LOGO VNBET
NIỆM TÂM LÀ GÌ?
Niệm tâm, dù được hết sức ca ngợi và có thể có những thành tựu hết sức to lớn, vẫn không “bí mật” tí nào, không hề vượt quá tầm mức, năng lực của đám người bình thường. Trái lại, nó là cái gì hoàn toàn đơn giản và chung nhất, và rất quen thuộc với chúng ta. Trong sự biểu lộ sơ đẳng của nó mà ta biết đến với từ “Sự chú ý”, đây là một trong những chức vụ chủ yếu của ý thức mà không có nó thì không thể có sự nhận thức về bất cứ đối tượng nào cả. Nếu một đối tượng thuộc cảm quan gây nên một kích thích đủ mạnh, sự chú ý được thức dậy trong hình thức căn bản của nó, như là một sự “để ý” sơ khởi về đối tượng(1). Do như thế mà ý thức phá vỡ các dòng đen tối của tiềm thức. (Đây là một chức năng mà theo Abhidhamma (tâm lý học Phật giáo), được thực hiện vô số lần trong mỗi giây của sự sống giác tỉnh)… Cái thức năng này của Niệm tâm mới manh nha, hay sự chú ý ban đầu tuy còn là một tiến trình sơ khai, nhưng nó là mối quan trọng quyết định, là sự nhô lên đầu tiên của ý thức khỏi lòng đất tiềm thức của nó.
Từ giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức này, tất nhiên chỉ hình thành được một hình ảnh
______________________
(1) Xem trong Tâm lý học Phật giáo (Abhidhamma – A Tỳ Đàm), từ Avajjana, nguyên nghĩa là “quay về phía” (đối tượng). Theo đó là những chuỗi khoảnh khắc (sát na) của ý thức cần thiết cho một động tác đơn giản của nhận thức, những bước nhảy vọt.

* Trang 37 *
device

rất khái quát và không rõ ràng về đối tượng. Nếu có sự gợi cảm nào mạnh hơn trong đối tượng, hoặc nếu đối tượng đập vào các giác quan đủ mạnh thì sự chú ý chặt chẽ hơn sẽ được hưởng trực tiếp đến các chi tiết … Bấy giờ, sự chú ý sẽ không chỉ nhằm vào mối liên hệ của đối tượng với người quan sát. Điều này sẽ cho phép tâm thức so sách với cái nhận thức hiện tại với những nhận thức tương tự được thu góp trong quá khứ, và bằng cách ấy, có thể có một sự sắp xếp của kinh nghiệm. Cấp độ này đánh dấu một tầng bậc rất quan trọng trong sự phát triển tâm thức mà khoa tâm lý học gọi là “tư duy phối hợp” (associative thinking). Cấp độ ấy cũng chỉ cho ta thấy mối liên hệ mật thiết và thường hằng giữa các chức năng của ký ức và sự chú ý (hay chú tâm) và nhân đó sẽ giải thích tại sao trong Pàli, ngôn ngữ của kinh điển Phật giáo, cả hai chức năng của tâm thức đều được diễn tả bằng chỉ một từ là “ Sati”(1). Nếu không có ký ức thì sự chú ý về một đối tượng sẽ chỉ cung cấp những sự kiện riêng lẻ, như trường hợp của đa số nhận thức của loài vật.
Chính từ tư duy phối hợp mà phát sinh ra tầng bậc quan trọng kế tiếp trong quá trình phát triển: sự khái quát hóa kinh nghiệm, nghĩa là khả năng tư
________________
(1) Về vị trí của “ Ký ức” trong tâm lý học Phật giáo, xem “ Abhidhamma Studies”, “ Island Hermitage Publication”, số 1 của tác giả (Colombo 1949, Frewin Co.), trang 39.

* Trang 38 *
device

duy trừu tượng. Đối với mục đích của cuốn sách này, chúng tôi xếp nó vào cấp độ thứ hai của tri thức, như là kết quả của việc phát triển sự chú ý. Chúng ta thấy có bốn đặc tính của cấp độ thứ hai này: sự gia tăng chi tiết, sự liên hệ với người quan sát (chủ thể tính), tư duy phối hợp và tư duy trừu tượng.
Hầu hết đời sống tâm thức của nhân loại ngày nay đang ở trên bình diện của giai đoạn thứ hai này. Nó bao gồm một phạm vi rất rộng rãi: từ sự cố ý quan sát các sự kiện hàng ngày, và sự chú tâm vào một công việc nào đó, lên đến công trình nghiên cứu của nhà khoa học và những tư tưởng tinh tế và hàm súc hơn, nhưng không nhất thiết là chính xác hơn. Nhiều ít nó còn hư giả vì những kết hợp sai lầm và những phức cấu khác, vì những thiên kiến tình cảm và lý trí, tư duy mong ước, v.v… và trước nhất là vì nguyên nhân chủ yếu của mọi si muội: sự tin nhận cố ý hay vô tình vào một bản chất thường hằng trong các sự vật, và vào một cái Ngã hay linh hồn trong các chúng sinh. Do tất cả các yếu tố ấy mà tính chân xác của ngay cả những nhận thức và phán đoán thông thường nhất cũng bị sai lệch một cách nghiêm trọng. Hầu hết những người thiếu sự dẫn dắt của Phật pháp, cũng như những người không áp dụng kiến thức ấy vào việc tu tập tâm thức của họ một cách có hệ thống đều sẽ phải còn ở lại bình diện của cấp độ thứ hai này.

* Trang 39 *
device

Với cấp độ kế tiếp cao hơn của việc phát triển theo bậc của sự chú ý, chúng ta đi vào chính phạm vi của Chánh niệm hay Chánh ý ( Sammà Sati). Nó được gọi là “Chánh” vì nó giữ cho tâm được tự tại, khỏi những ảnh hưởng gây lầm lạc; ví nó căn bản cũng như là phần chủ yếu của Chánh tư duy; vì nó dạy cho chúng ta làm đúng sự vật theo một đường lối đúng, và vì nó phục vụ cái mục đích đúng đắn mà Đức Phật đã vạch ra: dập tắt khổ đau.
Những đối tượng của nhận thức và tư duy, một khi được Chánh niệm trình bày, đã đi qua quá trình gạn lọc của sự phân tích sắc bén, đúng đắn và do đó chúng là chất liệu chính xác cho tất cả các chức năng tâm thức khác, như là phán đoán có tính cách lý thuyết, những quyết định có tính cách thực tiễn và đạo đức, v.v… và đáng chú ý nhất là những sự trình bày thực tính không bị méo mó ấy sẽ tạo thành một căn bản vững chắc cho Thiền định Phật giáo chính thống, nghĩa là cho việc nhìn mọi hiện tượng là vô thường, khổ đau không có bản chất, linh hồn hay Ngã…
Chắc chắn rằng ở cấp độ cao của tính sáng suốt của tâm thức do Chánh niệm nêu ra sẽ không “gần gũi” và “quen thuộc” chút nào đối với một cái tâm chưa thuần thục. Quá lắm là một cái tâm chưa được rèn tập cũng chỉ họa hoằn mới chạm tới bờ mép của cấp độ ấy. Những tiến bước trên con đường mà phương pháp Satipaṭṭhàna hoàn

* Trang 40 *
device

toàn gần gũi và quen thuộc. Bởi vì, như chúng tôi đã chỉ rõ trên kia, Chánh niệm có căn rễ trong những chức năng hoàn toàn chung nhất và so đẳng của tâm thức.
Chánh niệm cũng thực hiện những chức năng giống như hai cấp độ thấp hơn của sự phát triển dù rằng nó thực hiện một tầm mức cao hơn. Những chức năng chung của chúng là: Tạo sự sáng sủa và sức mạnh lên không ngừng của ý thức và xuất trình một hình ảnh chân thật, cái hình ảnh vẫn không ngừng được loại trừ khỏi mọi hư giả.
Chúng tôi đã nêu ra ở đây một phát họa ngắn gọn về sự chuyển biến của những quá trình tâm thức theo phản ảnh của những cấp độ thực sự và những khác biệt về tính chất của nhận thức: từ vô thức đến ý thức; từ sự chú ý hời hợt đầu tiên về đối tượng đến một nhận thức rõ ràng hơn và một hiểu biết chi tiết hơn từ sự nhận thức về những sự kiện riêng lẻ đến sự khám phá ra các mối liên hệ nhân quả và các liên hệ khác của chúng; từ một tri thức còn khiếm khuyết sai lạc hoặc thiên chấp đến sự trình bày sáng sủa và đúng dắn bằng Chánh niệm. Chúng ta đã thấy cách thức như thế nào mà trong tất cả các cấp độ ấy, một sự gia tăng trong sức mạnh và tính chất của chú ý, hay chú tâm. Chính là phương tiện chủ yếu để tạo được sự chuyển đổi lên một cấp độ hơn. Nếu tâm con người muốn có một phương thuốc chữa trị cho những cơn

* Trang 41 *
device

 
Satipaṭṭhàña Trái Tim Của Thiền Định Phật Giáo