LOGO VNBET
願我臨欲命終時,
盡除一切諸障礙。
靣見彼佛阿彌陀,
即得往生安樂刹剎。
者是也。可謂。
一朝踏著來時路,
始覺從前錯用心。
 
 
8. Khuyên người phát nguyện chân chánh, quyết định vãng sanh(1)
Ngài Từ Chiếu Tông chủ(2) dạy rằng: “Có hạnh, không nguyện, hạnh ấy ắt là không thành. Có nguyện, không hạnh,nguyện ấy ắt là yếu ớt. Không hạnh,không nguyện, ở mãi  chốn Diêm-phù vô nghĩa. Có hạnh,
_______________________________
(1) Bài trước chỉ rõ các lẽ chánh tà, giúp cho người tu hành chân chánh quyết định dứt nghi, phát khởi chánh nguyện. Bài này khuyên lấy sự chánh nguyện vững bền, mạnh mẽ để được vãng sanh.
(2) Từ Chiếu Tông chủ, hiệu Tử Nguyên, cao tăng đời Nam Tống, sáng lập Bạch Liên tông, người đất Côn Sơn, Bình Giang. Ngài họ Mao, nên cũng được gọi là Mao Tử Nguyên, trước có tên là Phật Lai, hiệu là Vạn Sự Hưu. Từ nhỏ đã theo học với ngài Chí Thông ở chùa Diên Tường, thường tụng đọc kinh Pháp Hoa. Năm 19 tuổi cạo tóc xuất gia, tu tập pháp thiền chỉ quán. Sau đó hâm mộ giáo pháp Tịnh độ của ngài Huệ Viễn ở Lô sơn truyền lại, rộng khuyên mọi người quy y Tam bảo, thọ trì Ngũ giới, niệm Phật A-di-đà. Sau đến núi Vu Điến sáng lập Bạch Liên sám đường, tu tập và truyền giảng pháp môn Tịnh độ. Không rõ năm sinh, chỉ biết ngài viên tịch năm 1166, niên hiệu Long Hưng thứ 4 đời Tống Hiếu Tông.

* Trang 174 *
device

Nguyện ngã lâm dục mạng chung thời.
Tận trừ nhất thiết chư chướng ngại.
Diện kiến bỉ Phật A-di-đà.
Tức đắc vãng sanh An Lạc sát.
Giả thị dã. Khả vị.
Nhất triêu đạp trước lai thời lộ.
Thủy giác tùng tiền thố dụng tâm.
 
có nguyện, thẳng nhập vào cõi vô vi. Đó là cái căn bản tu nghiệp thanh tịnh của chư Phật Tổ.
Vì sao vậy? Lý do trí dẫn đường, hạnh do nguyện khởi lên. Hạnh và nguyện được như nhau thì lý và trí đều gồm đủ.
Nguyện tức là điều ưa thích, mong muốn. Như mong muốn được sanh về cõi Tịnh độ phương tây; ưa thích được thấy đức Phật A-di-đà. Cần phải phát nguyện, sau mới được vãng sanh. Nếu không có tâm nguyện, căn lành rồi sẽ tiêu mất.
Kinh Hoa Nghiêm dạy rằng: “Nếu chẳng phát nguyện lớn, ắt bị ma dắt dẫn.”(1) Hết thảy quả Phật đều do từ
______________________________________
(1)Câu này trích từ quyển thứ 42, phẩm thứ 33 (Ly thế gian phẩm- 離世間品) trong kinh Hoa Nghiêm, gọi đủ là Đại phương quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh(大方廣佛華嚴經).

* Trang 175 *
device

nguyện lớn khởi lên, nên muốn được quả Vô thượng Bồ-đề, phải có nguyện ba-la-mật.  Vì  vậy,  ngài  Phổ  Hiền  khơi  rộng  biển nguyện vô biên, đức Di-đàmở ra bốn mươi tám cửa nguyện. Cho nên biết rằng mười phương chư Phật cho đến thánh hiền xưa nay đều do nơi nguyện lực mà thành tựu Bồ-đề.
Luận Trí độ, quyển tám,(1)có câu hỏi rằng: “Chư Bồ-đề hạnh nghiệp thanh tịnh, tự nhiên được báo phần hơn, cần gì phải lập thệ nguyện, rồi sau mới được thọ báo? Vả lại, như người làm ruộng tất có lúa, há phải đợi có nguyện hay sao?”
Đáp  rằng:  “Làm  phước  không  có  nguyện,  không  có  chỗ hướng về. Nguyện là sức dẫn dắt, quy hướng, nhờ đó mà thành  tựu.  Như  Phật  có  dạy  rằng:  Như  người  tu  hành  ít phước,  ít  giới,  chẳng  rõ  biết  chánh  nhân  giải  thoát,  nghe nói về sự vui sướng ở cõi người, cõi trời nên thường mong cầu. Sau khi thác đều sanh về những cõi ấy. Đó đều là do nguyện lực dẫn dắt đến. Bồ Tát cầu sanh Tịnh độ là nhờ ở chí nguyện bền vững mạnh mẽ, mới được vãng sanh.” Lại dạy rằng: “Tuy tu ít phước, nhưng nhờ có nguyện lực nên được thọ báo Đại thừa.”
Luận Đại trang nghiêmdạy rằng: “Sanh về cõi Phật là chuyện lớn, nếu chỉ nhờ vào công đức thì không thể thành tựu được. Cần phải có nguyện lực giúp vào mới được vãng sanh, do nơi nguyện mà được thấy Phật.”(2)
______________________
(1)Tức là Đại trí độ luận. Nhưng nguyên tác bị sai ở đây, vì đoạn này được trích lại từ sách Liên tông bảo giám, nhưng sách này lại ghi nhầm, vì thật ra đoạn này trong Đại trí độ luậnnằm ở quyển 7 chứ không phải quyển 8. Ngoài ra, sách Liên tông bảo giámcũng đã lược bỏ một số câu khi trích lại đoạn này từ Đại trí độ luận. Xin lưu ý để quý độc giả tiện tra khảo.
(2) Đoạn này được trích từ sách Vạn thiện đồng quy(萬善同歸集), quyển trung, ghi rõ là trích từ Đại trang nghiêm luận. Ngoài ra cũng thấy đoạn trích này ở các sách Pháp uyển châu lâm(法苑珠林), quyển 16 và Chư kinh yếu tập (諸經要集), quyển trung, ghi rõ là trích từ Đại Trang Nghiêm Luận. Ngoài ra cũng thấy đoạn trích

* Trang 176 *
device

Kinh A-di-đàdạy rằng: “Như người có lòng tin, nên phát nguyện sanh về cõi ấy.”(1)
Kinh  Hoa  nghiêm,  phẩm  Hạnh  nguyện(2)  có  dạy  rằng: “Vào thời khắc cuối cùng trước lúc mạng chung, hết thảy các căn đều hoại mất, hết thảy thân thuộc đều lìa bỏ, hết thảy oai thế đều không còn, cho đến voi, ngựa, xe cộ, của báu, kho tàng đều không còn nữa. Duy chỉ có nguyện lớn là không lìa bỏ, luôn luôn dẫn đường phía trước, nên chỉ trong khoảnh khắc liền được vãng sanh về thế giới Cực Lạc.”
Do đó mà suy ra, nên thường xuyên phát nguyện, mong muốn được vãng sanh, ngày ngày đều cầu mong, đừng để thối mất chí nguyện.
Cho nên nói rằng: Pháp môn dù rộng lớn, không có nguyện cũng chẳng theo. Do đó mà Phật tùy theo lòng người, giúp người được như nguyện.
Than ôi! Nhìn khắp những người đời nay có lòng tin theo về cửa Phật, hoặc vì bệnh tật khổ não mà phát tâm, hoặc vì báo ơn cha mẹ mà khởi ý, hoặc vì muốn giữ lấy cửa nhà, hoặc vì sợ tai họa mà ăn chay. Dầu cho có lòng tin, nhưng chẳng có hạnh nguyện; tuy nói là niệm Phật, nhưng không đạt đến chỗ cội gốc của chính mình.
_________________________________
này ở các sách Pháp uyển châu lâm(法苑珠林), quyển 16 và Chư kinh yếu tập (諸經要集), quyển1. Nguyên tác Quy nguyên trực chỉghi 4 chữ đầu đoạn này là佛國大事, chúng tôi căn cứ vào sự thống nhất của cả 3 sách vừa dẫn trên để sửa lại là佛國事大. Như thế hợp lý hơn, vì chữ大được dùng như một trạng từ chứ không phải tính từ. Phần dịch nghĩa cũng căn cứ trên sự chỉnh sửa này.
(1) Tức là cõi Cực Lạc, nơi Phật A-di-đàđang thuyết pháp.
(2) Nói đủ là kinh Đại phương quảng Phật Hoa nghiêm(大方廣佛華嚴經), quyển 40, phẩm Nhập bất tư nghị giải thoát cảnh giới Phổ Hiền hạnh nguyện(入不思議解脫境界普賢行願品).

* Trang 177 *
device

Phàm những kẻ làm việc thiện đều là mong được thỏa sự mong cầu, hiếm hoi lắm mới có người vì luân hồi sanh tử mà phát nguyện niệm Phật cầu sanh Tịnh độ. Thường khi người ta dâng hương đèn nơi đạo tràng, những lời cầu nguyện đều là hướng đến chỗ bộc bạch với thần minh để cầu cho được tai qua nạn khỏi, tuổi thọ dài lâu. Do đó mà trái ngược với ý nghĩa kinh sám, không phù hợp với bản nguyện của chư Phật. Dầu cho trọn đời tu hành tụng niệm cũng chẳng rõ lý thú, vận dụng công phu sai lầm. Cho nên mới nói là: “Suốt ngày tính đếm châu báu của người, còn tự mình chẳng được lấy  nửa  đồng  tiền!”  Đến  khi  lâm  chung  chẳng  được  vãng sanh Tịnh độ, đều chỉ là do chẳng có hạnh nguyện mà thôi!
Lại có những kẻ ngu si, khi về thọ giới theo Phật liền đối trước Tam bảo mà dâng hương phát lời thề rằng: “Nếu tôi phá giới, xin chịu bệnh dữ đeo đuổi nơi thân, mãi mãi đọa nơi địa ngục.” Hoặc thề rằng: “Nếu tôi phá giới, xin chịu nơi mắt trái chảy máu, mắt phải chảy mủ; tự mình cam chịu thọ báo.”
Đã từng thấy nhiều người miệng nói ra như vậy mà lòng không nhớ nghĩ, vẫn phá trai, phạm giới, rồi phải chịu tai ương hoạn họa, thọ các ác báo. Hoặc trong hiện tại chịu sự trừng trị của pháp luật, hoặc khi chết rồi phải đọa vào ba đường dữ: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
Than ôi! Thật chẳng biết rằng Phật Tổ khởi lòng đại từ bi, có bao giờ dạy người những chuyện như vậy? Đó đều là chỗ lầm lỗi của bọn tà sư, lẫn lộn những thuật chú phạt mà cho là phát nguyện, thật là lầm lẫn biết bao!

* Trang 178 *
device

Nghĩ mà thương xót, xin khuyên hết thảy mọi người đồng phát  chánh  nguyện,  cầu  sanh  Tịnh  độ,  cùng  nhau  thẳng đến quả Phật.
Hẳn có người nói rằng: “Tôi là phàm phu, đâu dám mong cầu sanh về Tịnh độ, được làm Phật hay sao? Nếu mong cầu như vậy, lại thành ra hoang tưởng mà thôi.”
Xin thưa rằng: “Không phải vậy. Này quý vị! Phật tức là giác, Tịnh độ là tâm. Tâm này, ai mà chẳng có? Nếu tâm giác ngộ tức tự mình là Phật, còn khi tâm mê, ấy là chúng sanh. Người đời vì trái với giác, hợp với trần, cho nên phải luân hồi trong ba cõi,(1) sanh ra theo bốn cách (2) trong sáu đường.(3)  Nghiệp  duyên  thiện  ác,  thọ  báo  tốt  xấu,  đều  do nhận lầm bốn đại(4) là thân, sáu trần (5) thật có. Vì thế mà nương theo những cảnh huyễn ảo bên ngoài, ngày đêm lưu chuyển, chẳng lúc nào chịu quay lại quán chiếu, ăn chay niệm Phật.
Suốt đời từ trẻ đến già chỉ lo việc nhà chẳng xong, tiền bạc  của  cải  chưa  được  như  ý,  nhưng  càng  được  nhiều  lại càng  mong  cầu,  lòng  tham  không  thỏa!  Dầu  cho  cũng  có làm lành làm phước, thờ Phật thắp hương lễ bái, nhưng
_____________________________________
(1) Ba cõi (Tam giới), bao gồm Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Hết thảy chúng sanh trong cõi luân hồi đều không ra ngoài ba cõi này.
(2) Sanh ra theo bốn cách (Tứ sanh), bao gồm: thai sanh (sanh ra từ bào thai), noãn sanh (sanh ra từ trứng), thấp sanh (sanh ra từ chỗ ẩm thấp) và hóa sanh (sanh ra do sự biến hóa). Chúng sanh trong ba cõi đều sanh ra theo một trong bốn cách này.
(3) Sáu đường (Lục đạo), bao gồm: thiên (cõi trời), nhân (cõi người), a-tu-la, địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh. Chúng sanh do nghiệp lực chiêu cảm, đều phải thác sanh vào một trong sáu đường này.
(4) Bốn đại (tứ đại), bao gồm đất, nước, gió, lửa (địa, thủy, hỏa, phong), được cho là bốn yếu tố vật thể cấu thành vật chất, thân thể, nhưng thật ra chúng chỉ là giả hợp, không thường tồn, nên không phải là bản ngã chân thật.
(5) Sáu trần (lục trần), bao gồm: hình sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm, xúc chạm và các pháp (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp).

* Trang 179 *
device

 
Quy Nguyên Trực Chỉ