LOGO VNBET
linh cũng như vì lý do thực tiễn, ta nên thực hiện làm sao càng không gây trở ngại càng tốt. Việc thực hành Niệm tâm và liễu hội nên tự chứng tỏ bằng các kết quả chứ không bằng bất cứ thái độ nào có thể tỏ ra bất thường đối với những người khác. Ta có thể chọn lựa những tập đều đặn của ta cho thích đáng và dành những thực tập khác vào những dịp ta được yên tịnh.
II.VỊ TRÍ CỦA VIỆC THỰC HÀNH CÓ PHƯƠNG PHÁP VỀ Satipaṭṭhàna TRONG HỆ THỐNG THIỀN ĐỊNH PHẬT GIÁO
Hệ thống Thiền định Phật giáo chai làm hai phần lớn:
A. SỰ PHÁT TRIỂN ĐỊNH (SAMATHABHÀVANÀ)
B. SỰ PHÁT TRIỂN TUỆ (VIPASSANÀBHÀVANÀ)
A. SỰ PHÁT TRIỂN ĐỊNH nhằm vào sự tập trung trọng vẹn của tâm, đạt được trong các Thiền định (Jhàna). Các Thiền định này đạt được, trong các trình độ khác nhau, do việc thực hành có hệ thống về một số trong 38 “đề tài Thiền định truyền thống dần đến Định” (Samatha Kammatthàna).
Nhờ ở trình độ cao của sự nhất hóa và tịch lặng tâm thức đạt được trong cái thiền định này, nhận thức ngũ quan tạm thời xóa đi và tư duy khái niệm và rời rạc bị yếu đi ở cấp độ thứ nhất của Thiền

* Trang 170 *
device

định sẽ hoàn toàn vắng mặt trong các cấp độ tiếp theo. Riêng từ sự kiện sau này (1), ta chỉ có thể hiểu rằng, theo lời Phật dạy, sự phát triển Định hay Thiền định chỉ là một phương tiện cho một cứu cánh chứ tự chúng không thể dẫn đến mục đích giải thoát tối thượng được là mục đích chỉ có thể đạt được nhờ Tuệ giác. Do đó, hành giả cần tiếp tục hành thiền bằng sự phát triển của Tuệ giác.
B. SỰ PHÁT TRIỂN TUỆ. Ở đây, những hiện tượng tâm thức hiện diện trong Thiền định và những quá trình thuộc thân thể mà từ đó chúng được xây dựng nên thì được phân tích và được nhìn dưới ánh sáng của Tam Pháp ấn (xem từ trang 54 – 64). Phương cách ấy, được chấp nhận trong Thiền định Phật giáo, được dùng như một chỗ dựa vững chắc chống lại sự giải thích suy lý hoặc tưởng tượng về kinh nghiệm Thiền định. Trình độ tập trung đạt được trong việc tu tập Tuệ tinh tiến và cần thiết cho việc tu tập này được gọi là cận Định (Upacàra Samàdhai). Ở đây, tư duy khái niệm và suy nghĩ rời rạc sẽ lấy lại trọn vẹn sức mạnh của nó, nhưng nhờ vào sự tập trung tâm thức mà ta đã đạt được, chúng sẽ không dễ dàng bị lệnh lạc vào nhiều đối tượng, mà vẫn theo đuổi một cách vững chắc và hiệu quả cái dòng mạch được đặt cho nó.
____________________
(1) Tức là sự kiện tư duy khái niệm và rời rạc hoàn toàn vắng mặt ở các cấp độ tiếp theo. (N.D.)

* Trang 171 *
device

Việc thực hành tập hợp về Định và Tuệ rất thường được miêu tả trong các kinh điển Phật giáo. Nhưng chúng ta cũng gặp, và không phải là hiếm khi, một phương pháp về Tuệ giác đơn thuần (Sukkha Vipassanà) (1), tức là sự thực hành Thiền định. Phương pháp Satipaṭṭhàna được miêu tả ở đây, và những phương pháp thực hành được phát họa trong các trang trước đây, thuộc vào loại Tuệ giác đơn thuần ấy.
Một trong những khảo luận thuộc ki điển cổ về phương pháp Tuệ giác đơn thuần là kinh Susima (Samyatta Nikàya XII, N° 70). Trong đó các tu sĩ, bằng phương pháp ấy mà đạt đến giải thoát (Arhatta – Thánh quả) tự nói mình là “được giải thoát bằng Trí Tuệ” (Paññà Vimutti), và được giải thích trong phần sở chú là “ Bằng Tuệ giác đơn thuần mà không qua các Thiền định”. Trong rất nhiều trường hợp khác trong các kinh điển, Đức Phật đã nêu ra nhiều phương pháp để đạt thẳng tới mục đích tối thượng chỉ bằng Tuệ mà không phải nhờ vào Định (chẳng hạn, Samy. Nik.XXXV, 152).
Trừ ra những người đặc biệt, do bản chất, có chiều hướng mạnh mẽ tiến thẳng ngay đến Tuệ giác đơn thuần, chắc chắn phương pháp mà trong đó việc đạt đến Định trước cho sự thực hành có hệ thống
__________
(1) Tác giả không trực dịch từ Sukkha Vipassanà, Lạc tuệ hay Thanh tịnh tuệ, cái giác tuệ an lạc. (N.D.)

* Trang 172 *
device

về Tuệ là được ưu ái. Trong Định, tâm đạt đến một trình độ tập trung rất cao, sự thanh tịnh và an tịnh, và thâm nhập tận đến các suối nguồn tiềm thức của trực giác. Với một chuẩn bị như thế, giai đoạn tiếp theo của việc tu Tuệ rất có thể sẽ mang lại những kết quả nhanh hơn và vững chắc hơn. Do đó, người nào có những lý do chính đáng để tin rằng mình có thể tiến bộ khá nhanh trên con đường ấy hẳn là nên chọn một “đối tượng cơ bản của Thiền định” (Mula Kammaṭṭhàna) cũng đưa đến việc đạt định, chẳng hạn sự chú tâm vào việc hít thở.
Tuy thế, chúng ta phải đối mặt với sự kiện là trong thời đại cuồng loạn và náo nhiệt của chúng ta đây, sự trầm lặng tự nhiên của tâm, cái khả năng đạt những trình độ cao hơn trong tập trung, và những điều kiện bên ngoài cần thiết đối với việc trau dồi hai thứ ấy đã giảm xúc quá nhiều so với ngày xưa. Điều này thể hiện không chỉ ở phương Tây mà cả ở phương Đông, dù chỉ ở trong một mức độ nhỏ, và ngay cả ở một phần không phải là không đáng kể trong giới Tăn sĩ Phật giáo. Những điều kiện bên ngoài chính yếu cần cho việc tu Định là sự tịch cư và tĩnh lặng; và đây là những thuận tiện ngày nay rất hiếm hoi. Hơn nữa, hoàn cảnh chung quanh và sự giáo dục đã sản sinh một số càng lúc càng đông những mẫu người tự nhiên sẽ thích hợp với sự phát triển trực tiếp về Tuệ giác hơn và sẽ bị nó thu hút nhiều hơn.
Dưới những hoàn cảnh như thế, sẽ có thể đưa

* Trang 173 *
device

đến sự việc là thay vì ta dùng cái phương pháp do chính Đức Phật nêu lên rất rõ ràng; một phương pháp để thích ứng với những điều kiện thông thường ên trong và bên ngoài hơn, nhưng lại dẫn đến lục đích mong muốn; thì đằng nay ta lại bỏ qua những con đường hứa hẹn  cho ta tiến bộ nếu ta dùng phương pháp ấy sẽ là một áp dụng thực tiễn sự liễu hội về sự thích đáng.
Trong khi cứ mãi thất bại trong việc tạo tiến bộ trên con đường Định (đôi khi vì những điều kiện bất lợi bên ngoài) sẽ đưa đến việc làm nản lòng hành giả thì những kết quả sơ khởi tương đối nhanh chóng nhờ sự phát triển Tuệ sẽ là một khích lệ và là một kích thích mạnh mẽ đến nỗ lực liên tục. Hơn nữa, nếu Cận Định (trang 154) một khi đã đạt được nhờ phát triển Thiền quán về Tuệ thì những cơ may để đạt đến sự tập trung trọn vẹn của các Thiền định sẽ gia tăng đáng kể đối với những ai mong muốn đạt tới sự tập trung ấy.
Những lý do thực tiễn đã được nêu ra ở đây như thế chắc chắn cũng góp phần vào sự kiện là Satipaṭṭhàna đã chiếm lĩnh mạnh mẽ trong tâm thức của nhiều người ở Myanmar ngày nay. Việc áo dụng chuyên môn vào pháp môn Niệm tâm và sự truyền bá nhiệt liệt về pháp môn này của các tín hữu Myanmar được đặt căn bản trên niềm tin vững chắc, đưa vào kinh nghiệm cá nhân. Sự chuyên trọng mà việc thực

* Trang 174 *
device

hành Satipaṭṭhàna nhận được ở Myanmar, và trong các trang sách này, tuy vậy, không có nghĩa là gây nản lòng hay làm giảm giá trị đến những phương pháp hay lo toan khác. Satipaṭṭhàna sẽ không phải là con đường độc nhất nếu nó không bao gồm được tất cả các phương pháp hay lo toan ấy.
Phương pháp được miêu tả ở trong những “hướng dẫn” trên đây được vào Satipaṭṭhàna thứ nhất, việc quán thân thể (Kàyànupassanà). Những quá trình thuộc thân thể được chọn ở đây làm những đối tượng chính yếu cho Niệm tâm, dùng cho sự phát triển một cách hệ thống về Tuệ giác xuyên suốt toàn bộ việc thực hành, từ những bước đầu tiên của người mới khởi sự lên cho đến đỉnh cao của mục đích tối thượng. Ba phép quán Satipaṭṭhàna kia (cảm thọ, trạng thái của tâm, và các nội dung tâm thức) không được thực hiện một cách hệ thống mà nhằm vào mỗi khi những đối tượng của chúng xuất hiện, hoặc trong liên hệ với các đối tượng cơ bản và thứ yếu, hoặc trong phạm vi Niệm tâm tổng quát (suốt ngày). Bằng cách ấy, toàn bộ phạm vi của Satipaṭṭhàna được gồm đủ.
Khi những đối tượng thuộc về tâm xuất hiện trong sự nối kết chặt chẽ với một trong những đối tượng thuộc về thân thì việc nhận rõ bản chất tinh tế của chúng sẽ ít khó khăn hơn. Do tính tinh tế của chúng, chúng không được dùng riêng lẻ làm những đối

* Trang 175 *
device

tượng cho việc phát triển có hệ thống về Tuệ, vì điều này chỉ hứa hẹn thành công đối với trường hợp của những hành giả đã đạt được Thiền định (Jhàna).
Sự nhấn mạnh vào việc quán thân thể được các phát biểu của Đức Phật trong các kinh điển của Ngài cũng như truyền thống sớ luận nêu tỏ.
Bậc Giác Ngộ đã dạy: “Này các Tỳ kheo! Kẻ nào đã phát triển và đã thực hành Niệm tâm về thân thể thì mọi thứ lợi lạc đưa đến trí tuệ sẽ từ đó mà gồm vào cho kẻ ấy”.
                  (Majjhima 119, Kayagatasati Sutta)
“Nếu thân không được chế ngự (bằng thiền định, A Bhàvito), thì tâm sẽ không được chế ngự; nếu thân được chế ngự thì tâm được chế ngự”.
                 (Majjhima 36, Mahà – Saccaka Sutta)
Sách “Thanh Tịnh Đạo” (Visuddhi Magga) viết:
“Nếu sau khi đã chú tâm vào các quá trình về thân thể, ta chú tâm vào các quá trình tâm thức mà các quá trình về tâm thức tự chúng không xuất hiện một cách rõ ràng thì hành giả không nên xả bỏ việc thực hành, mà nên cứ mãi hoài tìm hiểu, quán xét, thực hiện và xác định chính ngay những quá trình thân thể đối với ta trở nên hoàn toàn tách bạch, không lộn xộn, rõ ràng thì những quá trình tâm thức dùng quá trình thân thể ấy làm đối tượng tự chúng sẽ trở nên rõ ràng.
“Vì những quá trình tâm thức sẽ chỉ trở nên rõ

* Trang 176 *
device

ràng đối với kẻ nào đã nắm lấy quá trình thân thể một cách hoàn toàn rõ ràng cho nên mọi nỗ lực để nắm lấy các quá trình tâm thức chỉ nân được thực hiện bằng cách nắm chắc chuyên cái quá trình thân thể chứ không thể khác hơn được…Nếu ta cứ tiến hành như thế, việc thức hành đề tài Thiền định (Kammatthàna) của ta sẽ lớn lên, phát triển và chín muồi.
Tưởng cũng nên nêu ra đây một ít lời giải thích liên hệ đến “đối tượng cơ bản” (cử động bụng) mà ngài Đại lão U Sobbana đã hướng dẫn. Người ta có thể phản đối và bảo rằng việc thực hành như thế không thấy được nói đến trong kinh Satipaṭṭhàna, cũng không thấy các bản kinh khác nói đến. Nhưng nhiều quá trình vật lý và tâm lý khác cũng thuộc vào trường hợp như thế, cũng không được nêu rõ ràng trong các kinh điển, ấy vậy mà lại thuộc về toàn bộ phạm vi lãnh hội của Niệm tâm. Tuy thế, “đối tượng cơ bản” của chúng ta rất có thể gồm trong đoạn sau đây của bản kinh: “Thân thể vị ấy được đặt trong tư thế nào, vị ấy biết thân thể ấy đúng như thế ấy”. Hoặc, lần lượt trong phần nói về “Sáu nội ngoại xứ”, vị ấy biết thân (1) và các đối tượng thuộc xúc chạm”.
Một học nhân cư sĩ ở Myanmar đã diễn tả rất khéo léo về sự thực tập ấy đã được thiền sư giới
_____________
(1) Thân, tức là quan năng tiếp xúc, cùng với đối tượng bên ngoài, tạo xúc thức (cái biết do sự xúc chạm…)

* Trang 177 *
device

thiệu như thế nào và về cái tinh thần theo đó nó được ngài đưa ra “sự thực tập này không phải do thiền sư phát minh ra, không phải nó bày đặt ra một cách tự tiện hay có tính toán. Quá trình thuộc thân thể được nêu lên chính là đúng theo sự chú ý của ngài…Nhận thấy chú ý đến quá trình ấy là có lợi, ngài luyện tập điều ấy và truyền lại cho những người khác. Nó không có một “ý nghĩa thần bí” nào cả, mà chỉ là một  sự kiện đơn giản và trong sáng của sự hiện hữu thuộc thân thể của chúng ta như nhiều sự hiện hữu khác. Nhưng bằng cách kiên trì áp dụng, ta có thể làm cho nó hiển lộ ra những gì mà nó phải nói và cho nó một cơ hội để thắp sáng ngọn lửa Tuệ giác thâm nhập. Sự thực tập này có một số lợi lạc rõ ràng sẽ được xác nhận xuyên qua việc thực hành, hành thực sự: cử động của bụng, cũng giống như sự hít thở, là một quá trình tự động, nó tạo nên cơ hội cho nhiều sự quan sát đưa đến Tuệ giác: Nó là, và vẫn là, một lợi lạc cho việc tu tập Tuệ giác có phần “thô trọng”, trong khi sự hít thở, ở những trình độ cao cả của việc tu tập về Ãnàpànasati (1) có khuynh hướng càng lúc càng tinh vi, tế nhị hơn.
 
 
__________________
(1) Âm Hán – Việt là an ban thủ ý, dạy 16 phép quán sự hít thở, chia làm 4 nhóm, mỗi nhóm 4 phép quán.

* Trang 178 *
device

 
Satipaṭṭhàña Trái Tim Của Thiền Định Phật Giáo