LOGO VNBET
đạt được điều ấy chắc chắn không phải là một công việc dễ dàng, nhưng những khó khăn sẽ ít đi nếu như hai loại liễu hội đầu tiên đã được chuẩn bị sẵn sàng. Do liễu hội về mục đích, tâm sẽ thu đạt được một mức độ vững chãi và “sức mạnh định hình” nào đó cần thiết để đời sống bình thường thâm nhập vào trong “phạm vi của thực hành”. Mặt khác, liễu hội về sự thích đáng sẽ phát huy những tính chất phụ bổ là tính mềm dẻo và khả năng thích nghi của tâm thức. Nếu bằng cách ấy mà thành tựu được xấp xỉ cái mức độ của Thiền định thì việc nhập vào “phạm vi thực hành” và việc triển khai dần dần phạm vi ấy sẽ dễ dàng hơn.
4-Liễu hội về thực tính:
Liễu hội về thực tính (nguyên nghĩa là về vô si) tẩy sạch cái si muội thâm sâu và ngoan cố nhất trong con người bằng ánh sáng rõ ràng của một sự lĩnh hội không bị che mờ về cái thực: Si muội này là sự tin tưởng có một cái ngã, một linh hồn hay một bản chất vĩnh cửu của mọi tưởng tượng Si muội này cùng với tông hệ tham và sân của nó, là động lực thực sự của luân hồi sinh và khổ mà chúng sinh bị trói vào nó giống như vào một dụng cụ tra tấn và cứ bị đổ vỡ mãi hoài vì nó.
“Liễu hội về thực tính” có tính sáng suốt và sự hiện diện của cái hiểu biết rằng bên trong hay

* Trang 87 *
device

đằng sau những chức năng được thể hiện bởi ba loại liễu hội đầu tiên kia, không có ngã tính, tự tính, tự ngã, linh hồn hay bất cứ một bản chất thường hằng nào cả. Ở đây thiền giả sẽ đối mặt với sự chống chọi tự nội mạnh mẽ nhất, bởi vì một phản kháng kiên cố chống lại cái thành tựu lớn lao nhất của tư tưởng con người là học thuyết vô ngã (Anattà) của Đức Phật, sẽ được nêu ra do thói quen lâu đời suy nghĩ và hành động bằng danh nghĩa “ Tôi” và “của Tôi”. Cũng như do cái “ý muốn sống” có tính chất bản năng và mãnh liệt tự thể hiện như là tự xác nhận mình. Việc hiểu và bất chấp học thuyết Vô ngã không khó khăn nhiều bằng việc áp dụng học thuyết một cách kiên nhẫn, chuyên trì và thường xuyên vào những trường hợp suy nghĩ và hành động riêng biệt. Nhiệm vụ đặc biệt của loại liễu hội thứ tư, vô si, là giúp giải quyết sự khó khăn ấy, bằng cách nhận lấy sự phù trợ tinh khiết của ba loại liễu hội kia trong khi thực hiện phần việc của nó. Chỉ bằng cách tự huấn luyện mình mãi hoài trong việc thấy ngay liền những suy nghĩ và cảm nhận (Tưởng và Thọ) vừa khởi lên thì cái sức mạnh của những thói quen suy tư quy ngã thâm căn và những bản năng trong ngã mới có thể bị rạng vỡ, bị giảm thiểu và cuối cùng bị loại trừ đi.
Ở đây, tưởng cũng nên lạc ra ngoài đề một tí mà bàn ít lời về “sắc thái tình cảm” của chân lý Vô ngã vì nó rất thường bị phán đoán sai lạc.

* Trang 88 *
device

Nhận rõ sự kiện Vô ngã, bằng suy tư hay do kết quả của việc thực hành có phương pháp về chú ý đơn thuần, tự nó chắc chắn là phi tình cảm và nghiêm túc như thái độ của nhà khoa học. Nhưng ngoại trừ Bậc Thánh = (Arahat), những phản xạ tình cảm rất có thể sinh khởi, cũng như chúng có thể sinh khởi đối với những kết quả hiển nhiên của việc nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, những phản xạ tình cảm này trong sự thâm hiểu Vô ngã không hạn hẹp vào một ghi nhận đơn lẻ và chắc chắn không hạn hẹp vào sự ghi nhận sầu não than trách gồm những cái từ gây phản đối là “ Phi linh hồn”. “ Sắc thái tình cảm” sẽ thay đổi tùy theo góc cạnh của sự quan sát và trình độ phát triển nội tại của người quan sát; nó sẽ đạt đến tấu khúc cuối cùng của nó trong nhịp điệu an lành tĩnh lặng của Bậc Thánh. Trong sự đối mặt thực sự và không phải chỉ là khái niệm với sự kiện Vô ngã, như được chú ý đơn thuần tạo chho, tất cả trọng tâm của toàn bộ hiện hữu mà nó là sự kiện ý nghĩa nhất. Nhưng điều này sẽ không phải là kinh nghiệm tình cảm độc nhất do tỉnh giác về Vô ngã mà có, của những thiền giả xưa và nay nếu tỏ rõ về những thể cách của hạnh phúc cao cả bao gồm một phạm vi rộng rãi, từ sự hoan hỷ và mừng rỡ cho đến niềm vui tĩnh lặng. Đây là những biểu hiện vui mừng khuây khỏa cảm thấy được khi sự kìm kẹp chặt chẽ của “cái Tôi” và của Tôi” thả lỏng ra và khi sự căng

* Trang 89 *
device

thẳng mà nó gây nên trong thân và tâm được nới chùng, khi trong chốc lát, chúng ta có thể ngẩng đầu lên khỏi dòng nước và cùng xoáy hung tợn mà những ám ảnh về “Tôi” và “của Tôi” nhận chìm chúng ta trong ấy khi có sự giác tỉnh vững mạnh rằng chính Vô ngã này mở cho ta đến giải thoát khỏi cái khổ đau mà chúng ta đã cảm nhận quá đắng cay trong cái mà chúng ta đã gọi là khía cạnh thô trọng của Vô ngã.
Loại liễu hội thứ tư còn có một chức năng khác nữa để thi hành, gây ảnh hưởng lớn lao đến sự tiến bộ vững vàng trên con đường dẫn đến diệt khổ.
Khi nhận lấy việc thực hành ba loại liễu hội đầu tiên, học nhân đã để lại đằng sau mình sự an toàn và độc lập tương đối của chú ý đơn thuần và đã quay trở vào cái thế giới hiểm nghèo của hành động có tác ý hành động khơi khích sự phản ứng từ cái chịu nhận sự hành động. Nhưng gạt bỏ những phản ứng ra thì học nhân trước tiên phải sẽ phải đối mặt với sự việc là hầu như mỗi hành động theo ý muốn của anh đều kéo anh sâu hơn trong cái mơ cung của sự tán loạn (papañca) trên đời mà chính hành động ấy dự phần vào. Hành động có cái khuynh hướng cố hữu là tự bội tăng và tái tạo, tăng cường và bành trướng. Học nhân, ngay cả trong nỗ lực thực hành ba liễu hội đầu tiên, sẽ kinh nghiệm rằng những hành động của anh ta sẽ cố làm cho anh rối rắm trong những

* Trang 90 *
device

toan tính, kế hoạch, phận sự, mục tiêu phức toái mới. Điều ấy có nghĩa là nếu anh không hết sức dè chừng thì anh sẽ luôn luôn có nguy cơ bị mất điều mà anh đã thành tựu được trong việc thực hành trước đây hay không nhìn thấy được nó. Ở đây, sự liễu hội chân thực, vô si muội, nghĩa là sự tỉnh giác rõ ràng về Vô ngã, sẽ trợ lực vào “Bên trong không có cái ngã hành động, và bên ngoài không có cái ngã chịu tác dụng của hành động!”… Nếu giữ được như thế trước cái tâm không những chỉ trong những công tác lớn lao, mà ngay cả trong sinh hoạt lặt vặt không kém phần quan trọng của đời sống hàng ngày, thì bây giờ ta phát triển được cái cảm nhận lợi lạc về sự tách biệt tự nội với cái gọi là những hành động như thế. Hành động sau khi đã được xác định rõ ràng mục đích và sự thích đáng của nó, giờ đây được thực hiện chỉ vì nhằm vì nó và bằng khả năng của chính nó. Chính vì lý do ấy, mà khi ta hành động với sự lãnh đạm rõ rệt thì sự lãnh đạm ấy sẽ không làm tiêu hao năng lực của ta. Ngược lại, khi không còn liếc nhìn đến mình, đến người, đến kết quả thì sự tận lực chuyên chú vào công việc như thế sẽ nâng cao cơ hội thành công.
Nếu người ta không còn giữ chặt một hành động bằng trọn cả tấm lòng và cả cuộc sống của mình, nếu không còn những mong mỏi lợi danh cá nhân thì sẽ ít có nguy cơ bị cái dòng gồm những

* Trang 91 *
device

hành động do ta tự gây ra mang đi xa vào những đợt mới tới tấp của hiển luân hồi. Giữ lấy một sự kiểm soát nào đó về những tầng bậc đạt được từ hành động đầu tiên, hay nếu cần, “phá bỏ hành động” và rút vào “vô vi” nghĩa là sự an bình và bảo vệ của thái độ chú ý đơn thuần thì đấy sẽ là việc dễ dàng hơn.
Hành động theo đuổi những cứu cánh thế tục như một cái tâm chưa giải thoát vẫn thực hiện thường chỉ tạo thêm trói buộc. Việc duy trì sự “tự do trong hành động” khả dĩ cao nhất ở trong thế giới bị “trói buộc bằng hành động” (Nghiệp – Kamm à) là một trong những nhiệm vụ và thành tựu của liễu hội về thực tính, phối hợp với ba loại kia. Chú ý đon thuần dạy thêm cho ta về “tự do trong vô vi” hay “tư do trong việc để mặc cho mọi sự”. Trước đây, chúng tôi đã trích dẫn một lời dạy của Đức Bổn Sư về việc cái tâm giải thoát của một bậc đại nhân thật sự, nghĩa là một Thánh nhân, là kết quả của việc thực hành toàn hảo về Satipaṭṭhàna. Bây giờ, sau khi đã bàn đến hai loại tự do mà Niệm tâm và Liễu hội cống hiến, chúng ta sẽ có một vị trí thuận tiện hơn để hiểu lời dạy ấy về hiệu lực giải thoát của việc thực hành Satipaṭṭhàna.
Cuối cùng, một đặc trưng có ý nghĩa khác của loại liễu hội thứ tư đáng được ghi nhận. Nhờ liễu hội về thực tính mà cái phần hoạt động của đời

* Trang 92 *
device

sống cũng sẽ được cái tư tưởng thực sự cách mạng là Vô ngã thâm nhập vào, đấy là giáo lý trọng tâm của Đức Phật và là giáo lý quyết định nhất để thực sự giải thoát khỏi khổ đau. Do đó, ảnh hưởng của nó không nên chỉ hạn hẹp vào một số ít giờ suy tư hay Thiền định dành riêng cho những con người bận rộn với bao công việc thế tục. Đời ta thì ngắn ngủi. Ta không thể chịu nhìn phần lớn của đời ta chỉ như những đất đá vô tri, hoặc cố ý hay vô tình xem nó như một hạng bần dân gồm những người cần lao nô dịch cần thiết nhưng đáng kính, trình độ văn hóa còn thấp kém. Ta không thể chịu cho cái phần lớn ấy của đời ta bị vô ích và không được kiển soát à cho phép hầu hết các tư tưởng; tình cảm và hoạt động của chúng ta cứ mặc sức lông bông, rất thường đưa đến tại hại lớn lao nhất cho chúng ta.
Điều cấp thiết nhất của khoảng thời gian ngắn ngủi của đời ta, ngoài hẳn nguyên tắc chính thống của phương pháp Satipaṭṭhàna, tức là sự hòa lẫn giữa đời sống và việc thực hành tâm linh, là mọi của nó, tùy theo những cơ hội mà nó tạo ra và mọi hành động, ngay cả hành động tầm thường nhất theo cách riêng của nó, đều nên được dùng cho việc giải thoát là phần việc riêng của liễu hội, đặc biệt về phương diện kinh nghiệm trực tiếp về Vô ngã.
Minh triết Tây Tạng bảo rằng: “Một hệ thống tư duy sản sinh được sức mạnh tập trung

* Trang 93 *
device

 
Satipaṭṭhàña Trái Tim Của Thiền Định Phật Giáo