LOGO VNBET
Như vậy, chú ý đơn thuần vào điều kiện tâm thức hiện tại của ta, như việc đảm nhận trong việc quán trạng thái của tâm, chứng tỏ nó rất hữu ích cho cả việc hiểu biết lẫn việc phát triển tâm.
IV. QUÁN CÁC NỘI DUNG TÂM THỨC (QUÁN PHÁP – AHAMMA’ ÀNUPASSANÀ)
Bằng sự thực hành kiên cố về pháp quán cuối cùng của bốn pháp quán, các đối tượng tâm thức (P à li: Dhamma - ở đây có nghĩa chuyên biệt này) nghĩa là các nội dung của tư duy của Chánh pháp trong ý nghĩa giáo lý về thực tại và giải thoát của Đức Phật. Những thực tập đơn lẻ trong bản kinh tạo cho mục đích ấy một sự chọn lựa đầy đủ về những hình thái tư duy hay ý nghĩa ấy, là những thức phù hợp với cái chân thực và sẽ cống hiến cho tâm một khuynh hướng tự nhiên đưa tới mục đích giải thoát. Những thực tập ấy cần phải được thâm nhập tối đa vào trong các mẫu thức tư duy của đời sống hàng ngày và cần phải thế chỗ cho những khái niệm không thể phù hợp với sự thẩm xét của Chánh kiến và kết quả chặt chẽ với những ý niệm và mục đích trái với pháp môn Niệm tâm.
Ở đây, sự thực tập đầu tiên nhằm vào Năm triền cái (nìvarana) (1), và sự thực tập thứ tư nhằm
______________
(1) Ngũ triền cái, năm sự ngăn chặn chính thuộc về tâm thức. (N.D.)

* Trang 122 *
device

vào Bảy giác chi (bojjhanga) (1), nghĩa là hai sự thực tập này nhằm vào những tính chất phải lìa bỏ và những tính chất cần phải có. Những tính chất khác cần phải lìa bỏ được gọi là trong sự tập thứ ba (về 6 căn bản thuộc giác quan) (2) dưới ý nghĩa các kiết sử (samyojana) (3) được liệt kê trong bản sớ luận.
Các phần đầu của sự thực tập đầu tiên và sự thực tập thứ tư thuộc về thực hành chú ý đơn thuần. Nội dung vắn tắt của đoạn văn này như sau: Nếu một triền cái nào đó hay một giác chi có mặt hay vắng mặt trong hành giả, vị ấy cần thức trọn vẹn vào sự kiện ấy. Ngoài ra, phần sau đây của sự thực tập thứ ba cũng thuộc về chú ý đơn thuần nữa và kiết sử sinh khởi cũng tùy thuộc vào cả hai (ví dụ con mắt và các hình sắc) mà vị ấy biết rõ “tất cả ba đoạn nêu trên đây đưa ra một xác nhận đơn thuần về trạng thái hiện tại của tâm, chủ yếu là thuộc về pháp quán trạng thái của tâm. Ở đây, nó được dùng như một chuẩn bị cần thiết cho giai đoạn thứ hai của ba thực tập này. Trong giai đoạn thứ hai ấy, liễu hội hướng mục đích và khảo sát chuyên thâm được dùng trong các nhiệm vụ sau:
(1) Tránh khỏi, từng lúc thắng vượt và cuối cùng triệt tiêu các triền cái và kiết sử liên hệ;
_________
(1) Thất giác chi, bảy yếu tố của sự chứng ngộ
(2)Tức sáu nội ngoại xứ, đã giải thích.
(3) Các kiết sử: Những sự ràng buộc. (N.D.)

* Trang 123 *
device

(2) Tạo nên và phát triển các giác chi.
Đối với cả hai nhiệm vụ ấy, một sự hiểu biết thâm sâu về những điều kiện đưa đến sự sinh khởi của những trạng thái tâm liên hệ là rất cần thiết. Trong bản kinh, sự thẩm xét ấy về những điều kiện được ghi một các khái quát như “(kiết sử, triền giác, giác chi) chưa sinh khởi nay sinh khởi như thế nào, vị ấy biết rõ…”. Nhiều điều kiện được bàn rất chi tiết trong các đoạn liên hệ của bản Sớ luận là các đoạn rất quan trọng. Nhưng sự hiểu biết những điều kiện ấy về các trạng thái thiện hay bất thiện của tâm sẽ chỉ trở thành một sở hữu tâm thức thực sự của học nhân nếu như nó được ứng dụng và thử nghiệm trong những cơ hội hiện thực của đời sống hằng ngày.
Ba sự thực tập được nêu trên đây (sự thực tập thứ ba, trong giai đoạn thứ hai của nó) sẽ cung cấp “những hình thái tư duy”, hay những công cụ khái niệm về Chánh pháp đối với việc thực hành Chánh pháp.
Sự thực tập thứ hai, thứ ba (trong giai đoạn đầu của nó) và thứ năm nhằm vào Ngũ uẩn (Khandha), Sáu nội ngoại xứ (Axyaatana) và Tứ Thánh đế (Sacca) nêu định cái thực tại trong toàn tính của nó – mỗi thực tập bằng một cách riêng và từ một góc cạnh khác.
Ba sự thực tập này sẽ khiến cho hành giả đem những kinh nghiệm hàng ngày của mình, những

* Trang 124 *
device

kinh nghiệm vẫn thường ám chỉ một ngã tính không hiện diện, mà hợp nhất với bản tính vô ngã của chính thực tại. Ngôn ngữ quy ước (Vohàra hay Sammuti), được đặt căn bản trên niềm tin về ngã tính hay được chuyển đổi thành những ý nghĩa “rốt ráo” hay thực sự (Paramatha) của Chánh pháp. Bằng cách ấy, những kinh nghiệm riêng lẻ về cuộc đời có thể được vào liên hệ với Chánh pháp, như là một toàn bộ, và những vị trí riêng của chúng có thể được xếp vào bên trong hệ thống của học thuyết.
Đối với việc áp dụng như thế về quán các nội dung tâm thức, bản sớ luận nêu lên một thí dụ trở nên càng sâu đậm hơn khi nó được đều đặn lặp đi lặp lại trong đó. Sau khi giải thích đầy đủ về từng sự thực tập riêng mà bản kinh nêu ra, bản sớ luận luôn luôn đưa từng sự thực tập ấy vào liên hệ với Tứ Thánh đế. Chẳng hạn: “ Tại đấy khổ đế là sự chú tâm nhiếp lấy sự hít vào và thở ra. Khát ái xảy ra trước chú tâm ấy và gây nên nó là Tập đế. Cả hai thứ đều không xảy ra là Diệt đế. Con đường thanh tịnh của sự hiểu biết Khổ, lìa bỏ Tập, lấy Diệt làm đối tượng, là Đạo đế”.
Ba sự thực tập, số 2, 3 và 5 cung cấp những hình thái tư duy cuộc sống tính chất lý thuyết về Chánh pháp; nghĩa là các khung sườn cho việc phân tích thực sự về thực tại. Sự thực tập thứ năm, về các Thánh đế, thành tựu cái mục đích phụ thêm là giữ sự nối kết với mục đích thực hành nền tảng

* Trang 125 *
device

Về Chánh pháp như được diễn tả trong Diệt đế và Đạo đế đưa đến mục đích này.

Ba phép quán về cảm thọ, trạng thái của tâm và nội dung tâm thức nhằm đên phần tâm thức của con người đúng như phép quán thân thể quy tụ vào quan điểm trung tâm của Chánh pháp; đó là Anttà (Vô ngã). Toàn bộ bản kinh Các căn bản của Niệm tâm (Kinh Niệm Xứ)1 có thể được xem không gì khác hơn là một kiến thức thông hội về lý thuyết và thực hành cho việc thể nghiệm chân lý giải thoát Anattà ấy, gồm hai khía cạnh Vô ngã và Vô bản chất. Sự hướng dẫn của Satipaṭṭhàna cung ứng không những sẽ tạo nên một sự hiểu biết thâm sâu về chân lý ấy mà bằng sự chứng minh có thể thấy được xuyên qua các thực tập đơn lẻ, sẽ còn tạo nên sự hình dung ngay liền về chân lý ấy là điều độc nhất sản sinh ra năng lực chuyển đổi cuộc đời và vượt lên trên cuộc đời.

Sự trình bày về phương pháp
Satipaṭṭhàna theo cách chia đôi về thể cách và đối tượng thực hành đến đây là chấm dứt. Sự trình bày này, trên những nguyên tắc nền tảng của nó, dù không phải chi tiết và hệ thống, đã được đặt cơ bản vào những
__________
1 Kinh Satipaṭṭhàna

* Trang 126 *
device

 
Satipaṭṭhàña Trái Tim Của Thiền Định Phật Giáo