LOGO VNBET
一大藏經都說盡,
不知誰是箇中人。
 
宗本隱居偈
山居靜裏悟眞空,
普勸人閒淨土功。
一顆髻珠親受得,
雲林隱者遠相從。

PHỤ LỤC
Trăm bài thơ vịnh đời sống nơi núi sâu

Ngài  Tông  Bổn  trong  khi  ẩn  cư  nơi  núi  sâu có ngẫu hứng trước tác 100 bài thơ vịnh đời sống ẩn cư tu tập, mỗi bài đều bắt đầu bằng hai chữ Sơn cư, nên gọi là Sơn cư bách vịnh, được đưa vào làm phụ lục của quyển hạ. Nguyên tác còn có phần lời tụng theo sau các bài thơ,(1) nhưng chúng tôi cho rằng tự thân các bài thơ đã hàm chứa ý muốn diễn đạt của tác giả, nên đã lược đưa các bài tụng vào chung với các chú giải. Hy vọng như vậy sẽ giúp cho việc tiếp nhận ý thơ khách quan hơn, tránh được ảnh hưởng của các lời tụng.
_______________________________
(1)Phần lời tụng này không phải do ngài Tông Bổn trước tác, mà được thêm vào sau này.

* Trang 1306 *
device

Nhất đại tạng kinh đô thuyết tận,
Bất tri thùy thị cá trung nhân!
 
Tông Bổn ẩn cư kệ
 
Sơn cư tĩnh lý ngộ chân không,
Phổ khuyến nhân gian Tịnh độ công.
Nhất khỏa kế châu thân thọ đắc,
Vân lâm ẩn giả viễn tương tùng.

1.
Núi cao, gương cũ lắm bụi trần,
Nay thường lau rửa, sắc trong ngần.
Bụi trần đã sạch, vầng sáng hiện,
Mặt mũi xưa nay thấy rõ dần.(1)
2.
Núi cao, gắng học rõ thiền tông,
Ngày ngày suốt thấu lẽ khổ, không.
 
_____________________________________________
 
(1)Chỗ sáng suốt tỏ ngộ của người tu tập trong núi sâu không phải từ ngoài có được hay ngày nay mới có, chính thật là sự sáng suốt vốn có từ xưa nay, chỉ vì bụi trần che lấp mà không hiển bày, nay nhờ sự tu tập “lau rửa” thường xuyên mà mặt gương trở lại sáng rõ như xưa.

* Trang 1307 *
device

Mặt thật xưa nay nếu không biết,
Nhìn hoa cười mỉm, đạo chẳng đồng.(1)
            3.
Núi cao, mây trắng mấy tầng sâu,
Rõ biết chân tâm ấy đạo mầu.
Mở ra phủ trọn toàn cõi pháp,
Thâu về kim nhỏ chẳng lọt đầu.(2)
            4.
Núi cao, học đạo chỉ cầu tâm,
Ngoài tâm đừng nhọc sức truy tầm.
Cất bước thẳng lên tòa Chánh giác,
Vàng ròng, lá úa chớ so nhầm!(3)
            5.
Núi cao, quay lại xét tự tâm,
Một bước lui về, đường trước thông.
Công phu miên mật đừng gián đoạn,
Thiền ý Tổ sư ắt rõ thông.(4)
_________________
(1) Lẽ cốt yếu của người tu tập là thấu suốt lẽ khổ, không; nhận biết được chân tâm thanh tịnh thường tồn. Nếu không được như vậy, dù có bày ra cái tướng “nhìn hoa mỉm cười” như ngài Ca-diếp thuở xưa cũng chẳng có ý nghĩa gì.
(2) Rõ biết chân tâm là yêu cầu trước tiên của người học đạo. Chân tâm ấy chẳng những thường thanh tịnh sáng suốt (thể) mà còn có công năng biến thông khắp pháp giới, cho đến sâu kín nhỏ nhiệm không gì bằng (dụng).
(3) Nhận biết chân tâm là yếu chỉ của người học đạo, nên đừng chạy theo những tri kiến bên ngoài mà mong rõ biết được tâm. Người tu phải một đường thẳng tới sự giác ngộ chân thật là quả vị Phật, đừng nhầm lẫn với những quả vị phương tiện của hàng nhị thừa, vốn cũng giống như chiếc lá vàng được người ta dùng khi dỗ trẻ con mà bảo đó là vàng.
(4) Trong việc tu tập thì hồi quang phản chiếu là điều hết sức quan trọng. Tuy nói lui về quán sát tự tâm mà thật ra chính là vượt lên phía trước trên con đường tu tập. Nếu có thể công phu miên mật không gián đoạn như vậy thì chắc chắn sẽ rõ thông được yếu chỉ của chư Tổ.

* Trang 1308 *
device

6.
Núi cao, vắng lặng dưỡng tánh trời,
Chỉ nên gìn giữ chẳng buông lơi.
Khéo chuyển niệm tình thành niệm đạo,
Lẽ ra thành Phật đã bao đời.(1)
7.
Núi cao, phủi sạch hết bụi trần,
Ngày tháng ngu ngơ, dưỡng tánh chân.
Ai biết đó thật là nghiệp sống,
Kẻ thế cười chê bảo ngu đần.(2)
8.
Núi cao, am nhỏ lợp cỏ tranh,
Giữ đạo, an nhiên vui tự thành.
Suốt ngày cửa đóng, không việc khác,
Gối mây nằm ngủ, duỗi thẳng chân.(3)
9.
Núi cao, phong cảnh khác cõi trần,
Mây bay, chim hót, tự xoay vần.
 __________________________________________
(1) Việc tu tập là nuôi dưỡng tánh chân thật sáng suốt, không phút buông thả theo trần cảnh, nhờ đó mà mỗi niệm chạy theo phàm tình đều được chuyển thành niệm tưởng đạo pháp. Nếu quả thuần thục như thế thì đã thành Phật từ lâu rồi!
(2) Người tu tập nhận biết được chân tánh sáng suốt cũng giống như người câm nằm mộng, tuy rõ biết mà không thể nói cho ai biết, nên mọi người đều cho là ngu đần.
(3) Cuộc sống thanh bần tuy không có những tiện nghi thế tục nhưng lòng giữ theo chánh đạo nên tự nhiên vui vẻ, thoải mái. Cửa sáu căn đã đóng, trần cảnh không lối vào, nên mặc tình nghỉ ngơi thanh thản mà lòng vẫn không thiếu sự tinh tấn tu tập.

* Trang 1309 *
device

Ta, người một lẽ, quên phân biệt,
Cửa sài(1) tuy có, thường mở toang.(2)
10.
Núi cao, huyên náo vắng từ lâu,
Tăng nhàn, dứt học, làm chi đâu?
Một bụng gió trăng, vui thỏa thích,
Hòa ánh xuân nồng, hát mấy câu.(3)
11.
Núi cao, lão nạp chẳng tài tình,
Cúng Phật ngọn đèn, thắp lung linh.
Không đợi thêm dầu, đèn vẫn sáng,
Mười phương thế giới thảy quang minh.(4)
12.
Núi cao, mỗi ngày đều ngày tốt,
Cơm lức bụng no, nước một vốc.
Ai biết lão tăng nghèo đáo để,
Cây bách trước sân làm hương đốt.(5)
 
______________________________________
(1) Cửa sài, nghĩa là cửa đan kết bằng cỏ, nhưng thường dùng để chỉ cánh cửa gỗ đơn sơ của nhà nghèo. Truyện Kiều câu 529-530: “Cửa sài vừa ngỏ then hoa, gia đồng vào gửi thư nhà mới sang.”
(2) Trần cảnh qua lại tùy duyên bên ngoài không mảy may ảnh hưởng đến người tu, vì chẳng còn phân biệt giữa ta với người hay ta với cảnh. Cuộc sống trở nên an nhiên tự tại, cũng chẳng có chi để phòng bị, giữ gìn, nên cửa thường để ngỏ chẳng cài then.
(3) Người tu tập trong núi sâu xa trần cảnh, dứt cái học tri kiến, không còn việc chi phải làm nên ra vẻ an nhàn tự tại, sống hòa điệu với thiên nhiên, tự lấy làm vui thích.
(4) Thắp lên một ngọn đèn nhỏ nhoi cúng Phật, dù chẳng có tài cán gì nhưng do nơi tâm thức đã sạch mọi trần cấu nên ngọn đèn không cần dầu vẫn tự chiếu sáng, lại chiếu ánh sáng ra khắp cả mười phương thế giới.
(5) Cuộc sống giữa núi sâu tuy không có gì khác hơn cơm lức nước trong, nhưng ngày nào cũng là ngày tốt, dù không có hương đốt cúng Phật thì đã sẵn có cây bách trước sân thay vào.

* Trang 1310 *
device

13.
Núi cao, nghèo kiết sống khô khan,
Giường thiền nghiêng ngả lười sửa sang,
Thánh phàm hai cõi đều quên sạch,
Một vầng trăng sáng giữa rỗng rang.(1)
            14.
Núi cao, cửa khép, rừng tre tối,(2)
Mặc tình nước chảy với mây trôi.
Vui sống phận nghèo, thường an ổn,
Có ai đến hỏi, cúi đầu thôi.(3)
            15.
Núi cao, lưng thẳng bước ra vào,
Việc đời phải quấy, khoát tay chào.
Thân tâm một mối về quê cũ,
Chẳng ai sai khiến chuyện tầm phào.(4)
            16.
Núi cao, hang đá ẩn bên trời,
Khỏi cuốn trôi theo ngọn sóng đời.
 
____________________________________________
(1)Trong tâm thức không còn dựng lập những cõi phàm, cõi thánh phân biệt nhau, chỉ có một vầng trăng tuệ giác soi chiếu giữa hư không rỗng rang, nên những việc tầm thường của thế tục không còn làm mình quan tâm đến.
(2)Câu này lấy ý từ một câu thơ của Hối Am: “Môn yểm trúc lâm u.”
(3)Cuộc sống dù nhìn dưới mắt thế nhân là nghèo túng chẳng có chi, nhưng người tu tập luôn vui thích và an ổn. Nước chảy mây trôi đều thuận theo thời tiết nhân duyên tan hợp, vậy khi có người hỏi đạo còn biết nói thêm điều gì nữa? Nên chỉ cúi đầu thôi!
(4)Những việc thị phi của nhân gian đều không còn vướng bận nên chẳng có gì trói buộc, chẳng có gì khiến mình phải khom lưng uốn gối, chỉ đem hết cả thân tâm hướng về cội nguồn quê cũ để đạt đến sự giải thoát chân thật rốt ráo.

* Trang 1311 *
device

Biết đủ, thường vui, nghèo an ổn,
Người gỗ cùng ta hát nên lời.(1)
            17.
Núi cao, vui đẹp tự cảnh trời,
Thương thay cõi thế rối bời bời.
Phải, quấy, ngược, xuôi... nhiều lợi hại,
Sao bằng ngậm miệng sống hết đời.(2)
            18.
Núi cao, tài vụng sống qua ngày,
Vinh, nhục bày ra trước mắt đây.
Việc đời sớm tối đà xoay chuyển,
Lạ chi biển hóa ruộng dâu đầy.(3)
            19.
Núi cao, sống ẩn thanh thản thay,
Thân tâm vắng lặng, mấy ai hay?
Chẳng phải cầu an, chỉ tránh họa,
Lợi danh trói buộc dứt từ nay.(4)
 
____________________________________
(1)  Sống giữa thiên nhiên, hòa quyện cùng đất trời, ra khỏi sự cuốn hút của thế tục nên có được niềm vui thường tồn, biết đủ và an ổn trong cảnh đạm bạc thanh nhàn. Sống được như thế thì người gỗ cũng hát lên được khúc ca bình an vô sự.
(2) Vui cảnh thiên nhiên tạo hóa sẵn dành cho mà thương kẻ xuôi ngược bon chen nơi thế tục, nhưng dù vậy cũng không bằng ngậm miệng sống yên vì trong chỗ thị phi ấy nói ra lại có ích gì?
(3) Cuộc sống ẩn cư trên núi cao không cần phải bày ra chỗ khéo léo cho người biết, nên thường nuôi dưỡng cái “tài vụng” của chính mình. Việc đời vinh, nhục, được, thua đều sẵn bày trước mắt, chỉ tại người đời không chịu thấy đó thôi, như lẽ thường xưa nay, đến biển cả lâu ngày còn hóa thành ruộng dâu xanh tốt!
(4) Nhờ thu mình sống nơi vắng vẻ mà được sự thanh thản không trói buộc. Giữ thân tâm vắng lặng, chưa nói đến việc được an ổn, chỉ cần không mắc phải bao nhiêu tai họa của cuộc thị phi, cũng đã đủ để cuộc sống này có ý nghĩa hơn nhiều rồi.

* Trang 1312 *
device

20.
Núi cao, chẳng lấy gì sinh nhai,
Cơm nhạt, muối dưa tạm qua ngày.
Phú quý công danh không màng đến,
Được lúc khoan thai cứ khoan thai.(1)
            21.
Núi cao, ăn củ với rau hoài,
Người nhàn thoát vật tháng năm dài.
Ngày qua cứ sửa dần lỗi cũ,
Lo trước làm chi việc sáng mai?(2)
            22.
Núi cao, đâu cũng tự thích nghi,
Tròn, vuông đều được chẳng ngại chi.
Chỉ còn hai việc không sao dứt:
Lúc đói phải ăn, mệt ngủ khì.(3)
            23.
Núi cao, chẳng có việc chi bàn,
Mặt trời chưa khuất, cửa khép ngang.
Phú quý thua người muôn vạn điểm,
Hơn được vài phân cái sự nhàn!(4)
            24.
Núi cao, lều cỏ vài ba gian,
Vui đạo quên tình, cửa mở toang.
 
__________________________________
 
(1) Lục tổ dạy: “Xưa nay không một vật, chỗ nào bám bụi trần.” Có thể nói như vậy là được chỗ khoan thai không lo nghĩ.
(2) Chỉ cần mỗi ngày đều xét mình để tự sửa lỗi. Được vậy thì việc sáng ngày mai đâu cần lo liệu trước?
(3) Gặp việc tiếp cảnh thảy đều an nhiên vô ngại, vì sao còn có hai việc không thể dứt?
(4) Phú quý chẳng hơn được người khác, nhưng cũng hơn được đôi chút thanh nhàn. Bình tâm xét kỹ, còn có gì hơn được sự thanh nhàn ấy chăng?

* Trang 1313 *
device

Quạ kêu, chim hót, lời Bát-nhã,
Trăng trong gió mát bạn tăng nhàn.(1)
            25.
Núi cao, mỗi Phật một lò hương,
Đất trời yên tịnh tháng ngày nương.
Đói ăn, khát uống, không việc khác,
Lạnh sưởi, nóng chờ gió bốn phương.(2)
            26.
Núi cao, rảnh rỗi tùy ngâm nga,
Cơm xong, muốn tỉnh nhấp ngụm trà.
Cõi thế vàng ròng đâu đủ quý,
Được sống an vui ấy mới là...(3)
            27.
Núi cao, sống ẩn dứt muôn câu,
Roi mất, thêm lười việc giữ trâu.
Thả ra không buộc càng vui thú,
Ai ơi sao chẳng sớm quay đầu?(4)
            28.
Núi cao, tâm niệm chút tro tàn,
Chống gậy xem quanh trúc, mai vàng...
Dẫu làm Phật Tổ, lười không muốn,
Khách đến gượng ngồi tiếp xuềnh xoàng.(5)
 
___________________________________________
(1) Gió mát đuổi theo dòng nước chảy, trăng sáng vô tình với mây bay.
(2) Quả thật như thế cũng đã là nhiều việc lắm, đâu chỉ là hai việc?
(3) Thế sự chẳng bận lòng thì ngâm nga những câu gì? Cuộc sống an vui đó đáng giá bao nhiêu?
(4) Giữ trâu giữa núi, cỏ và nước đều sẵn có, sao gọi chẳng quay đầu?
(5) Sao phải gượng ngồi mà tiếp nhau? Nếu ta thật chẳng mua, người làm sao bán được?

* Trang 1314 *
device

29.
Núi cao, đời sống vượt lẽ thường,
Thân tâm chớ để việc ngoài vương.
Ngày trước Triệu Châu lười đối đáp,
Vua đến còn không xuống khỏi giường.(1)
            30.
Núi cao, ẩn kín, cửa khép ngang,
Mừng được ngày qua chẳng rộn ràng.
Gió thoảng rừng thông, lời diệu pháp,
Mấy ai được hưởng tiệc vua ban?(2)
            31.
Núi cao, về ẩn vui tánh trời,
Vắng lặng chân như khế hợp rồi.
Đạo lớn xưa nay không chỗ nhiễm,
Chỉ dừng vọng niệm, sáng tâm thôi.(3)
            32.
Núi cao, ngồi lặng thật tu thiền,
Học đạo gì hơn dứt niệm triền.
Ngọc quý trong áo(4) chưa từng mất,
Cớ sao mãi khó nhọc đi tìm?(5)
 
_________________________________________
(1) Đó chẳng phải lười nhác, mà thật ra là chẳng có lời nào để đối đáp, cũng chẳng có giường nào để bước xuống!
(2) A-di-đà Phật! Thỉnh quý thầy dùng bữa, rồi thỉnh quý thầy lên giảng đường thuyết pháp!
(3)  Việc tu chứng thật chẳng phải không, nhiễm ô thật không thể được. Chính cái “không thể được” đó là chỗ chư Phật xưa nay đều hộ niệm.
(4) Ngọc quý trong áo: lấy ý từ câu chuyện người có viên ngọc quý giấu trong chéo áo mà quên mất, phải lang thang đi tìm mãi.
(5) Ngọc quý giấu trong chéo áo là hình tượng được nêu ra trong kinh Pháp Hoa để ví với chân tâm xưa nay chưa từng mất. Nhưng thử hỏi, ngọc sáng ấy nay đang ở chỗ nào?

* Trang 1315 *
device

33.
Núi cao, sống lặng dưỡng chân tâm,
Kẻ mê tìm kiếm, mãi sai lầm.
Mới biết người xưa lời chẳng dối,
Đàn không dây, mấy kẻ tri âm?(1)
            34.
Núi cao, quay về tự suy ngẫm,
Sắt cây sao đổi được vàng trâm?
Biển có lúc khô còn thấy đáy,
Người đời đến chết chẳng biết tâm.(2)
            35.
Núi cao, ngồi mãi tựa ngu si,
Mà tâm sáng rõ, chẳng sót chi.
Gió giật rừng thông, tai rộn tiếng,
Mặc kệ, thơ còn, ngâm tiếp đi.(3)
            36.
Núi cao, ngẫu hứng mấy vần thơ,
Người nếu mê thơ, ấy dại khờ.
Luân hồi sinh tử còn chưa dứt,
Đừng ôm tri kiến dối tâm cơ.(4)
            37.
Núi cao, đường hiểm ít người lên,
Giường tre yên tĩnh lặng ngồi quên.
 
____________________________________________
(1) Người không nói thì ta không nghe. Không nói, không nghe, đó mới thật là Bátnhã.
(2) Thầy tăng ở núi suy ngẫm chuyện gì? Ấy thật là: trăm ngàn muôn ức kiếp khó gặp.
(3) Gặp người chơi kiếm cho xem kiếm; không gặp bạn thơ chớ bàn thơ.
(4)Đêm vắng chớ đề thơ tuyệt cú, e rằng sao sáng lạc sông băng.

* Trang 1316 *
device

Phận hèn vắng vẻ không bè bạn,
Tự biết lòng ta đã nhẹ tênh.(1)
38.
Núi cao, nếp sống thường nhạt nhẽo,
Thân nghèo nhưng thật đạo chẳng nghèo.
Hạt châu như ý mấy ai biết,
Thương thay đối mặt cách núi đèo!(2)
39.
Núi cao, vắng lặng thích hợp thay,
Khéo giữ tâm lành qua tháng ngày.
Trăng chiếu rừng thông, sáng ý Tổ,
Hỏi ra trong đó mấy ai hay?(3)
40.
Núi cao, phong cảnh vốn tự nhiên,
Đạo lớn bày ra trước mắt liền.
Chẳng rõ ý sâu mầu của Tổ,
Uổng công niệm Phật với tham thiền.(4)
41.
Núi cao, trùm khắp cả hư không,
Muôn hình vạn tượng thảy vào trong.
 
______________________________________
(1) Đường hiểm giữ chặt, thành phàm đều không qua lại. Như người uống nước, nóng lạnh chỉ tự mình biết lấy.
(2) Ngày trước Tào Tháo chạy qua đường Hoa Dung, từng gặp Quan Công nơi ngõ hẹp.
(3) Trong núi vắng vẻ không người biết, chỉ có người ở núi biết được tâm tình ấy thôi.
(4)Không rõ biết yếu chỉ sâu xa mầu nhiệm, uổng công giữ niệm thanh tịnh. Thấy đạo quên núi mới có chỗ lợi ích rộng khắp.

* Trang 1317 *
device

Xoay quanh bốn phía đều Phật sự,
Không hét, không dùng gậy nhọc công.(1)
            42.
Núi cao, ngồi lặng rõ tánh không,
Một pháp suốt thông, vạn pháp thông.
Nào chỉ riêng mình ta thấu biết,
Hằng sa chư Phật thể chung đồng.(2)
            43.
Núi cao, tùy phận ấy tu hành,
Không lo, không nghĩ, đời qua nhanh.
Chân không vốn có, nào ngộ được,
Thánh nhân cũng chỉ gượng giả danh.(3)
            44.
Núi cao, thường khảy đàn không dây,
Một khúc vô sinh, lòng vui thay!
Quay lại lắng nghe, nghe tự tánh,
Nhà nào chẳng có Quán Âm bày!(4)
            45.
Núi cao, ngồi giữa chót vót cao,
Bốn phía cửa song đều thông nhau.
 
_____________________________________________
 
(1) Chuyển thức thành trí, nơi chỗ chuyển ấy cũng chẳng lưu tâm thì dù rộn ràng trăm việc vẫn ở trong đại định.
(2) Di-lặc, quả thật là Di-lặc! Hóa thân trăm ngàn vị, thường hiện ra trước người đời mà không ai tự biết.
(3) Ngày trước ngài Bách Trượng chỉ vào cái bình mà nói: “Gọi tên là đụng chạm, không gọi thì trái ngược.” Quy Sơn liền hất ngã cái bình, Bách Trượng nhận cho là được.
(4) Tìm tâm, tâm nhóm về một mối; quay về một mối cố tìm tâm. Biết đâu là chỗ tìm cầu nữa, lại niệm Nam-mô Quán Thế Âm.

* Trang 1318 *
device

Mây trôi qua lại, ngăn chẳng được,
Cưỡi mây trời rộng rõ tầng cao.(1)
            46.
Núi cao, vắng lặng nằm cũng thiền,
Lời kinh Bát-nhã tụng triền miên.
Mới biết chúng sinh vốn là Phật,
Nước nóng, băng lạnh thể tương liên.(2)
            47.
Núi cao, xa tít vắng bụi trần,
Chẳng đợi tu trì, thấy nguồn chân.
Xưa nay tánh Phật chưa từng mất,
Người trước, người nay chẳng khác phần.(3)
            48.
Núi cao, bốn hướng mặc đi về,
Đạo lớn chưa từng có ngộ, mê.
Thịt da lành lặn khó cắt xẻo,
Bình bát thêm quai rõ thật mê.(4)
49.
Núi cao, nằm đó giữ sạch trong,
Ăn uống tùy duyên đủ vui lòng.
Nào phải cố công trừ vọng niệm,
Vọng niệm, chân như, một thể đồng.(5)
 
_______________________________________________
(1) Trên đỉnh cao chót vót có một con trùng lớn chễm chệ ngồi trên, bao nhiêu người đến đó đều táng thân mất mạng.
(2) Dám hỏi lão tăng: Thế nào là kinh Bát-nhã? Đáp rằng: Sắc tức là không. Lại hỏi: Thọ trì như thế nào? Đáp: Không chẳng khác sắc.
(3) Chỉ đổi chỗ đã làm ngày trước, không đổi người đã làm khi xưa.
(4) Người tốt thật khó làm, việc tốt chẳng bằng không có.
(5) Đêm khuya người vắng, chợt có tiếng la báo trộm; thắp đèn đuốc lên tìm, hóa ra là người trong nhà.

* Trang 1319 *
device

50.
Núi cao, tuy ở giữa am tranh,
Đường lớn đưa tay chỉ đến nhanh.
Chớ dừng quán trọ, quên nhà cũ,
Càng thêm tinh tấn, đạo mau thành.(1)
            51.
Núi cao, ẩn giữa mây muôn trùng,
Kẻ mê nào thấy được hành tung.
Hướng ngoài tìm đạo, đạo xa tít,
Vạch thuyền nhớ kiếm(2) chỉ uổng công.(3)
            52.
Núi cao, hầm hố giữa đất bình,
Nên người phải đủ mắt sáng tinh.
Dẹp rồng, bắt hổ đều chuyện nhỏ,
Pháp thân chẳng động, chứng vô sinh.(4)
            53.
Núi cao, chót vót trời một phương,
Bốn bề trơ trọi lạnh buốt xương.
Nói ra người khác không tin được,
Khư khư riêng được chỗ không lường.(5)
           
_______________________________________
(1 )Chưa rời mặt biển, núi đồi u ám; đến giữa trời cao, nước non đều sáng rõ.
(2) Vạch thuyền nhớ kiếm: chỉ việc làm vô lý, vì thế dẫn đến sự vô ích, dựa theo điển tích: Xưa có người đi thuyền làm rơi thanh kiếm báu xuống sông, liền vạch nơi mạn thuyền để làm dấu ghi nhớ chỗ rơi kiếm, hy vọng sau này dựa vào đó để lặn xuống tìm thanh kiếm ấy.
(3) Tìm kiếm khắp đông tây đều không thấy, bất chợt cớ sao lại gặp nhau?
(4) Thấy đạo quên núi, núi có chủ; thấy núi quên đạo, đạo không người.
(5)Bốn núi vút cao lớp lớp dày, ngộ ra bản thể đều là không.

* Trang 1320 *
device

54.
Núi cao, vắng vẻ một am tranh,
Một lòng bình thản lặng ngắm cảnh.
Đói dùng cơm Kim Ngưu(1)không gạo,
Khát uống trà Triệu Châu(2)mát lành.(3)
            55.
Núi cao, học đạo quyết phải xong,
Trải bao khó nhọc chẳng nao lòng.
Ngồi đến canh năm, trời sắp sáng,
Sương rơi thấm đẫm áo nâu sòng.(4)
            56.
Núi cao, chỉ ẩn tạm đôi khi,
Sống chết nào đâu có định kỳ.
Việc lớn đời người cần rõ biết,
Phải mau chuẩn bị giờ ra đi.(5)
            57.
Núi cao, am cỏ đá chênh vênh,
Mừng được thoát thân khỏi thị thành.
Biết đủ, đây là cõi An Lạc,
Chẳng nên quá phận không tự trách.(6)
 
_____________________________________
(1)Cơm Kim Ngưu: Hòa thượng Kim Ngưu thường tự làm cơm để cúng dường chúng tăng.
(2)Trà  Triệu  Châu:  Hòa  thượng  Triệu  Châu  mỗi  khi  có  học  nhân  đến  tham  vấn thường bảo: “Uống trà đi!”
(3)Tánh lặng chẳng phiền vị trà nhạt, tâm sạch tự biết mùi cơm thơm.
(4)Sinh ra ngồi chẳng nằm, lúc chết nằm chẳng ngồi; cũng là nắm xương hôi, làm sao được công quả?
(5)Trời tạnh phải mau mau bước tới, chớ đợi khi mưa phải ướt đầu.
(6)Người biết đủ, nghèo mà giàu; kẻ không biết, giàu mà nghèo.

* Trang 1321 *
device

58.
Núi cao, giữ hạnh khổ đầu đà,
Quên ăn bỏ ngủ tự giồi mài.
Rõ biết tâm này là Tịnh độ,
Mới hay Cực Lạc tại Ta-bà.(1)
            59.
Núi cao, cảnh đẹp khác cõi thường,
Bày rõ với người khắp bốn phương.
Nước chảy, chim kêu, cây nói pháp,
Đất bằng, đồi núi thảy Tây phương.(2)
            60.
Núi cao, một gối tròn ngồi tịnh,
Ngày đêm gắng sức tự xét mình.
Biết chỗ tánh chân thường tồn tại,
Đầu lưỡi còn ai dối được mình?(3)
            61.
Núi cao, khách hỏi sự dụng công,
Vắng, soi đều mất, một chữ không.
Chớ lạ, lão tăng không pháp thuyết,
Xưa nay lười nhác, chẳng ra công.(4)
            62.
Núi cao, am trống một giường thiền,
Trong định quên tâm, pháp cũng quên.
Lâm Tế vung gậy, Đức Sơn hét,
 
____________________________________
 (1) Thân tuy chưa đến giữa ao sen, trước hãy hướng tâm về Cực Lạc.
(2) Tiếng suối nghe ra lời chân thật, sắc núi đều là thân sạch trong.
(3) Ngồi trên bồ đoàn nhướng mày nhướng mắt, quay lại nhìn hắn, mà hắn là ai vậy?
(4) Chớ bảo vô tâm thật là đạo, vô tâm còn cách mấy quan san.

* Trang 1322 *
device

Lão tăng chẳng động thấu cơ thiền.(1)
            63.
Núi cao, chẳng trói buộc, ẩn thân,
Người đời mấy kẻ biết được tâm?
Chỉ trừ con nối dòng chính thống,
Thế gian đều giả, chớ nên nhầm.(2)
            64.
Núi cao, bụi bẩn chẳng nhiễm vào,
Tự tại, ung dung vui đạo mầu.
Việc ấy người người đều học được,
Chẳng xưa, cũng chẳng phải nay đâu!(3)
            65.
Núi cao, thấu lý, vui xênh xang,
Tướng hảo, danh hư chẳng buộc ràng.
Tam giáo xưa nay cùng một thể,
Chẳng tăng, chẳng đạo, chẳng nho quan.(4)
            66.
Núi cao, đất vắng, thương người tối,
Hồng hồng, tía tía, đỏ thêm rối.
Nên biết nguyên sơ một lẽ này:
Cốc thần, thái cực, chân như đối.(5)
 
____________________________________________________
(1)Bốn đại vốn là không, chẳng phải ngã, ngã sở; lão tăng đặt giường thiền ở nơi đâu?
(2) Chẳng sợ gió tây, bày hình thể; ngại chi sao bắc phải ẩn thân?
(3) Quên tâm, nhìn lại lửa rực sáng; vui đạo, ruột kêu như dây đàn chín khúc.
(4) Một tăng, một đạo, một nho gia; bàn luận cùng nhau mấy năm rồi?
(5) Đầy đủ cái tâm ấy, đồng một cái lý ấy, nên quyết mang đạo này dạy cho dân chúng.

* Trang 1323 *
device

67.
Núi cao, ưa chỗ vắng sống nhàn,
Quên lo, được tự tại, thanh thản.
Vắng vẻ lặng yên niệm tình dứt,
Đêm ngày say ngủ, muôn duyên dừng.(1)
            68.
Núi cao, không tịch, học pháp không,
Nhân duyên quá khứ chớ bận lòng.
Hiện tại còn không nên bám víu,
Tương lai sao phải bận trông mong?(2)
            69.
Núi cao, ngồi lặng dưỡng lòng vui,
Hạt châu dưới trán giữ chắc thôi.
Mở miệng nói ra người chẳng hiểu,
Gật đầu chỉ nhận tự biết rồi!(3)
            70.
Núi cao, vui thú tự mình hay,
Bốn bề chân thật tự tại thay!
Trong lòng nếu được không ngăn ngại,
Ngâm thơ, thuyết kệ cũng là hay.(4)
            71.
Núi cao, chót vót sườn núi cao,
Ngắm trăng cười gió thỏa xiết bao!
 
________________________________
(1) Núi cao nước chảy bao điều thích; tự có tri âm cười hả hê.
(2) Hoa sen bày lá báo người biết, ra khỏi nước đâu còn như lúc chưa ra?
(3) Có mắt không nhìn thấy, nơi tai cũng chẳng nghe, có miệng khó nói ra, rõ biết tâm rồi không cần phân biện.
(4) Không không, sắc sắc vốn đồng nhau, sinh tử làm sao nhấn chìm một bên?

* Trang 1324 *
device

Thương xót người đời không ai biết,
Lấp vùi chân tánh mãi thế sao!(1)
            72.
Núi cao, không việc, cửa khép ngăn,
Ngồi lặng, tâm cùng, dứt kiến văn.
Rèm buông trăng chiếu, tùng, mai sáng,
Riêng đây trời đất khác nhân gian.(2)
            73.
Núi cao, hun hút đường xa xôi,
Đạo vốn vô hình, vắng lặng thôi.
Ngày thường quét đất trong gió mát,
Đêm về trăng sáng, ngọn tùng trôi.(3)
            74.
Núi cao, riêng đứng vút tầng xa,
Một vai gánh cả gió, trăng ngà.
Hỏi xem ý Tổ từ tây đến,
Trước ba ba sau lại ba ba.(4)
            75.
Núi cao, cửa mở thường canh giữ,
Đạo lớn tùy cơ, khách đến thử.
Nếu được lão tăng tự nghiệm xét,
Ai ai cũng đáng bậc hán tử.(5)
______________________________________________________
(1)Muôn dặm nước dài trôi về biển, một vầng trăng rụng giữa trời xanh.
(2) Hoa nơi cửa động sao còn mãi; nước chảy đường xuôi chẳng trở về.
(3) Có một vật trước cả trời đất, vốn vô hình, vắng lặng; thường chi phối muôn hiện tượng, không theo bốn mùa mà tàn đi.
(4) Rõ biết một là nhiều, ít ai quên đi một; mê ba cho là nhiều, hiếm người biết được ba.
(5) Giữ ải phải dùng quan tinh nghiêm, không phân biệt rõ chẳng cho qua.

* Trang 1325 *
device

76.
Núi cao, muốn đến tìm tánh chân,
Trước học vỡ lòng, kính người trên,
Đến cửa tử sinh rõ phép tắc,
Mười phương thế giới hiện toàn thân.(1)
            77.
Núi cao, ẩn kín, mây cuộn lên,
Gió thổi rừng thông, sấm pháp rền.
Người mê cõi thế đều kinh động,
Mau mau tỉnh thức chớ chần chừ.(2)
            78.
Núi cao, gần trời, ngày đến trước,
Cơ duyên trực nhận, nhìn rõ bước.
Yếu chỉ nhất thừa tròn sáng rõ,
Thiên thai đâu phải nhọc công tìm.(3)
            79.
Núi cao, bốn bề ánh mây xa,
Lò đá xông hương, tụng Pháp Hoa.
Ba cõi không yên, như nhà cháy,
Xe trâu trắng đẹp, ngồi thoát ra.(4)
            80.
Núi cao, tiếng cuốc vọng khuya nghe,
Thác bạc đầu non dội nước khe.
__________________________________________________
 (1) Nói thì trẻ thơ cũng nói được; làm thì đến già làm chẳng xong.
(2) Vũ môn chợt thấy ba tầng sóng, đất bằng bỗng nghe sấm nổ vang.
(3) Khe sáng vầng trăng núi tây rụng, ấy lúc mộng tàn giữa đầm tiên.
(4) Cùng tử tự mê theo hươu nai, chẳng biết đang ngồi xe trâu trắng.

* Trang 1326 *
device

Chưa đến sợ núi cao hiểm trở,
Từng qua mới biết đường thấp cao.
            81.
Núi cao, thôi chẳng tự dối lòng,
Mới biết tầm cao, nhìn suốt thông.
Buông ra trời rộng không ngăn ngại,
Thâu về chỉ ở một mảy lông.
            82.
Núi cao, bè bạn chẳng tầm thường,
Gương sáng thường soi xét mọi đường.
Đẹp, xấu, dối lừa đều soi thấu,
Xưa nay gương sáng thường vô tư.
            83.
Núi cao, chót vót lạnh kinh hồn,
Kiếm báu vung cao, ai nhìn lên?
Ngoại đạo tà ma đều nát óc,
Lão tăng thiền định lòng nhẹ tênh.
            84.
Núi cao, riêng một nếp gia phong,
Thú vị nhân gian, thật chẳng đồng.
Ngựa gỗ hí vang ngoài trời rộng,
Không còn tin tức, dứt hành tung.
            85.
Núi cao, đường hiểm khó tin truyền,
Kẻ mù sao đạt tông uyên nguyên?
Chỉ thuận cho người bày mánh khóe,
Biết nhau chẳng ở lời huyên thuyên.

* Trang 1327 *
device

86.
Núi cao, khách đến hỏi thiền tông,
Mới biết từ xưa nhầm dụng công.
Mở miệng biết ngay từ đâu đến,
Thương thay chẳng rõ biết lẽ không.
            87.
Núi cao, thấu rõ một lẽ không,
Chẳng cần phân biệt nam, bắc tông.
Hạt châu như ý cầm tay chiếu,
Sáng khắp muôn nơi, chốn chốn thông.
            88.
Núi cao, học đạo chưa là khó,
Tâm bình giữ đạo mới cam go.
Đầu sào trăm thước còn tiến bước,
Vung chùy đập cửa Tổ ra tro.
            89.
Núi cao, nghĩ lại về đi thôi,
Rõ biết xưa nay toàn hư dối.
Chớ gõ cửa người xin cơm nữa,
Nhà ta, trong áo có minh châu.
            90.
Núi cao, đạm bạc chẳng xa hoa,
Khách đến, nước cỏ hao thay trà.
Đạt đạo, đầu lưỡi biết vị ngon,
Toàn thân thanh thoát, sớm về nhà.
            91.
Núi cao, khuất giữa tầng mây trắng,
Đạo nằm trong ấy, lòng yên lắng

* Trang 1328 *
device

Công án hiện bày, người chẳng biết,
Chỉ nương cành lá gượng níu phăng.
            92.
Núi cao, lá rụng gió cuốn bay,
Một nắm tay không, không chưa bày.
Phật Tổ chỉ dạy người trong cuộc,
Gặp người lười nhác miệng thày lay.
            93.
Núi cao, lá rụng về cội nguồn,
Bày rõ pháp thân, lộ chân thường.
Chẳng rõ việc này, thêm phí sức,
Trăm thành mây nước phủ mênh mông.
            94.
Núi cao, người tu không tài cán,
Một đạo tối thượng, muôn pháp sáng,
Chớp mắt, nhướng mày đều ý Tổ,
Nắm chày, dựng chổi thảy tình chân.
            95.
Núi cao, am nhỏ mái tranh che,
Thanh đạm, dứt việc đời chẳng nghe.
Một cụm mây trôi, che cửa động,
Ngơ ngẩn tìm đâu tổ chim về!
            96.
Núi cao, sống mãi hồn không chán,
Gom cây, phát cỏ, vừa nửa gian.
Chỉ một lão tăng còn chật hẹp,
Làm sao đón khách tục ghé sang?

* Trang 1329 *
device

            97.
Núi cao, thấy đạo quên núi sông,
Muôn pháp xưa nay tự rỗng thông.
Nam bắc đông tây, chẳng phân biệt,
Thân này thường lặng giữa hư không.
            98.
Núi cao, bốn hướng núi xanh rì,
Chập chùng, hiểm trở đường khó đi.
Đi đến nơi nước dừng, núi tận,
Tự nhiên được báu vật mang về.
            99.
Núi cao, vẫn cảnh khổ Ta-bà,
Trăm năm thoáng chốc đã vèo qua.
Chờ dứt thân này sinh Cực Lạc,
Đường trước không còn hiểm trở xa.
            100.
Núi cao, riêng sống vui tánh linh,
Gió mát trăng thanh nói pháp lành.
Mang cả tạng kinh ra nói hết,
Chẳng biết ai là người trong kinh?
 
            Kệ ẩn cư của ngài Tông Bổn
 
Núi cao, vắng lặng rõ tánh không,
Khuyên người niệm Phật cố gắng công.
Bảo châu thiền ý tự rõ biết,
Quan san cách trở đạo vẫn đồng.

* Trang 1330 *
device

 
Quy Nguyên Trực Chỉ