LOGO VNBET
đặc trưng về phương pháp Satipaṭṭhàna mới của Myanmar mà phần Dẫn nhập đã có nêu sơ qua.
PHƯƠNG PHÁP Satipaṭṭhàna MỚI CỦA MYANMAR
 Những nguyên tắc nền tảng của phương pháp thực hành ấy có thể được tổng kê như sau:
  1. Chủ yếu nhấn mạnh vào việc thực hành căn bản về chú ý đơn thuần. Hiểu trọn tầm quan trọng và hiệu năng của việc thực hành ấy là công hạnh hàng đầu của trường phái thực hành ở Myanmar.
  2. Tiếp theo nguyên tắc về chú ý đơn thuần là sự đòi hỏi đến cái “tri thức uyên nguyên”, nghĩa là kinh nghiệm trực tiếp và lòng tự tín chuyên sâu. Điều này có nghĩa là : tránh tư duy trừu tượng và rối loạn trong lúc thực hành thiền định nghiêm túc, chối bỏ những lo toan bề ngoài đối với việc thực hành; và tránh những phương pháp có thể đưa đến sự tự dối mình.
  3. Vì đối tượng nhận thức của chú ý đơn thuần chỉ có thể là đối tượng của hiện tại ngay liền, nên phải có sự nhấn mạnh vào ở đâybây giờ. Những tư duy của quá khứ và tương lai hiển nhiên là một sự vi phạm vào việc thực hành nghiêm túc và cần phải được giảm trừ, loại hẳn ra khỏi sự thực hành.
  4. Từ đó, tiếp theo là một nguyên tắc thực tiễn quan trọng khác nữa: Chuyển đổi những động loạn trong việc thực hành những đối tượng của việc thực

* Trang 127 *
device

hành, nghĩa là mỗi tư duy hiện tại, dù cho nó có thể đi những, cũng phải được chăm chú tới, trong ánh sáng của sự việc thực hành. Nguyên tắc này và có công hiệu thực tiễn rất lớn. Quá trình thực hiện như sau: Nếu một động loạn nào đó từ bên trong hay bên ngoài không biến mất ngay đi hay không biến mất một cách tự nhiên mà lại tạo sự phản khán lại việc quay trở lại đối tượng chính yếu của việc quán thì bấy giờ chính động loạn này tự nó phải hình thành đối tượng mới cho Niệm tâm. Khi tâm đã được tĩnh lặng hay khi những động loạn bên ngoài đã biến mất, ta nên quay trở lại đề tài chính yếu của Thiền định.
Quá trình ấy phù hợp với một phương pháp tu tập tâm thức dạy cho ta vận dụng mọi cơ hội để thực hành tâm linh mà không đòi hỏi những điều kiện và hoàn cảnh đặc biệt. Điều này lại có nghĩa là:
  5. Việc thực hành cả bốn đối tượng của Niệm tâm tùy theo từng cơ hội.
  6. Phương pháp này không nhằm đạt đến sự tập trung hội tụ cao độ của Thiền định (Jhàna) mà dẫn thẳng đến Tuệ giác giải thoát (Vipassanà). Từ đây, không có một giới hạn chặt chẽ nào đối với một đề tài Thiền quán(Kammaṭṭhàna) đơn lẻ, cần thiết để đạt tới Thiền định, dù rằng ở đây cũng thế có sự nhấn mạnh rõ rệt vào sự chuyên tập các đề tài chính yếu và thứ yếu được dùng trong việc thực hành (về chi tiết, xem Phụ lục A)

* Trang 128 *
device

tưởng cũng cần nêu một ít chú thích từ việc thực hành ở Myanmar.
Chú thích điểm (2): - Một học nhân của một trong những khóa định kỳ của việc thực hành nghiêm túc, muốn mang theo vào tịnh thất tràng hạt mà anh ta quen dùng mỗi khi đọc đoạn “các thành phần của thân thể”. Nhưng anh ta bị yêu cầu phải bỏ tràng hạt lại.
Một học nhân khác, nhân vị thiền sư đến trong việc viếng thăm điều đặn các tịnh thất, bảo với thiền sư rằng trong lúc hành thiền, anh đã thấy được hình ảnh thuộc tâm thức rất sống động của Đức Phật khiến anh ta rất hạnh phúc. Bằng một giọng có phần trách cứ vị thiền sư phê: “Các ý niệm, các ý niệm(paññatti, paññatti)!” và ngài thêm rằng đấy là một si thoái từ trình độ thực hành đã đạt tới trước kia.
Chú thích điểm (4): Một học nhân bảo với vị thiền sư rằng tiếng động lạch cạch của những chiếc xe đi ngang qua làm động loạn việc niệm tâm vào sự hít thở của anh vốn đặt biệt bị tiếng động làm hại. Vị thiền sư dạy: “ hãy chuyển sự chú tâm của ông vào tiếng động! hãy quán tưởng vào “âm thanh” !”. Trong giải thích, chúng ta có thể thêm rằng điều này có thể được thực hiện nhờ vào sự thực tập thứ ba về quán nội dung tâm thức: “vị ấy biết rõ tai và các âm thanh; và kiết sử nào (ở đây: sự phiền nhiễu) sinh khởi tùy thuộc vào cả hai, vị ấy cũng biết rất rõ”.

* Trang 129 *
device

 
Satipaṭṭhàña Trái Tim Của Thiền Định Phật Giáo