thưa rằng: “Những lời thầy vừa nói đó đều lấy từ sách Nho, nên chẳng phải theo ý riêng, mà quả thật là công bằng. Vả lại, những người đời bài bác đạo Phật, có thể là do sức học chưa được sâu rộng hay chăng? Có thể là do lý lẽ chưa được thông suốt hay chăng? Có thể là do công phu học Phật chẳng đến nơi đến chốn nên trở lại bài bác hay chăng? Có thể là do sự dụng tâm như Kỷ
______________________________________
(1)Chu, Trình, Trương, Tạ, Du, Dương: chỉ các ông Chu Liêm Khê, Trình Di và Trình Hạo, Trương Hoành Cừ, Tạ Lương Tả, Dương Thời. Riêng họ Du có nhắc đến trong bài trước, có thể là một học trò của Trình tử nhưng chúng tôi chưa biết chính xác là người nào.

* Trang 931 *
device

 
Quy Nguyên Trực Chỉ