LOGO VNBET
Trung đến một mức độ khiến hành giả theo đuổi cái dòng liên tục của những ấn tượng và hoạt động nhiều màu sắc của tâm và thân trong một thời gian càng lúc càng dài mà không có sự ngừng nghỉ của chú ý, hay không có sự ngừng nghỉ mà hành giả không ghi nhận được. Nếu hành giả không bị các ý tưởng lạc lõng của mình đưa đi xa và nếu những ngưng nghỉ của sự chú ý được ghi nhận ngay liền hoặc ngay sau đó thì như thế sẽ được xem là “chú tâm không bi gián đoạn”. Đối với người mới bắt đầu, các tiêu chuẩn của niệm tâm tổng quát như thế là đạt được.
2- Thực hành chính yếu với các đề tài đã chọn:
 Sau khi đã chuyên tâm chú ý đến những sinh hoạt khác nhau vào buổi sáng, ta ngồi xuống trên chổ ngồi thiền, tỉnh giác về ý định đến trước của ta, về những giai đoạn đơn lẻ của tác động, và sau đó là về “sự xúc chạm: (đụng à) “ và “sự ngồi : (ngồi à)”. Bây giờ ta quay sự chú ý của ta vào phòng à và xọp à, hình thành do hơi thở. Sự chú ý hướng thẳng đến cái cảm giác nhẹ nhàng của sự xúc chạm do cử động ây gây nên, và không hướng đến sự quan sát cử động ấy bằng mắt. Điều này tạo thành đối tượng cơ bản “Mula Ãrammana” của Niệm tâm trong khóa thực hành miêu tả ở đây. Nó được Đại lão U Sobbana đưa vào trong việc thực hành vì nó tỏ ra rất hiệu nghiệm.
Cần phải hiểu rõ rằng ta không nên nghỉ về cử động của bụng, mà chỉ nhằm ghi nhận đơn thuần

* Trang 156 *
device

cái quá trình vật lý ấy bằng cách thức rõ ràng sự nâng lên và hã xuống của nó, trong tất cả những giai đoạn của nó. Ta nên cố giữ sự tỉnh giác ấy, không nhưng nghỉ, hoặc không có sự ngưng nghỉ mà ta không ghi nhận được, trong một thời gian càng lâu càng tốt mà ta không bị quá căng. Tuệ giác mà phương pháp này nhắm tới, sẽ tự động hiện ra trong tâm như là một kết quả tự nhiên, hay như quả trái đang chín của sự chú tâm đang lớn mạnh. Vị thiền sự dạy: “Trí thức tự nó sẽ sinh khởi” (ñamaṃ Sayaṃ eva uppajjissati). Sẽ đến một trình độ là, nhờ sự tỉnh giác đã được mài giũa, những đặc trưng của các quá trình quan sát trước kia ta không ghi nhận được nay sẽ xuất hiện. Cái Tuệ giác thành tựu bằng cách ấy sẽ mang niềm xác tín mà kinh nghiệm vững chắc của ta đưa đến.
Ý thức rõ ràng về cử động của bụng không dính dáng chi đến việc thực hành “chú tâm vào sự hít thở” (Anàpànasati). Đối tượng của chú tâm ở đây không phải là hơi thở mà chính là sự cử động của bụng mà ý thức xúc phạm cảm nghiệm được.
Trong trường hợp những người mới bắt đầu, cử động ấy có thể không được ghi nhận ngay liền và chỉ có thể được nhận ra qua từng thời gian ngắn. Điều này chẳng có gì bất thường, nó sẽ được hoàn thiện qua sự thực hành chuyên cần. Để việc cảm nhận sự cử động của bụng được thường xuyên hơn và kéo dài hơn, ta có thể nằm xuống; bằng cách làm

* Trang 157 *
device

như thế, sự vận động ấy sẽ trở nên rõ ràng hơn. Ta cũng có thể đặt bàn tay lên bụng để theo dõi sự vận hành của nó ngay cả khi bỏ tay ra. Nếu ta cảm thấy như thế có lợi thì ta có thể tiếp tục kỹ sự thực tập trong một vị thế có tựa là vị thế nhằm tránh sự buồn ngủ và mệt mỏi. Nhưng tựu trung, ta có thể cứ cố tập đi tập lại như thế trong tư thế ngồi
Khi nào sự tỉnh giác về cử động của bụng ngưng lại hay không rõ ràng, ta không nên cố gắng để “bắt lấy” nó, mà nên quay sự chú ý vào “sự xúc chạm” và “sự ngồi”. Điều này nên được thực hiện theo cách sau đây. Từ nhiều điểm tiếp xúc, hay đúng hơn, những nhận thức về sự xúc chạm, hiện diện trong đối tác có vẻ đơn điệu của sự ngồi – chẳng hạn ở các đầu gối, đùi, vai, v.v… Có thể chọn ba hay bốn điểm. Nên quay sự chú ý vào các điểm ấy một cách lần lượt, có thể nói là quay sự chú ý vào con đường đã miêu tả, chấm dứt bằng sự tỉnh giác về tư thế ngồi và bắt đầu trở lại bằng những chuỗi như nhau: chạm này – chạm này – chạm này – ngồi này; chạm này – chạm này – chạm này – ngồi này (1). Ta nên an trú vào từng nhận thức đúng theo độ dài lâu của các từ gồm hai tiếng ấy (đọc thầm, và sau đó không đọc nữa khi ta đã vào trong nhịp điệu đều
___________________
(1) Phần trước, chúng tôi dịch là sự xúc chạm, sự ngồi từ tiếng Anh là Touching và Sitting: đến đây chúng tôi dịch thành chạm và ngồi, lại thêm hai từ này (chạm này – ngồi này) cho phù hợp với yêu cầu văn mạch ngay phần tiếp theo. (N.D.)

* Trang 158 *
device

đặn). Ta cần chú ý rằng đối tượng của Niệm tâm ở đây là từng cảm giác, chứ không phải là những chỗ tiếp xúc ở chính chúng, cũng không phải là các từ “chạm này, ngồi này”. Thỉnh thoảng, ta có thể thay đổi sự chọn lựa các “xúc chạm”.
Sự tỉnh giác này về “chạm này, ngồi này” có thể xem như một “chỗ nhờ cậy” của tỉnh giác về cử động của bụng, và là một trong những đối tượng thứ yếu của sự thực hành chính yếu. Tuy nhiên, nó lại có một giá trị quyết định của riêng nó để thành tựu những kết quả trong phạm vi Tuệ giác.
Trong khi đang chú ý tới “ chạm này, ngồi này”, nếu ta thấy rằng cử động của bụng đã được nhận thức trở lại một cách rõ ràng thì ta nên quay sự chú ý vào nó, và tiếp tục với những đối tượng ban đầu ấy càng lâu càng tốt.
Nếu ta cảm thấy mệt mỏi, hoặc do ngồi lâu mà chân đau hay tê, ta nên ý thức thật rõ đến những cảm thọ và cảm giác này. Ta nên giữ cái ý thức ấy lâu cho đến khi những cảm thọ và cảm giác này buộc phải chú ý vào chúng và làm nhiễu động thiền định của ta. Chính nhờ động tác ghi nhận chúng một cách yên lặng và liên tục, tức là bằng sự chú ý đơn thuần những cảm thọ và những cảm giác ấy đôi khi có thể biến mất, cho phép ta tiếp tục với đối tượng ban đầu. Trong tỉnh giác về những cảm giác gây phiền nhiễu, ta ngưng ngay lại sự xác nhận đơn thuần về sự hiện diện của chúng

* Trang 159 *
device

Chứ không “nuông nuôi” những cảm thọ này và do đó không làm cho chúng mạnh thêm bằng những thứ mà ta thêm vào cho những sự kiện đơn thuần, tức là bằng thái độ tâm lý của ta như tự liên hệ, nhạy cảm quá đáng, tự thương hại mình, sân hận, v.v…
Tuy nhiên, nếu những cảm giác bực bội hay sự mệt mỏi ấy vẫn kiên cố và quấy nhiễu sự thực hành thì ta có thể thay đổi tư thế (ghi nhận ý định và động tác thay đổi) và nhờ vào việc chú tâm nhấc bước chân lên và đặt xuống. Khi làm như thế, ta phải tỉnh giác đến từng giai đoạn riêng của mỗi bước đi. Theo thiền sư, cách chia làm sáu giai đoạn đã nêu ra, chẳng hạn trong bản sớ luận về bản kinh, sẽ quá công kỹ đối với người mới tập sự. Chỉ cần ghi nhận ba (A) hay hai (B) giai đoạn. Để thích ứng với nhịp điệu hai tiếng, cần nêu các giai đoạn ấy theo mẫu sau đây về động tác của bàn chân:
  1. 1. Nhấc này, 2. Đẩy này, 3. Đặt này;
  2. 1. Nhấc này, 2. Đặt này.
Nếu ta muốn bước nhanh hơn một chút thì ta có thể dùng cách chia hai; ngược lại, cách chia ba được ưa thích vì nó tạo được sự chú tâm liên tục chặt chẽ không gián đoạn.
Đặc biệt đối với một số hành giả, việc thực hành đi bộ mà niệm tâm này hết sức giá trị, vừa là một phương pháp để tập trung tâm thức vừa là một cuối nguồn cung cấp Tuệ giác. Nếu ta cảm thấy

* Trang 160 *
device

việc thực hành ấy có lợi lạc thì trong tự thân nó, nó có thể được ta thực hiện, không chỉ riêng như là một sự “thay đổi tư thế” để giảm nỗi mệt nhọc. Trong các kinh Phật dạy, ta thường gặp từng đoạn như sau: “Ban ngày, và thời thức nhất và thời thứ ba của đêm, trong khi nhấc bước chân lên và đặt chân xuống hay ngồi, vị ấy thanh tịnh tâm mình khỏi những tư tưởng gây trở ngại”.
Nếu việc nhấc bước chân lên và đặt xuống được chọn lấy làm sự thực hành thực sự thì cần phải có một khoảng đất khá dài, hoặc ở trong nhà (một hành lang hay hai phòng nối mhau) hoặc ở ngoài trời vì việc quay trở lại quá thường có thể gây rối loạn trong dòng chú tâm liên tục. Ta nên đi bộ trong một thời gian khá dài, cho đến khi ta cảm thấy mệt mỏi.
Suốt trọn cả ngày thực hành, ta cần ghi nhận rõ ràng những tư tưởng lạc lõng, hay một sự “nhảy nhót” vô ý thức của những bước chân (khi đi bộ), những giai đoạn hay những chuỗi cử động bằng bụng hay của những phần của mọi hoạt động khác. Ta nên chú ý xem những sự ngưng nghỉ ấy trong sự chú ý đã được ghi nhận ngay sau khi xảy ra hay chưa hoặc là ta có bị những tư tưởng lạc lõng mang đi xa không và bị mang đi như thế trong bao lâu, v.v… trước khi ta trở lại đối tượng đầu tiên của Niệm tâm. Ta nên nhằm vào sự ghi nhận những ngưng nghỉ ấy ngay và sau đó quay trở lại đối tượng đầu tiên của ta liền. Điều này có thể được dùng để

* Trang 161 *
device

đo lường mức độ nhạy bén đang phát triển của ta. Sự xảy ra thường xuyên của những ngưng chỉ ấy sẽ tự nhiên giảm đi khi mà suốt trong thời gian thực hành, sự trầm tĩnh và tập trung thức trở nên hoàn hảo hơn. Sự thành thạo hình thành trong việc thực hành tỉnh giác ngay những ngưng nghỉ của sự chú ý sẽ là sự hỗ trợ giá trị trong việc làm mạnh sự tự kiểm soát của ta, và trong việc ngăn chặn các lậu hoặc (1) (Kilesa) của tâm thức ngay khi chúng vừa sinh khởi. Tầm quan trọng của nó đối với sự tiến bộ trên con đường và đối với sự phát triển tâm thức của ta nói chung, thật là rõ rệt.
Ta không nên để cho ta bị những tư tưởng tán loạn hay đáng ghét gây bực tức, quấy nhiễu hay làm nản lòng, mà nên lấy ngay chính chúng làm những đối tượng (tạm thời) của sự chú tâm (2) của ta, làm cho chúng thành một phần của việc thực hành (xem Quán trạng thái của tâm). Tuy nhiên, nếu những cảm thọ bực tức về cái trạng thái tán loạn của tâm ta (3) khởi lên và cứ kiên cố thì ta có thể đối xử với chúng bằng một cách giống y như thể ( Quán đối tượng của tâm: triền cái, trạo hối và nghi). Trong ý mạch ấy, thiền sư dạy: Một khi mà cái đa tính của
____________
(1) Tức những sự ô nhiễm, những trạng thái tâm thức gây phiền não. (N.D.)
(2) Xin nhắc thêm, sự chú tâm ở đây đồng nghĩa với Niệm tâm. (N.D.)
(3) Thường gọi là trạo hối. (N.D.)

* Trang 162 *
device

đối tượng tư duy là không thể tránh được trong đời sống hành ngày, và những lậu hoặc như tham, sân, v.v… chắc chắn phải sinh khởi trong mọi cái tâm chưa giải thoát thì việc đối mặt thẳng với những tư tưởng, những lậu hoặc đủ loại này và việc học cách để đối xử với chúng thật là vô cùng quan trọng. Điều này bằng cách riêng của nó, cũng quan trọng đúng như việc thấu đạt một mức độ gia tăng về tập trung. Do đó, ta không nên xem nó như “thời gian bị mất đi” khi ta đối xử với những giai đoạn này trong việc thực hành có phương pháp.
Ba đến bốn giờ chú tâm liên tục, tức là không có những ngừng nghỉ mà không được ghi nhận, được xem là tối thiểu đối với một người mới khởi sự, trong một khóa thực hành nghiêm nhặt. Dĩ nhiên, điều này không có nghĩa là ba hay bốn giờ là đủ đối với toàn bộ một ngày thực hành. Nếu ta “đánh mất sợi chỉ” chú tâm, dù sau hay dù trước cái thời gian ngắn ngủi ấy, ta nên nhặt nó trở lại, trở lại và tiếp tục với việc thực hành tậm trung kiên trì càng lâu càng tốt.
Đặc biệt, trong một khóa thực hành nghiêm nhặt, cần phải có sự nỗ lực kiên trì thầm lặng và không để ý đến sự bất tiện về thân thể. Thường thường, khi không để ý đến sự xuất hiện đầu tiên của mệt mỏi, ta sẽ khám phá ra những nguồn năng lượng mới, một “ngọn gió thứ hai” đằng sau sự xuất hiện ấy. Mặt khác, ta không nên đi đến cực đoan và nên cho phép ta nghỉ ngơi khi nỗ lực không còn

* Trang 163 *
device

lợi ích nữa. Những khoảng nghỉ ngơi này cũng sẽ tạo thành các phần các phần của việc thực hành (tập trung ít căng hơn) nếu như ta vẫn giữ sự chú tâm. Cái dòng Niệm tâm của ta càng tự nhiên và lơi lỏng, hoặc trở nên như thế, trong khi ta theo dõi sự sinh khởi và biến mất của những đối tượng chú tâm được chọn hay còn lắm kẻ phức tạp thì sự mệt mỏi do nó gây nên sẽ càng ít đi.
Khi sự nhạy bén đã lớn mạnh, ta cũng có thể đặc biệt chú ý tới những ý tưởng hay những thể cách lạc thọ hay bất lạc thọ của ta, dù chúng rất tinh tế. Chúng là những mầm mống của những hình thức mạnh hơn và say mê và giận ghét, và của những cảm thọ tự tôn hay tự ti, phấn chấn hay nản lòng. Do đó, làm quen với chúng, chú ý tới chúng và sớm ngăn chặn chúng lại là rất quan trọng. Ta cũng nên tránh những tư tưởng vô ích về quá khứ hay tương lai vì Satipaṭṭhàna chỉ nhằm đến hiện tại mà thôi.
Những đối tượng cơ bản và thức yếu được bàn ở đây (tức là cử động của bụng, chạm này, ngồi này …việc đi bộ) được trì giữ xuyên suốt toàn bộ việc thực hành, tức là suốt trong khóa thiền nghiêm túc và sau đó, mà không thêm gì vào nữa cả, theo cách của những toan liệu mới, v.v… Nếu có sự áp dụng kiên trì vào những sự thực tập đơn giản này thì chúng có thể dần dần dẫn ta đến những thành quả cao nhất. Sự nhấn mạnh chủ yếu vẫn là ở đối tượng cơ bản, tức là cử động của bụng.

* Trang 164 *
device

 
Satipaṭṭhàña Trái Tim Của Thiền Định Phật Giáo