LOGO VNBET
của phương pháp này cho những vấn đề và hoàn cảnh hiện nay. Ở đây, trong khuôn khổ hạn hẹp, những trang sách này chỉ có thể đưa ra những chỉ dẫn vắn tắt về nó mà thôi. Sự nghiêng cứu và những bổ sung phải gác lại một dịp khác hoặc dành cho những cây bút khác tài năng hơn.
Ý kiến bàn luận sau đây về những văn bản mà truyền thống cổ Satipaṭṭhàna đặt cơ sở là nhắm vì lợi ích cho những người, đặc biệt là ở phương Tây, chưa quen thuộc lắm với kinh sách Phật giáo…
BẢN KINH, TÊN KINH VÀ BẢN SỚ LUẬN CỦA KINH
Kinh Quán Niệm hay Niệm xứ (Satipaṭṭhàna Sutta) nguyên gốc của Đức Phật được thấy ở hai nơi trong các kinh điển Phật giáo: 1. Bản kinh thứ 10 của Trung Bộ kinh (Majjhima Nikàya), 2. Bản kinh thứ 22 trong Trường Bộ kinh ( Digha Nikàya) với tiêu đề là “ Mahà Satipaṭṭhàna Sutta”, nghĩa là Đại kinh, v.v…Bản sau chỉ khác bản trước ở chỗ có bàn chi tiết về Tứ Thánh đế gồm trong phần “ Quán niệm về các nội dung của tâm thức” (Quán Pháp) liên hệ với Tứ Thánh đế. Bản thứ nhất, ngắn hơn, được in lại trong cuốn này (Phụ lục B).
TÊN KINH – Trong từ ghép Pàli “ Sati-patthàna”, chữ đầu, Sati (Sanskrit: smrti) có nguyên nghĩa là “ký ức”, “sự nhớ lại”…Nhưng trong việc sử dụng từ Phật giáo và đặc biệt là trong kinh điển

* Trang 17 *
device

Pàli, chỉ thỉnh thoảng Sati mới có nghĩa là nhớ lại các sự việc trong quá khứ. Phần lớn nó nhằm chỉ vào hiện tại, và như là một từ về tâm lý học tổng quát, nó mang ý nghĩa là “sự chú tâm” hoặc “sự để ý”. Nhưng còn thông thường hơn nữa, trong kinh điển Pàli, nó được dùng hạn hẹp là một loại chú tâm mà trong ý nghĩa của học thuyết Phật giáo nghĩa là tốt, là thiện xảo hoặc đúng đắn (kusala). Cần ghi nhận rằng chúng tôi đã dành từ Niệm tâm (mindufulness) để dịch từ ấy theo cách dùng sau này.  “Sati” trong nghĩa ấy, là chi phần thứ 7 của Bát chánh đạo, dưới cái tên “ Sammà Sati”, nghĩa là Chánh niệm, được giải thích một cách chính xác là “ Tứ niệm xứ” (Satipaṭṭhàna).
Phần thứ hai của từ ghép ấy, patthàna, rất có thể thay thế cho “Upaṭṭhàha”, nguyên nghĩa là “đặt vào” (đặt tâm mình vào), nghĩa là giữ cho nó có mặt giữ sự tỉnh ý, thiết định. Sự diễn tả này, trong nhiều hình thức ngữ pháp khác nhau, thường được dùng liên hệ với “ Sati”, ví dụ trong bản kinh của chúng ta, “ Satim upaṭṭhapet”, nguyên nghĩa là “đã gữi cho sự chú tâm của mình có mặt”. Hơn nữa, trong bản Sanskrit, có lẽ khá xưa, tựa đề của kinh là “ Smṛti – upasthànasùtra”. Theo cách giải thích ấy, tên kinh đầy đủ có thể được dịch là “Sự hiện diện của Niệm xứ”.
Giữa những thay đổi khác nhau của việc diễn dịch tên kinh, bản sớ luận ghi rằng bốn đối tượng

* Trang 18 *
device

hay bốn quán, “tâm, v.v…” được đề cập trong bản kinh là “ chỗ chính yếu” (padhànam thànam), “ phạm vi thích yếu” (gocara) của Niệm xứ. Điều này gợi lên sự chuyển dịch là “Niệm xứ” hay “các căn bản của Niệm xứ”, và ở đây đã thừa nhận lối dịch ấy.
Một lối dịch khác về tên kinh mà ngài Soma đã dùng trong “pháp môn Niệm xứ” (The Way of Mindfulness) là “tỉnh giác” (The Arousing of Mindfulness). Nó được căn cứ vào nguyên nghĩa của từ “ Paṭṭhàna”, và vào ý nghĩa sau đó của từ này là: “ (cái chỗ) nguyên gốc, căn do”…
Tuy nhiên, tốt hơn, nên để cho từ Pàli “Satipaṭṭhàna” tự nó dần dần trở nên quen thuộc trong những người đọc kinh sách Phật giáo ở phương Tây, như trong trường hợp các từ Kamma (Karma – nghiệp), Dhamma (Pháp), v.v…
Bản sớ luận của bản kinh, ít ra về nội dung, chắc chắn đã được viết sau thời kỳ hình thành học thuyết. Tuy nhiên, chính bản đầy đủ của tất cả các sớ luận cổ về kinh điển Phật giáo bằng Pàli cũng chỉ xuất hiện ở thế kỷ thứ IV  sau T.L. Bản mà chúng ta có bây giờ  đây là một bản dịch lại và có thể có nhiều phần được chuyển dịch sang ngôn ngữ Pàli từ một bảng cổ bằng tiếng Singhal được tìm thấy ở Sri Lanka. Việc dịch này sang tiếng Pàli được thực hiện do nhà đại học giả và luận gia của thế kỷ thứ IV sau T.L là ngài Buddhaghosa, và bên cạnh một số chuyện mẫu, có lẽ ngài đã thêm vào

* Trang 19 *
device

 
Satipaṭṭhàña Trái Tim Của Thiền Định Phật Giáo