LOGO VNBET
người. Nó ngăn giữ tính chất hung mãnh và ngoan cố mù quáng của những mong cầu, dục vọng, mục tiêu hay lý tưởng của con người. Nó sẽ cứu vớt nhiều sai sót không cần thiết mà người ta, trong cơn thất vọng hay chán nản, thường đổ lỗi cho mục đích hay chính lý tưởng thay vì quy vào sự thực hiện sai lạc của riêng mình. Liễu hội về sự thích đáng dạy cho ta “thiện xảo trong chọn lựa những phương tiện đúng đắn” (Upàya Kosalla), một đức tính mà Đức Phật đã sở đắc đến mức đối tượng và đã ứng dụng tuyệt vời vào việc giáo và dẫn dắt con người.
3- Liễu hội về phạm vi của thiền định
Hai loại liễu hội đầu tiên trên cũng thích dụng với những mục đích thuần túy thực tiễn của cuộc sống bình thường, mặc dù sự phù hợp với lý tưởng tôn giáo (pháp) cũng rất thiết yếu đối với sự áp dụng thực tiễn ấy. Bấy giờ, chúng ta đi sâu vào phạm vi đặc biệt của Phật pháp như là sức mạnh biến cải cuộc đời. Loại liễu hội thứ ba tập hợp những phương pháp đặc thù để phát triển tâm được dùng trong Phật pháp vào trong chính đời sống hàng ngày; và loại liễu hội thứ tư (“ về thực tính”) cũng làm như thế đối với yếu chỉ của Phật pháp, tức là giáo lý về Vô ngã, hay tính vô định tuyệt đối của “cá nhân”.
Liễu hội về phạm vi của thiền định được các nhà sớ luận cổ giải thích là “Không bỏ đề tài Thiền quán” trong công việc hàng ngày của mình. Điều này phải được hiểu hai cách:

* Trang 84 *
device

(1) Nếu một đề tài Thiền quán riêng biệt, tức là đơn lẻ được thực hành, người ta nên cố gắng pha lẫn nó với công việc và suy nghĩ mà những bận rộn trong ngày trực tiếp đòi hỏi; hoặc ngược lại, nên dành một chỗ cho cái công việc sẵn có trong nội dung Thiền quán, như là một sự giải thích cho đề tài Thiền quán. Chẳng hạn, việc ăn uống có thể dễ dàng liên hệ đến các quán tưởng về sự vô thường của thân, về tứ đại, về duyên sinh, v.v… Như thế, hai phạm vi của Thiền định và đời sống hàng ngày sẽ trộn lẫn nhau, đưa đến lợi ích cho cả hai. Nếu trong nhiều trường hợp không thể xác lập được nối kết nào giữa công việc hiện tại của mình với sự thiền quán riêng của mình, hoặc nếu sự nối kết như thể hình như quá mơ hồ và gượng gạo để có một giá trị thực sự thì bấy giờ đề tài thiền định ấy nên được người ta “để xuống như để hành lý đang ở trong tay”, nhưng chớ nên quên mang nó lên lại ngay khi công việc nói trên đã được giải quyết. Quá trình thực hiện ấy cũng sẽ kể như “không rời bỏ đề tài Thiền định”.
(2) Nhưng nếu việc thực hành Thiền định của ta là sự Niệm tâm đa năng, như đã được biện bạch ở đây, thì sẽ không cần phải gác lại một bên cái đề tài Thiền định thật ra sẽ bao gồm hết mọi sự. Từng bước một, việc thực hành Chánh niệm sẽ thu hút hết thảy mọi hoạt động của thân, khẩu và ý đề rốt lại, đề tài Thiền định sẽ không bao giờ bị

* Trang 85 *
device

rời bỏ. Mức độ thành công của ta về điều ấy tùy thuộc vào sự hiện diện của tâm sẵn sàng vào những dịp đơn lẻ và vào thói quen hình thành vào tăng cường sức mạnh trong việc thực hành chuyên cần. Mục tiêu mà học nhân của phương pháp này mong mỏi là cuộc sống trở thành hợp nhất với việc thực hành tâm linh, và việc trở thành cuộc sống tràn trề huyết mạch.
Phạm vi (gocara) của việc thực hành Chánh niệm không có những giới vức chặt chẽ. Đó là một vương quốc không ngừng lớn lên bằng cách thu hút những vùng đất mới của sự sống. Chính là nhằm đến phạm vi lĩnh hội hết thảy của phương pháp Satipaṭṭhàna mà Đức Bổn Sư có lần dạy như sau: “Này các Tỳ kheo, cái gì là phạm vi (gocara)(1) của vị tu sĩ, là cái chỗ tối hệ trọng của mình? Đó chính là Tứ niệm xứ vậy”.
Do đó, người học theo phương pháp này nên luôn luôn tự hỏi mình qua lời của Santideva: “ Việc thực hành Niệm tâm có thể được thể hiện như thế nào trong chính những hoàn cảnh này?”
Kẻ nào không quên tự hỏi mình như thế và cũng không quên hành động theo như thế thì kẻ ấy có thể được xem là có được “lĩnh hội minh bạch về phạm vi” của Chánh niệm.
______________
(1) Tên của loại liễu hội thứ ba này, “Gocara Sampajañña” rất có thể đã được chọn nhằm chỉ rõ đoạn văn nổi tiếng nêu dẫn trên đây.

* Trang 86 *
device

 
Satipaṭṭhàña Trái Tim Của Thiền Định Phật Giáo