LOGO VNBET
các đối tượng của nó tạo nên sự tự chủ cũng như sự tự do. Điều này cũng đúng cho trường hợp của thân thể nữa. Ở đây, không cần có một sự hành xác nào để xác nhận sự làm chủ thân thể của tâm. Trung đạo dẫn ta lên trên các cực đoan về hành xác và dục lạc: Pháp môn Niệm tâm và Liễu hội đơn giản, hiện thực và cưỡng mang lại tự chủ và tự do. Theo “Con đường độc nhất dẫn đến diệt trừ khổ đau và sầu não”, thân thể sẽ trở nên nhẹ nhàng, uyển chuyển đối với người đi trên con đường ấy, và dù cho cả khi thân thể phải đầu hàng tật bệnh và đau đớn, sự an bình của tâm cũng sẽ không bị ảnh hưởng.
II. QUÁN CẢM THỌ
Từ Pàli vedanã được dịch ở đây bằng từ “cảm thọ” trong tâm lý học Phật giáo có nghĩa là cảm giác lạc, khổ hay bất lạc bất khổ phát xuất từ tâm lý hay vật lý. Nó không được dùng trong tiếng Anh nghĩa “cảm xúc” là một yếu tố tâm thức thuộc một bản chất phức tạp nhiều.
Cảm thọ, trong ý nghĩa được nêu ra, là cái phản ứng đầu tiên trước mọi cảm giác (ấn tượng thuộc giác quan), và do đó rất đáng cho ai mong muốn làm chủ tâm đặc biệt chú ý tới. Trong công thức “Duyên khởi” (Paticca Samuppàda) mà Đức Phật dùng để chỉ “sụ khởi sinh tùy thuộc điều kiện của toàn bộ cái khối khổ đau này”, cảm giác được gọi là điều kiện chính của Cảm thọ (Phassa

* Trang 116 *
device

Paccayà Vedanà), trong khi cảm thọm về phần nó, lại là điều kiện chủ yếu của Tham ái, và theo sau đó, quyết liệt hơn, của Thủ chấp (Vedanà Paccayà Tanhà, Tanhà Paccayà Upàdànam).
Do đó, điều này là điểm quyết định trong các duyên sinh của Khổ, vì chính tại điểm này mà cảm thọ tạo nên sự sinh khởi của cảm xúc sôi nổi thuộc nhiều loại khác nhau, và do đó chính tại đây là chỗ ta có thể phá vỡ cái chuỗi si dại kia. Nếu khi nhận một cảm giác, người ta có thể chần chờ và dừng lại ở giai đoạn cảm thọ, và làm cho cảm giác ấy, ở ngay trong chính cấp độ đầu tiên của sự biểu hiện, trở thành đối tượng của chú ý đơn thuần, cảm thọ sẽ không thể khởi sinh tham ái hay các tình thức khác. Cảm giác ấy sẽ dừng lại ở những xác nhận đơn thuần về “lạc”, “khổ” hay “không lạc, không khổ” mà cho liễu hội thời gian để bước vào và quyết định thái độ hay hành động phải thể hiện. Hơn nữa, trong chú ý đơn thuần, nếu ta ghi nhận sự  duyên sinh (1) của cảm thọ, sự việc nó suy tàn dần đi và tạo chỗ cho một cảm thọ khác, duyên sinh ấy sẽ trở thành một khinh nghiệm “riêng” của ta là chẳng chút gì cần thiết để bị đẩy đưa tới phản ứng nông nổi là phản ứng sẽ mở đầu cho một tiếp diễn khổ đau mới.
Một sự nhấn mạnh thái quá vào khía cạnh “cảm
_____________
(1) Duyên sinh: Sinh khởi tùy thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện chung quanh. (N.D.)

* Trang 117 *
device

Thọ” về thực tại ghi dấu cái gọi là những bản chất cảm xúc. Do các bản chấ ấy, những đặc trưng cần khổ và lạc của một kinh nghiệm cứ được người ta cảm nhận mãi hoài và bằng một cách đam mê và do đó làm cho nó thành hệ trọng ra. Điều này sẽ dẫn đến một cái nhìn quá đáng về hoàn cảnh và một hoàn cảnh cực đoan đối với kinh nghiệm ấy hoặc bằng sự phấn chấn hay nản lòng, ngợi khen hay chê trách, v.v.. Những ngoài những mẫu loại cảm xúc dễ phân biệt, ngay cả khi cảm thọ không được cảm soát đúng như trường hợp của một người bình thường, nó cũng sẽ có khuynh hướng sản sinh những sự thái quá quen thuộc với tất cả sự bất mãn và chán chường do chúng gây nên. Thương thường ta có thể nghe người ta than: “cái này hay cái kia mới là niềm hạnh phúc độc nhất của tôi!”, hay “cái này hay cái kia hẳn là cái chết của tôi”. Nhưng cái tiếng nói thầm lặng của Niệm tâm thì bào rằng: “Đây là một thọ lạc, cũng giống nhiều lạc thọ khác, và chẳng có gì hơn nứa!” hay “ Đây là một khổ thọ, cũng giống như nhiều khổ thọ khác, và chẳng có gì hơn nữa!”. Một thái độ như thế sẽ góp phần rất nhiều vào một sự quân bình và thỏa lòng nội tại rất cần thiết giữa những thăng trầm của cuộc đời.
Một nhược điểm cố hữu khác của thế giới cảm thọ khi nó không được lý trí và trí tuệ kiểm soát là tính chủ quan cực đoan và mập mờ. Sự cảm thọ không được kiểm soát chẳng đạt chút vấn đề gì về

* Trang 118 *
device

những giá trị mà nó buộc quá mức vào người và sự vật; nó không chấp nhận khả hữu nào của những sự đánh giá khác về cùng một đối tượng; nó dễ dàng không để ý tới hay làm tổn thương các cảm thọ - nghĩa là các giá trị cảm xúc – của ngưới khác, tất cả điều này là do sự hướng ngã quá ngây thơ của nó. Ở đây, Chánh niệm cũng cung cấp phương thuốc chữa trị, bằng cách mở rộng quan sát tách biệt đến cả “những cảm thọ” của người khác nữa và so sánh chúng với cảm thọ riêng của ta trong sự hòa hợp với “những kiến thức cho việc thực hành”.
Trong đoạn nói về “Quán cảm thọ” mà bản kinh nêu ra, trước tiên có sự cảm nhận đơn giản về tính chất khái quát về cảm thọ vừa mới sinh khởi, nghĩa là lạc, khổ hay không khổ lạc. Tiếp theo đó là chính sự xác nhận ấy gồm theo một sự định tính về bản chất tầm thường hay cao thượng của ba loại cảm thọ ấy. Những xác nhận rõ ràng đơn thuần như thể sẽ tỏ ra rất hữu ích cho một sự tinh luyện dần cái đời sống cảm xúc, cho sự gia tăng những cảm thọ cao thượng và cho sự loại trừ những cảm thọ thấp kém. Sự ghi nhận ngắn gọn, đơn giản nhưng cứ lặp đi lặp lại về bản chất của những cảm thọ vừa mới sinh khởi, sẽ có một ảnh hưởng vào đới sống cảm xúc, lớn hơn sự thúc đẩy đối nghịch thuộc tình cảm hay lý trí bằng cách ngợi khen, phản đối hay tin nhận. Kinh nghiệm chứng tỏ rằng những người tình cảm thì ít mẫn cảm đối

* Trang 119 *
device

 
Satipaṭṭhàña Trái Tim Của Thiền Định Phật Giáo