LOGO VNBET
định có hệ thống tuy tập trung (như sẽ được nêu rõ ở phần Phụ lục) quanh một số rất ít đề tài được tuyển chọn từ việc “Quán niệm về Thân” nhưng tại đó, các đối tượng khác của Niệm tâm cũng sẽ có cơ hội rộng rãi để đi vào trong phạm vi quán sát và cí thể sẽ nhận trọn vẹn sự chú ý.
CÁC HƯỚNG DẪN CHO VIỆC THỰC HÀNH
Việc chuyên môn và toàn hảo của phương pháp này cũng áp dụng vào các phạm vi khác nữa, được nêu dẫn rõ trong điều mà chúng ta có thể gọi là những hướng dẫn cho việc thực hành được lặp đi lặp lại trong bản kinh sau mỗi bài tập đơn lẻ. Các hướng dẫn ấy khởi đầu như sau: “ Như vậy, vị ấy sống quán thân bằng cách hướng vào bên trong (trong chính vị ấy)…bằng cách hướng ra bên ngoài (trong những người khác)…bằng cách hướng vào bên trong và hướng ra bên ngoài…”.
Theo phần đầu của các “hướng dẫn”, mỗi thực tập đơn lẻ trước tiên phải được áp dụng vào chính chúng ta rồi mới áp dụng vào những người khác (nói chung hay vào riêng một con người cụ thể đáng được quán sát) và cuối cùng, áp dụng vào cả mình và cả người khác. Cái nhịp điệu ba bậc này của mỗi khía cạnh của việc thực hành rõ ràng đã được xem là rất quan trọng. Nó cũng thị hiện trong những nối kết và áp dụng khác nhau trong nhiều kinh của Đức Phật và trong cả văn học Pàli sau này. Nhờ theo huấn thị ấy mà những xác nhận

* Trang 99 *
device

không hoàn hảo, những phán đoán sai lầm vì mức độ chú tâm chưa đủ và những thái độ thiên chấp sẽ bị loại trừ.
Về thái độ thiên chấp thì chẳng hạn, có các mẫu cơ bản về căn tính được C.G. Jung nêu lên: Hướng nội và hướng ngoại, tức là những người thù thắng quay vào bên trong hoặc thù thắng quay ra bên ngoài. Hạng người đầu tự nhiên sẽ thích quán sự vật ở bên ngoài. Những thiếu sót do mỗi sự quán xét phiến diện sẽ được bù đắp bởi việc thuần thành theo đúng theo đúng các huấn thị nêu trên. Kết quả tự nhiên của phương pháp thực hành ba bậc ấy sẽ là mỗi mẫu căn tính sẽ sửa chữa những khuyết điểm của nó cho đến khi một sự quân bình lý tưởng được thành tựu. Phương pháp Chánh niệm này, như là một sự hóa thân của Trung đạo, chính là thực sự cung cấp những gì mà mỗi mẫu cực đoan thiếu sót, và nó thực hiện điều ấy với một hình thức khéo léo và có thể chấp nhận được với mỗi mẫu cực đoan ấy. Nhưng trong trình bày ngắn gọn này, chúng tôi không thể đi sâu vào những chi tiết ấy được.
Nhiều sự vật, khi được quan sát trong các sự vật khác, hay trong các đối tượng ở bên ngoài thân, co phép ta hiểu rõ chúng hơn là khi chúng được quán sát bên trong ta. Một sự thẩm xét chặt chẽ, và một sự phán xét vô tư hơn như thế là khả hữu, và những khuyết điểm, những đức tính và những

* Trang 100 *
device

hậu quả của chúng ta có thể thị hiện dưới một ánh sáng rõ ràng hơn. Mặt khác, bằng một sự chú ý chuyên biệt vào những người hay những sự vật bên ngoài, người ta có thể dễ dàng quên đi việc áp dụng vào chính mình. Điều này có thể xảy ra một cách hoàn toàn vô thức, ngay cả trong việc quán Vô thường, v.v… Nếu những quan niệm như thế chỉ tiếp diễn bằng một cách rất khái quát mà không nhằm thẳng đến trường hợp riêng của chính ta thì chúng sẽ chỉ một hiệu quả rất giới hạn.
Giai đoạn thứ ba của nhịp điệu thực hành ba bậc ấy là giai đoạn nhìn thấy các sự vật bên trong và bên ngoài trong một tiến trình liền ngay. Khi so sánh chúng, những tương đồng cũng như những dị biệt được quan sát sẽ giúp ích nhiều cho sự hiểu biết. Chú ý cũng sẽ còn nhằm đến những nối kết với nhau hiện diện giữa các trường hợp bên trong và bên ngoài của cùng một nhóm sự vật, ví dụ vật chất làm nên các thân thể này của chúng ta, và thiên nhiên bên ngoài; nhằm đến những liên hệ nhân quả và những liên hệ giữa khác những hiện tượng bên trong và bên ngoài, một cách vắn tắt: nhằm đến sự kiện của điều kiện tính và tương quan tính (1). Việc thẩm xét về những tương quan và những điều kiện cũng quan trọng đối với sự hiểu biết hàm súc về thực tại như kết quả của việc phân tích vật. Cuối cùng, giai đoạn thứ ba, giai đoạn kết hợp của
_____________
(1) Tức tính duyên sinh.(N.D.)

* Trang 101 *
device

việc thực hành nhằm tỏ rõ giá trị tổng quát của tri thức và kinh nghiệm thu nhập được và tỏ rõ tính chất Vô ngã của mọi đối tượng quán sát. Điều này sẽ dần dần đưa đến kết quả là cả những sự vật bên trong và bên ngoài, nghĩa là những sự vật của chính ta hay của những người khác được nhìn thấy ngay như là những quá trình Vô ngã.
Tuy nhiên, cần phải ghi nhận rằng trong sự phát triển thiền định có hệ thống về Tuệ giác, chỉ riêng những đối tượng bên trong là được nhận lấy và được đưa vào tụ điểm của chú ý đơn thuần. Sở dĩ như thế là vì riêng những quá trình thân và tâm của chính ta mới được kinh nghiệm thực tiếp chấp nhận. Đấy là một sự hiểu biết bằng kinh nghiệm trực tiếp (Paccakkha ñàna), trong nghĩa hẹp nhất, nhằm chỉ đến và là dấu hiệu phân biệt của Thiền định và Tuệ giác của Phật giáo (Vipassanà Bhàvanà). Suy luận, nghĩ ngợi, v.v… hoàn toàn bị loại trừ vào lúc đầu của việc thực hành và chỉ ở vào cấp độ sau đó chúng mới có thể nhận một chỗ giới hạn trong đó, như là một loại tạm nghỉ khi suy luận được tạo thành từ sự quán sát thiền định về những sự kiện hiện tại sang đến những gì xảy ra trong quá khứ và tương lai của cùng một mẫu loại. Tuy nhiên, Niệm tâm về những đối tượng bên ngoài có thể và phải được rèn luyện ngoài sự thực hành thiền định chặt chẽ. Những đối tượng bên ngoài này, nghĩa là các hoạt động thuộc thân

* Trang 102 *
device

và tâm của những người khác sẽ tự trình diện với chúng ta hoặc do nhận thức giác quan hoặc do suy luận. Việc quán các đối tượng ấy sẽ cần đến một đặc tính khác tùy theo những chi tiết riêng biệt của mỗi sự thực tập (như được nên trong bản kinh), và sẽ đòi hỏi những mức độ quan trọng khác nhau. Đấy là một đề tài mà ở đây chỉ có thể nêu lên mà không thể bàn kỹ được.
Cách áp dụng thứ hai về các thực tập đơn lẻ cũng diễn tiến trong một nhịp điệu ba bậc như thế đó là:
  1. Chú ý đến
  2.  Sự sinh khởi
  3. Sự hoại diệt.
Cả sự sinh khởi lẫn sự hoại diệt. Như đã được nêu rõ trước đây, cái kinh nghiệm trực tiếp này về sự kiện và bản chất của biến đổi là điểm mấu chốt của việc thực hành của kết quả quyết định của quá trình kinh nghiệm ấy. Bản sớ luận về kinh cần phải được tham khảo ở mỗi chỗ lặp đi lâp lại của đoạn văn. Tuy nhiên, bản sớ luận không bàn đến sự quan sát thiền định thực về các sự kiện và bản chất của biến đổi sự quan sát không đòi hỏi nhiều đến luận giải như việc thực hành tinh chuyên. Nó nhằm bàn nhiều hơn về sử dụng những quan sát thiền định ấy để suy luận phân tích và để hiểu biết thâm sâu về chúng trong ý mạch uyên bác hơn của

* Trang 103 *
device

Phật pháp. Ở đây, chúng ta chỉ ghi nhận thêm riêng sự việc là nhờ vào suy luận, quan niệm này về sinh khởi và hoại diệt có thể được sử dụng một cách tiện lợi đối với việc xa lánh cũng như việc bác bỏ một số lý thuyết lý luận. Theo Đức Phật, lòng tin vào đoạn diệt (triết thuyết hư vô luận, duy vật luận, v.v…) bị bác bỏ bởi sự kiện sinh khởi, và lòng tin vào vĩnh cửu (thuyết hữu thần, phiếm thần, thực tại luận ngây thơ, v.v…) bị bác bỏ bởi sự kiện hoại diệt.
Phần còn lại của đoạn này chỉ rõ những kết quả của hai bậc thực hành đã nói trước kia, nghĩa là nói đến những vật bên trong, v.v… sự khinh khởi,v.v… “có thân thể đây”, “có cảm thọ đây, v.v…”nhưng không có tự ngã riêng biệt, không có ngã tính hay linh hồn. Những lời ấy của bản kinh chỉ đến những kết quả nghĩa trí tuệ, nghĩa là cái thấy hiện thực về các sự vật đúng thực như các sự vật ấy. Chúng ta đọc về trong bản kinh: “vị ấy sống tự tại và không nắm chấp vào một thứ gì”. Điều này chỉ rõ cái thái độ kết quả của việc tách ly. Phần kết luận này của đoạn lặp lại chứng tỏ, như là kết quả của việc thực hành, sự tự do, thoát khỏi hai “sự lệ thuộc” chính, hay hai ràng buộc của con người như bản Sớ luận nêu lên: Tà kiến (diṭṭhi) và tham (tanhà), tức là thoát khỏi sự trói buộc của lý trí và phi lý, lý thuyết và thực hành…
Trọn cả đoạn mà chúng ta vừa bàn đây là một trường hợp nổi bật của những tính chất đặc biệt

* Trang 104 *
device

 
Satipaṭṭhàña Trái Tim Của Thiền Định Phật Giáo