LOGO VNBET
Satipaṭṭhàna cũng vậy, nhiệm vụ chính yếu của Niệm tâm là coi chừng đừng để cho việc làm, lời nói hay ý tưởng nào vi phạm tới tinh thần của lòng từ (mettà) vô biên. Việc tu tập lòng từ không bao giờ được thiếu vắng trên con đường của học nhân “Hãy giữ lấy sự chú tâm (nghĩa là chú tâm vào lòng từ)!”. Bài kệ về lòng từ của kinh Từ Ái (Mettà) bảo như vầy.
Hơn nữa, chính Đức Phật đã từ dạy khi nối kết đề tài này lại với Satipaṭṭhàna:
“ Ta sẽ tự hộ trì ta”, Niệm tâm phải được tu tập như thế. “Ta sẽ hộ trì những người khác”, Niệm tâm phải được tu tập như thế. Bằng cách tự hộ trì mình, ta hộ trì những kẻ khác; bằng cách hộ trì những kẻ khác, ta tự hộ trì mình.
“ Và, làm sao mà, bằng cách hộ trì mình, ta hộ trì những kẻ khác? Do chuyên thực hành, do tu tập Thiền định về tâm, và do thường xuyên chuyên lo tới tâm”.
“Và, làm thế nào mà, bằng cách hộ trì những kẻ khác, ta tự hộ trì mình? Do kiên nhẫn, do một cuộc sống bất bạo động, do từ ái và bi nhẫn”.
(Samyutta Nikàya 47, 19 – Tương Ưng Bộ Kinh)
THÔNG ĐIỆP CỦA SỰ TỰ CỨU ĐỘ (1)
Ở phần của tập này, pháp môn Vương chủ
__________________
(1) Có thể hiểu là tự mình lo cho mình, tự độ, tự lực (self help). – N.D.

* Trang 131 *
device

Niệm tâm đã được gọi là một “thông điệp của cứu độ”. Bấy giờ, sau tất cả những gì mà trang sách này đã nói tới, pháp môn này có thể được diễn tả đúng đắn như là sự cứu độ độc nhất có thể có được.
“Chỉ do chính ta, điều bất thiện được thực hiện; do chính ta, ta bị ô nhiễm.
Do chính ta, điều bất thiện không được thực hiện; chỉ do chính ta, ta được thanh tịnh.
Tịnh và bất tịnh chỉ tùy thuộc vào chính ta; không ai có thể làm cho kẻ khác được thanh tịnh”.
(Dhammapada, bài 165 – Pháp Cú kinh)
“ Chính tự ngươi, ngươi phải nỗ lực
Đấng Toàn Giác vạch rõ con đường”
                              (SD. Bài 276)
Nhưng ngoài việc tỏ rõ cong đường cứu độ, bức thông điệp có một chúc cứu độ nào thì điều ấy cũng cần phải được cả một thế giới đã trở thành hoàn toàn rối loạn trong những ràng buộc do chính nó gây nên xem là tin vui thực sự. Loài người có những lý do chính đáng để nản lòng mà cho rằng chẳng có chút cứu độ nào, vì người ta vẫn quá trường thực hiện những nỗ lực để tháo gỡ những trói buộc ở chỗ này hay chỗ nào và vẫn chỉ có kết quả là chính bằng cách làm như thế, những trói buộc còn cắt sâu hơn vào trong thịt ở chỗ khác nữa. Nhưng có sự cứu độ và đã được Đức Phật và các Thánh đệ tử theo chân

* Trang 132 *
device

Ngài tìm thấy. Những người có “mắt không hoàn toàn bị bụi bặm che bám” sẽ  không nhầm lẫn các Bậc Giác Ngộ này với những người chỉ ban bố sự giúp đỡ không trọn vẹn và do đó là sự giúp đỡ hư ảo. Người ta đã nhận biết các bậc cứu độ xuyên qua sự hài hòa và quân bình, sự vững và tự nhiên, sự đơn giản và thâm sâu, thể hiện trong những lời dạy cũng như trong cuộc đời của các Ngài. Người ta sẽ nhận biết các Bậc Đại Cứu Độ này nhờ vào nụ cười đầm ấm của hiểu biết, từ bi và sự đảm bảo rạng ngời trên môi các Ngài và gây nên một niềm tin sẽ lớn lên vượt khỏi mọi nghi ngờ.
Nụ cười đảm bao trên gương mặc của Đức Phật bảo rằng: “Các người cũng có thể chứng đạt! Những cánh cửa của Bất Tử rộng mở!”. Ngay khi Đức Phật bước qua những cánh cửa của chứng ngộ này, Ngài tuyên bố: “Giống như Ta, những Bậc Thánh chiến thắng sẽ là, những kẻ nào đạt đến chỗ chấm đứt lậu hoặc” (1).
Sự “chỉ đường” đứa đến mục đích cao vời mà Đứa Phật ban bố không phải được nêu ra một cách thờ ơ lãnh đạm, đây không phải chỉ một sự chỉ suông của ngón tay chỉ vào con đường, cũng không phải chỉ một “mảnh giấy”, với một bản đồ rắc rối do một thủ bản khó hiểu nào đó cung cấp, đây là sự giao phó tận tay của những ai đang cần đến
____________________
(1) Lậu hoặc: những ô nhiễm, gây đau khổ. (N.D.)

* Trang 133 *
device

một người hướng dẫn và cứu độ dày kinh nghiệm. Những người đi hành hương không bị phó mặc cho những phương kế nghèo nàn của riêng họ (nếu như họ biết được một số phương kế) để theo con đường mình với những thân thể xác xơ và tâm thức rối loạn. Sự “chỉ đường” gồm cả việc chỉ tới lương thực cần thiết cho cuộc hành trình dài ấy – lương thực mà thật ra những người hành hương vẫn mang theo mình mà họ không biết tới do đang si muội. Đức Phật vẫn thường mạnh mẽ tuyên bố rằng con người có đủ mọi nguồn cần thiết để tự độ mình. Cách thức đơn giản nhất, hàm súc nhất mà Ngài dùng để nói tới các nguồn này chính là phương pháp Satipaṭṭhàna này. Tinh yếu của nó được dồn vào trong ba từ: “Hãy chú tâm!”, nghĩa là: “Hãy chú tâm đến cái tâm của chính các người!. Tại sao thế? Tâm là chỗ trú ẩn của tất cả”. Thế giới khổ đau tối hậu và con đường đưa đến sự chấm dứt ấy nữa! Tất cả điều này điều tùy thuộc vào cái tâm riêng của chúng ta, vào sự hướng dẫn mà chuyển biến của tâm nhận được xuyên qua chính cái lúc hoạt động của tâm này đang ở trước mắt chúng ngay bây giờ đây!
Satipaṭṭhàna, vì nhằm vào chính cái lúc hiện tại quyết định nay của hoạt động của tâm, cần phải là một giáo lý của sự tự tin. Những sự tự tin phải được phát triển dần, vì người ta, do không biết làm cách nào để sử dụng vào các công cụ tâm, thường

* Trang 134 *
device

vẫn dựa vào những kẻ khác và vào thói quen, và do như thế, cái công cụ rực rỡ, là cái tâm con người, quả thực là thành bất khả tín, vì ta bỏ qua không để ý tới nó. Bởi thế, con đường đưa đến sự tự chủ mà Satipaṭṭhàna chỉ cho ta, bắt đầu bằng những bước rất đon giản mà ngay cả những người thiếu tự tin nhất cũng có thể thực hiện được.
Satipaṭṭhàna, trong tính chất đơn giản xứng hợp với một giáo lý tự tuyên bố là Con đường độc nhất, quả thực, khởi đầu rất giản dị: Với một trong những chức năng cơ bản nhất của tâm, sự chú ý, hay Niệm tâm sơ khởi. Điều này quả thực quá gần gũi và quen thuộc đến nỗi mỗi người, nếu muốn, có thể dễ dàng đặt vào đó những bước đầu tiên của sự tự tin. Và chính những đối tượng đầu tiên của sự chú ý ấy cũng quen thuộc như thế:chúng là những công việc và những sinh hoạt nhỏ nhất của đời sống hàng ngày. Điều mà Niệm tâm tác dụng vào chúng trước tiên là: đem chúng ra khỏi những lối mòn quen thuộc của chúng và lựa chúng để kiểm tra và cải thiện chặt chẽ hơn.
Những cái thiện rõ ràng trong công việc của đời sống hàng ngày do chú ý kỹ càng, do chuyên sâu và do thận trọng sẽ tạo nên sự khích lệ cho việc tìm kiếm sự cứu độ.
Cũng sẽ có những cái thiện đáng ghi nhận trong điều kiện của tâm nữa: cái ảnh hưởng làm an tịnh của hành động và tư duy trầm tĩnh sẽ rót vào một

* Trang 135 *
device

cảm thọ an lạc và hạnh phúc tại nơi mà trước đó có thể đã từng bị bất mãn và khổ đau điều ngự.
Nếu bằng cách ấy, gánh nặng của đời sống hàng ngày được nhẹ bớt đi đến một mức độ nào đó thì đấy sẽ là một bằng cớ hiển nhiên và khả năng giảm thiểu khổ đau của phương pháp Satipaṭṭhàna. Tuy nhiên, kết quả sơ khởi này sẽ chỉ phù hợp với Chánh pháp khi nào nó được gọi là “có lợi lạc lúc ban đầu” (Ãdikalyàna). Những kết quả cao hơn – những lợi lạc ở khoảng giữa và ở chỗ cuối con đường – phải được nối tiếp và mong chờ.
Trong tiến trình của việc thực hành sâu xa hơn, những sự vật nhỏ nhặt của đời sống hàng ngày sẽ trở thành những bậc thầy có trí tuệ lớn lao, hiển lộ dần chiều thích thâm sâu của chính chúng. Nếu ta không ngừng học để hiểu được tiếng nói của chúng thì những khía cạnh sâu xa của Phật pháp sẽ đi vào trong phạm vi kinh nghiệm trực tiếp của ta và do đó lòng tin tưởng vào chính tâm ta và vào sức mạnh của những tiềm năng của tâm ta sẽ lớn lên.
Nhận thấy kiến thức trực tiếp như thế từ chính cuộc đời, ta sẽ dần dần học tập được sự điều đặng trước sự mang nặng vô ích của tâm thức và những phiền phức vô ích của tư duy. Thấy được cuộc đời trở nên trong sáng và thoải mái dưới ảnh hưởng chọn lọc và kiểm soát của Chánh niệm, ta sẽ dần học tập đối xử với những phiền phức vô ích

* Trang 136 *
device

trong cả đời sống thực tiễn của ta nữa, là những phiền phức do những thói quen và ước muốn cứ luôn luôn thiếu suy nghĩ gây nên.
Satipaṭṭhàna hoàn trả lại tính giản dị và sự tự nhiên cho một thế giới cứ càng ngày càng phức tạp, hồ nghi và cứ tin vào những mưu toan hư giả. Nó dạy cho ta những đức tính giản dị và tự nhiên này trước tiên chính là nhằm vì những giá trị cố hữu của nó, lại cũng nhằm làm nhẹ bớt nhiệm vụ tự cứu độ về tâm linh.
Chắc chắn có cái thế giới của chúng ta đây là phức tạp trong chính bản chất của nó, nhưng nó chẳng cần phải lớn lên đến vô hạn trong tính phức tạp của nó mà cũng chẳng cần chi phải phiền phức và gây rối loạn như sự vụng về, si muội, đam mê và tham dục buông lung của con người là những thứ tạo ra nó. Tất cả những tính chất nhằm gia tăng sự phức tạp của đời sống ấy có thể được pháp môn Chánh niệm giải quyết một cách hữu hiệu.
Satipaṭṭhàna dạy con người đương đầu với tất cả phức tính rối loạn này của cuộc đời và những vấn đề của mình: trước tiên là bằng cách ban cho con người tính thích nghi và mềm dẻo của tâm, sự nhanh nhẹn đáp ứng đúng hợp trong hoàn cảnh đổi thay, sự “khéo léo trong việc áp dụng những phương tiện đúng đắn” (tức là liễu hội về sự thích đáng). Đối với phần nhỏ nhất không thể giảm thiểu được tính phức tạp của cuộc đời, ở mức độ hợp lý, cũng có

* Trang 137 *
device

thể được điều ngự với sự giúp đỡ của Chánh niệm. Để đạt mục đích ấy, Satipaṭṭhàna dạy ta: Làm sao để giữ cho những công việc đời và đạo của mình được chu đáo mà không thiếu hụt nợ nần; làm sao để sử dụng và giữ vững cương kỷ; làm sao đề sắp đặt bao nhiêu những sự kiện của cuộc đời lại với nhau, và làm sao để sắp đặt chúng phụ thuộc vào mục đích mạnh mẽ và cao thượng.
Đối với những phiền phức có thể giảm trừ được, Satipaṭṭhàna nêu cao lý tưởng giản dị trong các nhu cầu. Nhấn mạnh lý tưởng này ngày nay là cấp thiết nhất vì cái khuynh hướng hiện tại nguy hiểm là cứ mãi cố tạo ra, phổ rộng những nhu cầu mới và “là điều kiện” của chúng. Những kết quả của khuynh hướng ấy khi thể hiện trong đời sống xã hội và kinh tế điều là những nguyên nhân chủ yếu của chiến tranh. Vì an toàn về vật chất và tinh thần của nhân loại, việc ngăn chặn sự phát triển ấy là hết sức cần thiết. Và đối với đề tài riêng của chúng ta, sự tự lực về tâm linh làm sao mà tâm con người lại có thể trở nên tự tin nếu như nó vẫn cứ đầu hàng cái công việc mệt mỏi không dứt ấy để tiếp tục gia tăng những nhu cầu tưởng tượng tạo nên sự tùy thuộc càng nhiều vào kẻ khác? Người ta cần học tập tính giản dị trong đời sống vì vẻ cố hữu của riêng nó cũng như vì sự tự do mà nó ban bố.
Bây giờ hãy nhìn qua những phiền phức nội

* Trang 138 *
device

tại có thể tránh được, hay ít ra, nhìn qua một số ít các phiền phức ấy. Ở đây, Satipaṭṭhàna dạy ta kiểm soát và cải thiện cái công cụ chính yếu của con người là cái tâm, và chỉ cho ta mục đích đúng đắn khi sử dụng nó.
Nguyên do thông thường khiến những phiền phức nội tại và ngoại tại sinh trưởng là sự can thiệp vô ích, thừa thãi. Những kẻ nào thực sự chú tâm sẽ chú tâm tới sự bận bịu của chính tâm mình. Sự ham muốn can thiệp sẽ bị ngăn chặn nếu ta đạt được thói quen chú ý đơn thuần là thứ tương phản với can thiệp. Liễu hội hướng dẫn cho hành động  thận trọng, bây giờ sẽ xem xét cẩn thận mục đích và sự thích đáng của một hoạt động can thiệp cố ý và sẽ thường khuyên ta bỏ hoạt động ấy đi.
Nhiều phiền phức nội tại được gây nên bởi những thái độ cực đoan và bởi một sự sử dụng không khôn khéo những cặp đối nghịch khác nhau đang hành tác trong đời sống. Nhượng bộ những thái độ cực đoan về mọi miêu tả sẽ giới hạn sự tư do hành động và suy tư, và khả năng hiểu biết thực sự của mình; điều ấy sẽ hữu hiệu về thực hành và tâm linh. Do không biết tới những quy luật điều khiển những cặp đối nghịch hoặc do chấp vào một phía của chúng, người ta sẽ trở thành một tín vật trong những hoạt động tái hồi của chúng. Satipaṭṭhàna như là một biểu hiện Trung đạo của Đức Phật, là

* Trang 139 *
device

con đường dẫn đi ở bên trên và vượt khỏi những cực đoan và đối nghịch. Nó sửa chữa sự phát triển thiên lệch bằng cách bổ sung những khuyết thiết và giảm trừ sự quá độ. Nó tạo nên một ý nghĩa cân đối và hướng tới sự hài hòa và quân bình mà không có hài hòa, quân bình thì không thể có được tự tin vững bền và sự tự cứu độ hữu hiệu.
Chẳng hạn, hai mẫu căn tính có thể được bàn tới là hai mẫu đã được C.G. Jung nêu ra và còn nghiên cứu kỹ lưỡng: mẫu người hướng nội “quay vào bên trong và mẫu người hướng ngoại quay ra bên ngoài phần nào bao gồm các đối nghịch khác nhau ấy như mẫu người trầm lặng và mẫu người hoạt động, mẫu người cô đơn và mẫu người xã hội, v.v… Căn tính như là một Trung đạo được bắt rễ quá thâm sâu trong Satipaṭṭhàna đến nỗi phương pháp này thực sự có thể thu hút cũng như bổ khuyết cho cả hai loại căn tính ấy.
Những người mới Thiền định sẽ thường rất khó ý thức được sự khác biệt đôi lúc khá rõ trong điều kiện của tâm họ trong đời sống hàng ngày và trong thời kỳ giới hạn dành cho việc tu tập tâm linh. Nhờ Satipaṭṭhàna, khiếm khuyết ấy được thu nhỏ và cuối cùng được lấp kín một sự hòa lẫn có lợi cho cả hai. Nhiều người nản lòng vì sự khác biệt nói trên vì thiếu nỗ lực, đã rời bỏ con đường tu tâm và tự cứu độ về tâm linh, và đầu hàng các tín điều dạy rằng người ta chỉ có thể được cứu rỗi

* Trang 140 *
device

bằng ân sủng. Điều này hẳn không xảy đến đối với một học nhân của phương pháp Satipaṭṭhàna tự tin và tự độ.
Một nguyên do khác của phiền phức tự nội là ảnh hưởng mạnh mẽ và không thể đoán trước được của tiềm thức. Nhưng xuyên qua chú ý đơn thuần, một sự tiếp xúc tự nhiên, gần gũi và “thân mật” hơn với tiềm thức sẽ hình thành, nhờ ở sự quen thuộc dần với những rung động tinh tế của thân và tâm và được hộ trợ bởi thái độ “chờ đợi và lắng nghe” là thái độ tránh được mọi can thiệp thô bạo và gây hại tới cõi tiềm thức. Bằng cách ấy và bằng ánh sáng thẩm thấu chậm rãi và chắc chắn của Niệm tâm, tiềm thức sẽ trở nên “rõ ràng” và dễ kiểm soát hơn, nghĩa là có thể được xếp ngang hàng và giúp ích cho những xu hướng điều động của ý thức. Bằng cách giảm trừ yếu tố không định trước được và không vận dụng được khởi hiệu từ tiềm thức, sự tự tin sẽ nhận được một căn bản vững chắc hơn.
Trong tin thần tự tin của nó, Satipaṭṭhànakhông đòi hỏi một kỹ thuật được nghiên cứu kỹ hay những toan tính nào từ bên ngoài vào. Cuộc sống hành ngày là chất liệu vận dụng của nó. Nó chẳng có gì để làm với mọi sùng bái hay nghi lễ từ bên ngoài, nó cũng chẳng bao gồm những sự “khai tâm” hay “hiểu biết bí huyền” nào khác hơn là sự tự ngộ.
Sử dụng ngay chính những điều kiện của cuộc sống mà nó tìm thấy, Satipaṭṭhàna không đòi hỏi

* Trang 141 *
device

phải sống đời hoàn toàn ẩn dật hay tu hành, dù rằng ở một số người thực hành nó có thể khởi sinh lòng ham thích và nhu cầu như thế. Việc sống ẩn dật theo từng thời kỳ, tuy nhiên, cũng hữu ích đề khởi đầu việc thực có phương pháp và nghiêm túc, và đề bước lên sự tiến bộ trong thực hành. Xả hội phương Tây cũng thế, cần phải tạo nên những cơ hội có sự ẩn dật từng thời kỳ như thế trong một hoàn cảnh thích đáng. Ngoài giá trị của chúng đối với việc thực hành Thiền định nghiêm túc, cái không khí của những “tịnh thất” như thế sẽ là một nguồn tái tạo vật lý và tâm lý từ những hậu quả của nền văn minh đô thị.
Satipaṭṭhàna là một con đường để tự giải thoát. Được đặt căn bản trên nghiệp luật; trong mục tiêu tối hậu và trong việc thực hành hoàn toàn của nó, Satipaṭṭhàna trái nghịch hẳn với một tin tưởng vào sự cứu rỗi do kẻ khác, vào một ân sủng cứu rỗi thiêng liêng hay vào một sự trầm tư bằng cầu nguyện.
Satipaṭṭhàna tự do, thoát khỏi các giáo điều, khỏi lòng tin vào những “mặc khải”, hoặc khỏi mọi quyền uy từ bên ngoài đối với những vấn đề tâm linh. Satipaṭṭhàna chỉ tin vào sự hiểu biết ngay từ căn gốc do cái thấy trực tiếp của kinh nghiệm riêng của tự mội người cung cấp. Nó dạy ta làm sao thanh tịnh, mở rộng và đào sâu cái suối mạch  hiểu biết thực sự này, cái kinh nghiệm trực tiếp. Người học Satipaṭṭhàna chấp nhận và trân quý lời

* Trang 142 *
device

dạy của Đức Phật, xem như những hướng dẫn rõ ràng của một người đã đi xong suốt cả con đường và do đó lời dạy ấy đáng được tin cậy. Những lời dạy ấy chỉ có thể trở thành một sở hữu tâm linh của học nhân tùy theo trình độ chứng nghiệm bởi kinh nghiệm riêng của người ấy.
Đặc tính này của Satipaṭṭhàna như là một thông điệp của tự tin và tự độ được nêu ra qua những lời của chính Đức Phật dạy ngay vào những ngày cuối cùng của đời Ngài, một sự kiện tạo cho những lời dạy ấy một sự nhấn mạnh đặc biệt:
“Do vậy, này Ananda! Hãy là những hòn đá cho chính mình! Hãy là một nơi nương tựa cho chính mình! Chớ mong tìm một nơi nương tựa nào ở bên ngoài! Chánh pháp (Dhamma) phải là hòn đảo của chính mình, chân lý phải là nơi nương tựa của chính mình! Chớ nương tựa vào một nơi nào khác! Và làm sao để được như vậy?
Này Ananda! Một tu sĩ sống mà quán thân thể, trong thân thể, quán cảm thọ, trong cảm thọ, quán tâm thức, trong tâm thức, quán các đối tượng cùa tâm, trong các đối tượng của tâm (1), tinh cần liễu hội và chú tâm (2), đã thắng vượt tham dục và ưu tư trong cuộc đời.
______________
(1)Tức quán tâm, quán pháp, như đã chú trước đây.
(2) Liễu hội và chú tâm: Hiểu biết thực rõ ràng (lĩnh hội minh bạch) và ý thức đầy đủ chuyên sâu (niệm tâm). Có thể dịch là tỉnh giác và chánh niệm.

* Trang 143 *
device

Này Ananda! Những kẻ nào hoặc bây giờ đây, hoặc sau khi Ta nhập diệt, sẽ là một hòn đảo cho chính mình, một nơi nương tựa cho chính mình, sẽ không cầu tìm một nơi nương tựa nào khác ở bên ngoài, mà nắm chắc lấy Chánh pháp làm hòn đảo và nơi nương tựa của mình chứ không nương tựa vào nơi khác nữa. Này Ananda! Chính những kẻ ấy, trong hàng Tỳ kheo của Ta, là những kẻ sẽ đạt đến ngay đỉnh tối thượng. Nhưng họ phải chăm lo tu học”…
               (Mahà Parinibbàna Sutta: Đại Bát Niết Bàn kinh)
Người học nghiêm túc sẽ thể hội sự chân xác của lời dạy cuối cùng ấy.
Cuối cùng, tưởng cũng cần nói ngắn gọn và đúng đắn rằng, sau khi tiếp thu việc trình bày về con đường và mục đích, chỉ có hai nguyên tắc để việc thực hành tâm linh được thăng tiến: “Hãy khởi sự!”. Và “Hãy tiếp tục!”.
“ Ta chắp tay chào đón tất cả những ai
Có lòng chăm lo đến cái tâm của riêng mình
Với tất cả sức của con người, người nên bảo trì sự chú ý và liễu hội!”.
                             SHANTIDEVA.

* Trang 144 *
device

 
Satipaṭṭhàña Trái Tim Của Thiền Định Phật Giáo