LOGO VNBET
THIỀN ĐỊNH VÀ Y HỌC
Giảng tại viện nghiên cứu Phật học Trung Hoa, khóa học Phật mùa hè cho thanh niên.
Thời gian: ngày 11 tháng 8 năm 1994.
Địa điểm: trung tâm huấn luyện Thanh Bảo, ở Tiểu Bình Đỉnh, Đàm Thủy, Đài Bắc.

Lần này đơn vị tổ chức mời tôi đến dạy về chủ đề “giới, định và huệ trong cuộc sống”, tôi nghĩ nói đề mục nào cho hay đây? Đương nhiên là phải nghĩ đến những vấn đề thường gặp trong cuộc sống, cho rằng những điều rất đau đầu. Trong đó bệnh tật có thể tính là vấn đề thường gặp.
Hiện tại mọi người có bệnh tật gì không(bên dưới đáp: có)như bệnh gì?(bên dưới đáp: đau răng, cảm mạo)chỉ như vậy sao?(bên dưới đáp: đau tim). Còn nữa không?
Trên thực tế, thân thể của chúng ta và bệnh tật có quan hệ mật thiết, nhưng ở đây xem bạn định nghĩa “bệnh” phạm vi như thế nào. Từ định nghĩa đơn giản nhất lại nói, ví dụ, chúng ta có một cái bệnh hàng ngày phải trị liệu là gì? Ăn cơm. Một ngày phải uống ba lần- một lần uống phải ba lần thuốc. Ăn sáng vừa mới xong, mười hai giờ trưa bệnh
 
 
 

* Trang 67 *
device

lại phát tác; ăn trưa vừa xong, buổi tối lại tái phát. Một ngày phát tác ba lần, có thể có người phát tác nhiều hơn.
Vì vậy, đối với bệnh tật sinh hoạt, đương nhiên là phải cần nói đến y học. Trong chủ đề giới, định, huệ lần này, chúng ta chủ yếu lấy thiền định làm trọng điểm, vì nó vừa đúng ở vị trí “trung tâm”, cho nên chúng ta hôm nay mới có đề mục như vậy.

Thông qua bệnh tật, hiểu rõ sự thật của thân tâm

Chúng ta nghĩ xem vấn đề bệnh tật này có tốt hay không?(bên dưới đáp: không tốt)vì sao không tốt?(đáp: vì đau). Còn gì nữa? Sau khi đau sẽ như thế nào?(đáp: không thoải mái.)sau khi không thoải mái sẽ ra sao?(đáp: sẽ phiền muộn.)Bệnh tật đích thực khiến cho chúng ta nhiều điều đau khổ. Theo quan điểm của Phật giáo, trong kinh từng nói: do nguyên nhân của bệnh tật sẽ khiến con người phạm giới, thối thất thiền định, quên mất trí huệ.
Lấy giới luật làm ví dụ, có người vốn có thể cả đời giữ giới “ăn chay”, nhưng khi gặp bệnh nặng, tâm họ liền chao đảo, hoài nghi có phải vì ăn chay mà không có dinh dưỡng. Nếu lúc này có người khuyên họ giết gà, hoặc ăn mặn để bồi bổ, họ có thể vì trận bệnh này mà phá giới.
Từ thiền định lại nói, bệnh tật cũng là nguyên nhân khiến mọi người thối thất thiền định. Ngoài ra nó còn khiến bạn quên mất trí huệ, quên đi khởi niệm, kiến giải chính xác ban đầu cần nên nắm giữ.
 
 
 

* Trang 68 *
device

Nhưng chúng ta lại nghĩ mà xem, rất nhiều việc đều có hai mặt. Bệnh tật tuyệt đối có phải là việc xấu hay không? Có hay không mặt tốt khác? Ngược lại, chúng ta có khi mượn nguyên nhân bệnh tật, mà hiểu được chân tướng khổ của đời người. Vì bình thường mạnh khỏe thung dung, cho rằng không cần phải học Phật, không cần phải trì giới, tu định, tu huệ. Đặc biệt khi còn trai trẻ, rất dễ dàng có tư tưởng này. Đức phật Thích Ca Mâu Ni khi đang tu đạo cũng từng nói qua vấn đề này, Ngài nói: “ Khi trẻ rất dễ kiêu ngạo, phóng túng! Vì khi trẻ, không kể là thân thể hoặc tâm lý đều ở trạng thái cao trào nhất, có thể nói là “thời đại hoàng kim”. Bạn nói với họ: “đời người khổ”. Anh ta nghe như chuyện “1001 đêm” làm gì có thật, “làm gì có chuyện khổ”?có cảm giác như mình là con nhà trời. Đi trên đường, thấy người bệnh, có cảm tưởng như không có liên can gì đến mình; thấy người già, dường như tưởng rằng con người này sinh ra là đã già như vậy, mà không nghĩ rằng tới một lúc nào đó mình cũng già như vậy; thấy người chết càng không sao, cho rằng đây là việc rất lâu rất lâu về sau.
Ở nơi tình huống kiêu ngạo phóng túng này, khi bạn gặp phải bệnh tật, nó sẽ cho bạn một sự cảnh tỉnh rất lớn. Giống như hệ thống cảnh báo, khi nó bật đèn đỏ là sẽ nói với bạn: có một số việc không như bạn tưởng tượng, tuyệt đối không biến đổi, tuyệt đối có thể tiếp tục duy trì. Vì vậy ngược lại xem, bị bệnh có một việc tốt như thế.
Do đó, hôm nay chúng ta cần nói đến vấn đề bệnh tật và y học cũng không nằm ngoài ý đó. Qua bệnh tật, chúng ta có thể thân tâm mình đề cao những gì? Sau khi nhận thức được bệnh tật, lại có thể giúp chúng ta hiểu rõ thật tướng của thân tâm. Đây là dụng ý của tôi nói về đề mục này.
 
 
 

* Trang 69 *
device

Nói đến bệnh tật và y học, đầu tiên đương nhiên là phải hiểu rõ: bệnh tật đích xác là như thế nào? Đâu là “triệu chứng của bệnh tật”. Từ kết quả của triệu chứng bệnh tật đó, thêm bước nữa chúng ta nên hiểu nguyên nhân của nó từ đâu?
Kế tiếp, sau khi hết bệnh trạng thái lại như thế nào? Nói đơn giản, đó là “sức khỏe”. Muốn đạt tới trạng thái không bệnh, đương nhiên là phải thông qua cái gọi là “trị liệu”, hoặc là “chăm sóc sức khỏe”, dùng thuật ngữ ngày xưa thường gọi là “dưỡng sinh”. Không bệnh và trị liệu hai cái này cũng là quan hệ nhân quả.
Mọi người nghĩ xem, kết cấu này có quan hệ gì với quan niệm nào trong Phật giáo? Tứ đế. Phật giáo nói: “khổ” dẫn khởi bệnh tướng; nguyên nhân bệnh, “tập” là nguyên nhân của khổ; sức khỏe là trạng thái của khổ “diệt”; trị liệu là “đạo”, đạo có thể khiến bệnh khổ tiêu diệt. Phật giáo đem bốn thứ này gọi là “tứ đế”(bốn thứ chân lý), vì nó có mối quan hệ qua lại.
Triệu chứng và nguyên nhân của bệnh tật
Vì vậy, hôm nay phân làm hai đoạn để nói về vấn đề này. Đầu tiên nói về triệu chứng và nguyên nhân của bệnh tật, kế tiếp nói về sức khỏe và trị liệu. Đầu tiên, xem “tướng bệnh” hoặc “nhân bệnh”, mọi người cho rằng bệnh sanh ở nơi nào?
 
 
 

* Trang 70 *
device

Quý vị vừa trả lời xong, đó là thân và tâm. Phật giáo dùng thuật ngữ gì để giải thích thân tâm?
Trong Phật giáo, quan niệm liên quan đến thân tâm, thường dùng thuật ngữ gì? Từ  giác quan lại xem có sáu bộ phận gồm mắt tai mũi lưỡi thân ý, thuật ngữ Phật giáo gọi là “sáu căn”. Trong sáu căn này, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thuộc về thân, ý thuộc về tâm. Ngoài ra còn có năm uẩn--sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Sắc thuộc về thân; thọ tưởng hành thức thuộc về tâm.
 
Thân
Tâm
Lục căn
Mắt tai mũi lưỡi thân
Ngũ uẩn
Sắc
Thọ tưởng hành thức
Mọi người cần chú ý, Phật giáo thường nhìn từ nhiều góc độ khác nhau nói về thân tâm. Ví dụ, trong sáu căn, năm căn thuộc về thân, một căn thuộc về tâm, vì vậy nói đến thân và tâm là tỉ lệ năm một. Ngũ uẩn thì một nói về thân, bốn cái nói về tâm, do đó là tỉ lệ một bốn. Do đây, so với ngũ uẩn, tâm được phân tích tỉ mỉ, đối với lục căn, thân được phân tích nhiều hơn một chút.
               Sắc :       vật chất
    Ngũ uẩn                Thọ: lãnh nạp
               Tâm :     Tưởng: giữ gìn hình tướng
                         Hành: tạo tác
                         Thức: phân biệt
 
 
 

* Trang 71 *
device

Có thể thấy ngũ uẩn chủ yếu nói về tác dụng của tâm lý, đặc biệt là lấy tâm thức làm chính, ví thức có tác dụng là phân biệt hiểu biết. Nếu đi sâu vào phân tích hơn nữa, thì tác dụng của phân biệt hiểu biết bao hàm lãnh nạp và cảm thọ (thọ), giữ lấy tướng trạng và nhận biết (tưởng). Còn “hành” là tác dụng của ý chí tạo tác.
Tứ đại - bốn con rắn độc
Ngoài ra còn có “tứ đại” đất, nước, lửa, gió. Nhưng tứ đại thiên nói về thân. Tứ đại thêm không gian “không”, và tác dụng nhận thức của “thức”, gọi là “sáu đại”, sáu đại đương nhiên là bao quát cả thân tâm.
Tóm lại, trong Phật giáo nói về thân tâm đại khái là có những loại trên. Nhưng, Phật giáo đối với những thuật ngữ thân tâm này, thường có những ví dụ để hình dung nó. Ví dụ, đối với tứ đại dùng “bốn con rắn độc” làm ví dụ, biểu thị nguyên tố của thân thể chúng ta không ngoài bốn thứ đó, mà “tính chất” của bốn tứ này thì tương nghịch với nhau. Ví dụ, nước, lửa vốn là tương nghịch; đất và gió tương nghịch, vì bản chất của đất là cứng, nhưng bản chất của gió thì lại chuyển động.
Vì chất của yếu tố cấu thành thân thể chúng ta là đối lập với nhau, nhưng bốn thứ này lại tương an vô sự, bảo trì sự cân bằng nhất định, mọi người đều bình tĩnh vô sự. Nhưng khi bốn thứ đó xảy ra vấn đề, Phật giáo gọi là “tứ đại không điều hòa”, biểu thị tứ đại mất đi sự cân bằng, lúc này gọi là “bệnh tật”. Lúc đó thật là rất đau khổ, giống như trong thân thể có nuôi rắn đang làm tổn thương bạn vậy. Ví dụ cảm mạo, triệu chứng bắt đầu của cảm
 
 
 

* Trang 72 *
device

là sốt, đây là lửa lớn; ăn đồ hư bị đi thổ tả, đó là nước lớn; đau đầu là gió lớn. Vốn là không có chuyện gì, nhưng một khi mất đi sự cân bằng, ví dụ như bạn nào vừa rồi đau răng thì đau muốn chết đi được như bị rắn độc cắn vậy.
Mà còn bốn thứ này ở trong thân thể chúng ta, bình thường không có chuyện gì thì không sao, nhưng vì chúng  vốn có tính chất tương nghịch lẫn nhau, khi nào phát sinh ra chuyện thì không thể dự đoán được. Giống như trong thân thể chúng ta có một quả lựu đạn hẹn giờ vậy, chừng nào nổ thì không biết trước được. Cũng như trong một văn phòng làm việc với bốn người với bốn cá tính khác nhau, tùy thời tùy lúc đều có thể xảy ra tranh luận.
Đối với thân thể chúng ta trân trọng nó biết chừng nào như:  vì nó mà chúng ta từ sáng tới tối lo chăm sóc, thay quần áo, ăn cơm, tắm rửa; vì nó đã không tiếc cùng với người khác tranh dành tới cùng, đánh tới rách đầu chảy máu, thậm chí hi sinh bạn bè, hi sinh người thân, tạo tất cả ác. Đi trên đường, người khác chỉ nhìn mình bằng nửa con mắt, thì liền gây sự với họ “tại sao nhìn tôi như vậy?” Trên xe buýt, mọi người đụng một chút, thì trừng mắt nhìn họ: “tại sao lại đụng tôi?” Chúng ta chăm sóc thân thể mình như vậy, nhưng không biết rằng cuối cùng thân thể sẽ báo đáp chúng ta như thế nào. Không nhất định là cuối cùng, thậm chí là bình thường như cái bạn đau răng đó, hằng ngày chăm sóc nó rất tốt, nó lại khiến cho mình đau răng, bạn cũng không cấm được phàn nàn: “tại sao nó lại vong ân bội nghĩa, mình lúc nào cũng chăm sóc nó rất tốt....”
 
 
 

* Trang 73 *
device

Nhưng nghĩ thêm một chút, khi đối diện với cái chết, nó báo đáp chúng ta như thế nào, dùng phương thức nào để báo đáp, điều đó lại càng khó nói. Nếu như mọi người có dịp đến bệnh viện, đặc biệt đếng phòng trị bệnh ung thư, đi xem các trường hợp tử vong, bạn sẽ biết được không phải ai cũng giống như bạn nghĩ, chết một cách nhẹ nhàng như đi vào giấc ngủ, trong ngôi nhà của mình. Không nghĩ nổi là lúc đó chính thân thể của mình hành hạ mình như thế nào nữa, thật khủng khiếp.
Có một lần tôi đến bệnh viện thăm bạn, thuận tiện đi vòng qua phòng ung thư một tí, thấy một bệnh nhân bị ung thư cuống họng, cả cái miệng của anh ta sưng lên, đút ăn vô cùng khó khăn, mà vì ung thư giai đoạn cuối, cả cái miệng đã bốc mùi hôi, nhìn tướng như vậy rất là tội nghiệp. Ung thư xương so với tình huống này còn nghiêm trọng hơn, khi bệnh nhân ung thư xương giai đoạn cuối, xương toàn thân rất mềm xốp, có khi trở người, xương liền gãy đi, ở trạng thái sống như vậy, cảm nhận được khoảng khắc thịt nát xương tan. Không cần nói đến ung thư, ví dụ bệnh nhân định kì cần phải rửa thận,  thân tâm cũng phải chịu các thứ đau khổ. Vì thế, khó mà hiểu nổi được thân tứ đại sẽ làm chúng ta khổ sở như thế nào nữa.
Ngũ uẩn, năm kẻ oắn tặc
Tứ đại vừa rồi là từ phương diện bệnh tật của “thân thể” lại xem, ví như từ ngũ uẩn, về phương diện tâm lý thì như thế nào? Phật giáo nói đến ngũ uẩn, có khi dùng từ “năm kẻ oán tặc” lại ví dụ năm kẻ oán tặc này còn lợi hại hơn bốn con rắn độc trong thân thể nữa. Bình thường chúng ta cảm thấy tinh thần
 
 
 

* Trang 74 *
device

của mình tác dụng rất tốt, có thể dùng nó để nghĩ việc này nghĩ việc kia, làm rất nhiều việc, nhưng một khi trạng thái tinh thần có vấn đề, thì lúc đó chúng ta không thể chịu đựng nổi.
Mọi người ở cái tuổi này chuyện kinh nghiệm nhất thường là chuyện “thất tình”. Thất tình đó thật sự không phải là đối phương làm cho bạn bị bệnh, cũng không phải đối phương đến chém giết mình, mà do bệnh tinh thần. Anh không thể không nhớ bạn gái, muốn quên nhưng quên không được. Cuối cùng đành mượn rượu để giải sầu, không ngờ rằng khi cầm chén rượu uống, trong chén rượu lại ẩn hiện hình ảnh của cô ấy. Nghĩ tới nghĩ lui, nghĩ đông nghĩ tây, cuối cùng lại muốn báo thù, muốn giết cô ta.... mùi vị ấy không biết có giống ăn vỏ chuối không? Mà cái bệnh này không kể chạy đến chỗ nào cũng vậy, thậm chí bạn chạy đến Phi Châu, đến nước Mỹ, nó vẫn đeo đuổi bên mình bạn. Bệnh này chỉ cần nghĩ nó liền xuất hiện, so với sự đau đớn của thân thể thì sự đau khổ của tâm lý càng khó trị liệu. Do đó, nói năm uẩn giống năm kẻ giặc thù đó là cái đạo lý này vậy.
Sáu căn, sáu giặc
Ngoài ra còn có một số bệnh tật liên quan đến “sáu căn”. Phật giáo đem sáu căn này ví dụ làm “sáu cái cửa chính” hay “sáu cửa sổ”. Có khi cũng dùng “sáu giặc” để giải thích. Vì chúng ta vốn có rất nhiều công đức pháp tài, có rất nhiều hạnh phúc, nhưng những thứ này khi giác quan tiếp xúc với ngoại cảnh thì bị trộm mất. Bị trộm như thế nào? Khi chúng ta đối với ngoại cảnh sanh khởi “tam độc”—— tham (đối với thuận
 
 
 

* Trang 75 *
device

cảnh thì sanh tham), sân (đối với nghịch cảnh sanh sân), si, có những thứ vốn rất là tốt đẹp đã trôi giạt mất.
Nhân đây, phật giáo đối với năm uẩn, tứ đại, sáu căn (nếu như phối hợp thân tâm lại thì nên nói là “sáu thức”, từ sáu giác quan này sản sinh sáu loại tác dụng tinh thần), là dùng oắn tặc, bốn rắn, sáu giặc làm ví dụ, đây là nói rõ việc ở thế gian này, trên thực tế quan hệ của chúng ta với bệnh tật hay đau khổ, có thể nói là rất khó thoát khỏi. Vấn đề này bạn không thể không đối mặt, vì trong thân và tâm của chúng ta vốn đã hàm chứa khả năng đối nghịch sẵn có. Nên đối với vấn đề bệnh tật, chúng ta không cho đó là “vấn đề bất thường”, mà xem đó là “hiện tượng bình thường”.
Do đó, vừa rồi tôi muốn các bác bạn xem mình có bệnh gì không? Chính xác là có bệnh, không kể thân tâm, bất cứ góc độ nào lại nghĩ đều có bệnh. Không luận là cá nhân, cho đến rộng ra gia đình, tổ chức hoặc xã hội cũng đều như vậy. Chúng ta thường nói: “xã hội, đất nước hiện tại có bệnh”, hoặc là “trái đất có bệnh, chúng ta phải cứu vãn quả địa cầu này.” Vì vậy bệnh tật không nhất định là một trạng thái thường, ngược lại không bệnh thì là trạng thái bất thường, vì trạng thái sức khỏe của thân tâm thì không dễ dàng duy trì ở phạm vi tiêu chuẩn nhất định. Từ lịch sử của loạì người cũng có thể nhận ra, thời gian hòa bình của nhân loại có thể chưa đầy một trăm năm, chiến tranh thì chỗ này nổi chỗ kia chìm.
Vì vậy mà vì sao khi Đức Phật nói về tứ đế, đầu tiên nói về khổ đế—— nguyên nhân thật tướng của bệnh. Phật giáo cho rằng, bạn nên đi xem chính xác, rõ ràng. Như vậy, chúng ta đối với bệnh của thân tâm hoặc nhân sự, tổ chức sẽ xử lý bình tĩnh, sẽ
 
 
 

* Trang 76 *
device

không oán trời trách đất, hoặc cảm thấy không thể chịu đựng nổi. Vì sao chúng ta không thể tiếp nhận? Đó là vì bạn nghĩ theo chiều hướng quá tốt đẹp mà thôi, trên thực tế nó vốn như vậy. Đây là việc đều tiên chúng ta nên hiểu rõ.
            Trị liệu bệnh tật
Thứ hai, đối với nguyên nhân bệnh tật, cuối cùng Phật giáo trị liệu như thế nào? nó có quan hệ như thế nào với giới, định, huệ?
Phật giáo nói có quan hệ với trị liệu, đó là quan hệ của thiền định và y học từ mục thứ nhất “chỉ” tới mục thứ năm “quán”. Mục thứ sáu là “phương thuật” tức là phương pháp trị liệu thông thường.
Cái nhìn y học ở phần “đoán bệnh qua triệu chứng” trong tác phẩm “Ma Ha Chỉ Quán” bao gồm
1. Triệu chứng bệnh tật
2. Nguyên nhân gây bệnh
3. Sáu phương pháp trị liệu
(1) Chỉ (rốn, đan điền, chân, giữa hai chân)
(2) Sáu khí trị bảy bệnh, ngũ tạng, ý
(3) Điều hòa hơi thở (không phải gió, không phải khí, không thở gấp), tưởng tượng theo mười hai cách thở
(4) Tưởng tượng
(5) Quán (không theo hơi thở, quán trực tiếp nơi tâm)
(6) Phương thuật (trị theo cách thông thường, trị bằng thần chú, trị theo cái đau)
 
 
 

* Trang 77 *
device

Nói đến thiền định là bao gồm tác dụng của chỉ và quán, thiền định có hai tính chất này: “có phân biệt”, “không phân biệt”. Nói cách khác, trạng thái tâm lý của thiền định có hai khả năng: một là có phân biệt, hai là không phân biệt. Không phân biệt là tác dụng của “chỉ”, thiên về trạng thái của “định”; có phân biệt chú trọng về trạng thái “quán”, thiên về “huệ”. Do đó khi ngồi thiền không phải không nghĩ đến cái gì thì mới gọi là định.
Không phân biệt (chỉ) và có phân biệt (quán)
Vì vậy khi nói đến trạng thái thiền định nên có hai khả năng: thứ nhất là “không phân biệt”, nó là phương thức tập trung, đem tất cả tư tưởng, tâm niệm tập trung ở một nơi nào đó, đây là phương hướng của “chỉ”. Có một trạng thái thiền định khác là phương thức triển khai, từ các góc độ đem phân biệt. Cho nên thiền định có hai trạng thái: một là không phân biệt, đây là trạng thái tâm lực tập trung ở đối tượng, hai là có phân biệt, là trạng thái quán chiếu đối tượng.
Có lẽ mọi người không dễ dàng để hiểu vì sao lại như vậy, trên thực tế quá trình tác dụng của tâm lý chúng ta hầu hết đều như vậy. Đơn cử một ví dụ, trạng thái của mọi người khi đọc sách, nhất định là cần phải tập trung, đọc sách đầu tiên là phải tập trung tinh thần, cố định ở một phạm vi nào đó, đợi khi đi sâu vào nội dung của cuốn sách, thì có thể bắt đầu hiểu được ý bên trong nội dung đó. Sau đó bạn sẽ phát hiện, mình đã đi vào trong thế giới của cuốn sách. Mọi người có kinh nghiệm này không? Có thể sách khoa học thì không có, xem tiểu thuyết Quỳnh Dao hoặc tiểu thuyết Kim Dung
 
 
 

* Trang 78 *
device

thì sẽ có kinh nghiệm này, thâm nhập vào thế giới của cuốn sách, nhập vai nam hay vai nữ, lúc khóc lúc cười.
Đọc sách là đem cả thân tâm từ trạng thái sinh hoạt hàng ngày này chuyển đến một trạng thái sinh hoạt hàng ngày khác. Thiền định cũng vậy, cũng từ trạng thái loạn tâm chuyển sang trạng thái định tâm, nhưng Phật giáo dạy bạn quan sát tỉ mỉ một vài sự thật hay chân lý quan trọng. Ví dụ vừa nói sự “khổ”, bạn cho rằng thế gian là thường hằng, Phật giáo tức dạy bạn nên quan sát sự vô thường; bạn cho là chủ thể(ngã)có sự tuyệt đối, vĩnh hằng, Phật giáo sẽ dạy bạn quan sát sự vô ngã....
Cho nên quá trình chuyển đổi của tâm thái cũng giống như vậy, nhưng đối tượng tập trung, quan sát thì không đồng, việc mở rộng thế giới không giống mà thôi. Mọi người nghĩ xem, trừ việc đọc sách ra, còn có những kinh nghiệm sinh hoạt giống như vậy? Xem phim, ngủ. Lấy ngủ làm ví dụ, đầu tiên là bước vào trạng thái ngủ, đây là trạng thái vô phân biệt, nằm mơ là trạng thái có phân biệt. Trước phải vô trạng thái ngủ, sau có mới có thể khởi tác dụng có phân biệt— nằm mơ, do đó nói “sau khi vô giấc ngủ, nằm mơ”; cũng vậy, có thể nói: “sau khi nhập định, quán sát”.
Trở lại nói rõ “sáu pháp trị” trong “Ma ha chỉ quán”
(1)Chỉ :                          thân         sắc
(2)Sáu khí                     hơi thở
(3)Điều tức
(4)Giả tưởng                           tưởng (thọ, hành)
 
 
 

* Trang 79 *
device

(5)Quán tâm (không theo hơi thở, quán trực tiếp tâm thức
(6)Phương thuật (y dược)
(1) “Chỉ”: chỉ (tập trung sự chú ý) ở nơi nào? Ở nơi cách rốn xuống hai phân rưỡi, gọi là “đan điền”, hoặc xuống phía dưới chân hay giữa bàn chân một chút. Những trình bày ở đây đều thuộc về “thân”.
(2) Sáu khí
(3) Điều tức, hai thứ này thuộc về hơi thở.
(4)Giả tưởng, thuộc về tâm, cũng là “tưởng” trong ngũ uẩn.
(5) Quán tâm.
Vì vậy, từ sự phân loại của ngũ uẩn có thể thấy ba loại trước thuộc về “sắc” uẩn, thứ tư thuộc về “tưởng” uẩn, và cũng bao hàm quán sát “thọ” uẩn và “hành” (tạo tác) uẩn. Thứ năm thuộc về “thức” uẩn.
 Thiền định lấy tự giác, tự liệu làm nguyên lý trị bệnh
Có thể thấy năm hạng mục trước của “sáu pháp trị” nương theo quan điểm của  thiền định bàn về nguyên lý trị bệnh, vì sao thiền định có thể trị liệu bệnh tật? Từ mô thức trên có thể nhìn ra: “lấy lực tự giác của thân tâm kiểm soát tự ngã, lấy lực điều tiết của thân tâm trị liệu tự ngã”, đây là nguyên lý thiền định y học. Nó không dựa vào thuốc thang bên ngoài (thuốc thang bên ngoài thuộc về mục thứ sáu “sáu
 
 
 

* Trang 80 *
device

pháp trị”, mà là lấy thân tâm của mình quan sát và trị liệu bệnh nhỏ của mình.
Hiện tại chúng ta đối với việc trị liệu bệnh tật hình như thiếu sót nguyên lý này. Thông thường một số người bị bệnh họ liền tìm bác sĩ và nghĩ rằng chỉ có bác sĩ và thuốc thang mới trị khỏi được bệnh của mình, mà chưa từng nghĩ là chúng ta có năng lực tự trị, còn bác sĩ và thuốc thang thực ra cũng chỉ là sức mạnh hỗ trợ từ bên ngoài mà thôi. Nhưng mỗi khi bị bệnh chúng ta liền đi tới bác sĩ, vô hình chung bỏ qua năng lực tự giác và trị liệu của bản thân. Vấn đề này cần chú ý hơn.
Trong phần giải thích “chỉ” của “sáu pháp trị” có nhắc đến “tùy theo bệnh ở nơi nào mà chú tâm ở nơi đó, trong vòng ba ngày, không có duyên gì khác, thì không bệnh nào mà không trị được”.(tham khảo phụ lục) ý nghĩa của kiến nghị này là đối với chỗ đau, nếu có thể tập trung lực chú ý chính xác hãy quan sát nó, trong vòng ba ngày, lực chú ý không có tạp loạn, bệnh sẽ được trị lành. Không biết mọi người có kinh nghiệm này không? Có thể mọi người ít dùng phương pháp này để trị bệnh. Vậy lấy ngồi thiền làm ví dụ, mọi người ngày hôm qua đều có ngồi thiền phải không? Cảm giác đầu tiên của ngồi thiền là đau chân, lúc này thông thường có thể dùng một phương pháp lại đối trị: bạn cứ xem nó, coi nó đau ở chỗ nào? Thì chú ý nơi chỗ đau.
Ngày trước mới học Phật tôi cũng có kinh nghiệm này, lúc đó ngồi bán tọa cũng không được, chỉ có thể ngồi gác chân bình thường mà thôi, mà ngồi bình thường xếp chân cũng rất là đau. Sau đó phân tích, nguyên nhân căn bản của
 
 
 

* Trang 81 *
device

đau do tự mình tìm phiền phức, tự mình không vượt qua được chính mình. Thật ra sau khi thả lỏng thân tâm bạn sẽ không có sự đau đớn nào; vì bạn càng lo lắng thì càng cảm giác đau, vì bạn quá hồi hộp, cứ lo âu: “chân có bị gãy hay không? có bị thương, tàn phế hay không? Hoặc là chân biến thành chữ o? Làm mất đi tư thế đẹp, mất đi đường cong đẹp ?...” tâm lý lo lắng quá nhiều những điều không cần thiết. Sau đó tôi thường tự hỏi mình: “chân có thật sẽ bị gãy không? vậy xem nó gãy như thế nào!” kết quả phát hiện chân không bị gãy, không bị gãy là tốt rồi, do đó thân tâm từ từ thả lỏng, chân cũng từ từ nhẹ nhàng ra.
Còn nhớ khi học tiểu học môn thể dục nhảy xà đơn, lúc đó tôi rất sợ xà đơn, không dám lộn trước sau, cho rằng thân thể sau khi lật ngược sẽ bị rớt xuống đất. Quả đất lớn lại cứng, đầu của tôi nhỏ lại mềm, nhất định đầu sẽ chảy máu. Vì vậy mỗi lần nhảy lên, tôi rất sợ không dám lật ngược thân, thầy giáo có ép như thế nào tôi cũng không thể, thầy ấy muốn ở phía sau giúp tôi lật thân, tôi nhất định kháng cự, thân tâm càng lo lắng, lật chuyển càng khó khăn. Sau đó có một lần tan học, tôi muốn tập thử xem thì nhảy lên được, lúc này có một bạn đột nhiên từ sau lưng đẩy tôi một cái, tôi liền lộn thân qua dễ dàng, sau khi đứng dậy phát giác: “Á! Mình lại nhảy trên xà ngang rất tốt mà” từ đó về sau thì dám lộn xà ngang. Đây cũng là một kinh nghiệm tương tự.
 (giải thích nội dung chiếu từ video)
Hiện nay có rất nhiều bệnh trạng hoặc bệnh tình, bác sĩ chỉ có thể cho bạn tên bệnh, nhưng không thể trị liệu, hoặc là ngay cả tên bệnh cũng không thể xác định. Nhưng trên thực tế, bệnh nhân cảm thấy rất khó chịu, vì vậy tôi giới thiệu cho
 
 
 

* Trang 82 *
device

quý vị bộ video này là để tham khảo những vấn đề của y học hiện tại trong đó có rất nhiều vấn mà quý vị đang phải trải qua.
Mối quan hệ giữa bệnh thời đại và áp lực
Đầu tiên là thảo luận về trạng thái của máu huyết. Ví dụ một người bệnh, thường có cảm giác toàn thân mệt mỏi, qua kiểm tra sức khỏe thì không có vấn đề gì, nhưng anh ta cảm giác rất khó chịu, sau đó qua kiểm tra máu huyết phát hiện nồng độ máu huyết của anh ta cao gần gấp hai lần so với người bình thường.
Hiện nay nguyên nhân của một số căn bệnh thời đại, chủ yếu nhất là do các sự áp lực của công việc và cuộc sống. “Áp lực” sẽ ảnh hưởng đến tác dụng của thần kinh giao cảm và thần kinh phó giao cảm, đặc biệt là thần kinh giao cảm sẽ bảo trì ở trạng thái quá hưng phấn, quá kích thích. Mà thần kinh giao cảm sẽ ảnh hưởng tuyến thượng thận bài tiết, tuyến thượng thận tố, đây là nguyên nhân tạo ra sự không lưu thông của máu trong mạch máu.
Bác sĩ đã dùng một thực nghiệm để chứng minh, ví dụ tuyến thượng thận tố lẫn trong huyết thanh sẽ xảy ra chuyện gì? Ông ta đem tuyến thượng thận tố bỏ vào trong huyết thanh lắc đều lên, đến mức không thể lắc được nữa, theo Đông y gọi là trạng thái “ứ huyết”, đây cũng có thể nói rõ một số bệnh “thời đại” do áp lực của cuộc sống mà đẫn đến máu không lưu thông (ứ huyết).
Bác sĩ nói rõ, khi thân tâm có xuất hiện hiện tượng như trên, thì đã có những lời cảnh báo, ví dụ: mắt thâm quần như mắt gấu
 
 
 

* Trang 83 *
device

mèo, da và môi đều xuất hiện vấn đề. Có một bệnh nhân là chủ biên tập tạp chí, thường sinh hoạt ở trạng thái  lo lắng cao độ, khiến cho cơ thể mệt mỏi đến nỗi không thể làm việc, nhưng xem bảng kết quả kiểm tra sức khỏe thì không có gì đặc biệt, chỉ có trong lòng bàn tay xuất hiện những đốm sáng không đều; đối với Tây y, trong tay xuất hiện những đốm sáng không đều cũng cho là không có bệnh gì; nhưng đối với Đông y, đây là hiện tượng “ứ huyết”, chụp phim kiểm tra mạch máu trong bộ não, cũng phát hiện hiện tượng “ứ huyết”, đó là điềm báo trước của tai biến. Vì vậy bác sĩ dặn dò anh ta phải ở nhà nghỉ ngơi.
 
Thiền tọa, điều tiết hơi thở và quán tưởng có lợi cho sức khỏe
 
Lần này thảo luận mối quan hệ của sự điều tiết hơi thở và sức khỏe. Có một bệnh nhân bao tử có vấn đề tuy bác sĩ có đưa thuốc nhưng không có tiến triển, sau đó anh ta học phương pháp hít thở bụng, bệnh tình liền đỡ hơn. Lại có một vị bác sĩ đo trắc nghiệm nhiệt độ tay của một người thường xuyên ngồi thiền, phát hiện nhiệt độ tăng lên so với trước khi ngồi thiền, đồng thời dùng máy thử tia hồng ngoại cũng phát hiện trạng thái tuần hoàn của máu biểu hiện rất tốt.
Vị bác sĩ này liền bắt đầu nghiên cứu, vì sao sau khi ngồi thiền nhiệt độ của tay tăng cao? Ông thử nghiệm nghiên cứu lấy việc đo lường sự hoạt động của thần kinh giao cảm. Kết quả phát hiện trạng thái hơi thở lúc bình thường, tác dụng của thần kinh giao cảm dồn dập hơn, sau khi hơi thở kéo dài, số lượng tác dụng và tần suất của nó bắt đầu giảm đi một nửa.
 
 
 

* Trang 84 *
device

Ông suy tính có hai khả năng giải thích, một là khí oxy nhiều có thể làm giảm độ hưng phấn của thần kinh giao cảm, hoặc là nguyên nhân của việc thả lỏng cơ bắp.
Có một vị bác sĩ người Mỹ, ông ta chuyên môn dùng phương pháp tĩnh tọa và điều khí trị liệu một số bệnh văn minh hiện tại, ví dụ bệnh đau đầu kì cục, và cao huyết áp, các bệnh mãn tính v.v., dưới đây là giới thiệu báo cáo y học của ông ấy.
Đầu tiên ông ta dạy bệnh nhân một động tác thả lỏng đơn giản, sau đó bảo họ ngồi thiền. Chủ yếu là dạy họ chú ý sự ra vào của hơi thở, chú ý hơi thở ra và hơi thở vào, khi thở ra biết thở ra, khi hít vào biết hít vào, đây là bước đầu tiên tự biết thân tâm.
Phương pháp thực hành của vị bác sĩ này là: lấy phương pháp này làm hỗ trợ, rồi phối hợp thuốc hoặc các phương pháp trị liệu chính thức khác, làm cho hiệu quả trị liệu được nâng cao. Có một bệnh nhân nói, gần đây anh ta bị ù tai, nặng tai, lại bị suyễn, bệnh tiểu đường, qua quá trình huấn luyện của khóa thiền, anh ta cảm thấy thân tâm mình dễ dàng nắm bắt và hiểu rõ, mà hiệu quả trị liệu hầu như tốt lên rất nhiều. Một bệnh nhân khác bị thoát vị đĩa đệm, vốn rất đau đớn, sau khi qua trị liệu, cảm thấy đỡ rất nhiều. Một bệnh nhân khác nói, tuy anh ta mới tham gia hai lần khóa huấn luyện, nhưng cảm giác cả thân thể chuyển đổi rất nhẹ nhàng.
Tiếp theo ông ta giới thiệu vận dụng phương pháp quán tưởng như thế nào (như “giả tưởng” thứ tư trong “sáu pháp trị” phối hợp kĩ thuật trị liệu trị bệnh da liễu. Thông thường điều trị một số bệnh da liễu dùng tia tử ngoại chiếu, nhưng vị bác sĩ này lại dạy họ điều thân, dạy họ thả lỏng thân tâm như thế nào, điều
 
 
 

* Trang 85 *
device

tiết hơi thở, tiếp theo dạy họ phương pháp giả tưởng (quán tưởng), quán tưởng vận dụng hệ thống miễn dịch của thân thể và chiến đấu với bệnh da liễu như thế nào, ví như quán tưởng nguyên nhân bệnh như kẻ thù vậy, nên đem chúng nó diệt trừ đi.
Vị bác sĩ này đã làm một thực nghiệm, ông đem bệnh nhân chia làm hai tổ, tổ thứ nhất chỉ trị liệu bình thường, tổ thứ hai còn bao quát chú ý điều tiết hơi thở và giả tưởng, so sánh hiệu quả hai cách trị liệu có gì bất đồng. Tổ bệnh nhân thứ hai tiếp nhận huấn luyện điều tiết hơi thở khoảng lần thứ mười bắt đầu có hiệu suất trị liệu, nhiều nhất cũng không quá hai mươi lần, mà đội thứ nhất bình quân cần phải ba mươi lần.

Ngồi thiền có thể khiến hệ thống miễn dịch hồi phục bình thường

Vì sao có sự khác biệt như vậy? Ông ta cho rằng, chủ yếu là vì thông qua ngồi thiền điều tiết giả tưởng, hít thở, khiến năng lực của hệ thống miễn dịch trở lại tiêu chuẩn ban đầu. Ngoài ra ông còn nhắc, ngoài việc ứng dụng của công phu thiền định bình thường ra, tập quán ăn uống, ngủ nghỉ cũng đều phải điều tiết. Và phương pháp của ông ấy là: phương pháp “trị liệu”, làm cho sức miễn dịch vốn có trở lại bình thường. Từ đó ông ta suy luận rằng trạng thái tinh thần và sức miễn dịch của chúng ta có quan hệ rất lớn.
Vì sao sự miễn dịch không bình thường? Nguyên nhân tạo thành hệ thống miễn dịch không bình thường, trước mắt mọi người đều cho là do “tác động khác kích thích”, bao quát ngoại vật xâm nhập hay sự kích thích của vi khuẩn tạo thành. Nhưng
 
 
 

* Trang 86 *
device

cũng suy nghĩ đến trạng thái của phương diện tinh thần và sự quan hệ rất lớn với sự miễn dịch.
Trường Đại học Kyushu đã thực nghiệm cũng là sự quan hệ của trạng thái và sự miễn dịch. Ở trạng thái hưng phấn như vậy, có ảnh hướng đến sự hoạt động của hệ thống miễn dịch? Ông đem điện kích sức miễn dịch trước sau so sánh, kết quả phát hiện hiện tại trạng thái trước điện kích, sức miễn dịch bình thường; cũng là thần kinh giao cảm bị kích thích sau một thời gian, tính hoạt động của tế bào miễn dịch cơ hồ giảm xuống bốn mươi phần trăm. Vì vậy, bạn chỉ cần thông qua điều tiết thân tâm, hồi phục đến trạng thái gọi là “tự giác” hoặc “tự liệu” vốn có, trên thực tế có lẽ là một trong những nguyên nhân khiến tế bào miễn dịch bảo trì trạng thái bình thường.
Đồng thời họ cũng nói rõ, trước mắt giới y học đều chú ý phương pháp gọi là thiền tọa hay thiền định, khiến thân tâm thư giãn, tự giác, làm cho cái nhân đầu tiên vì những nguyên nhân bị năng lực miễn dịch khống chế hồi phục bình thường. Họ cho rằng, y học đông phương rất chú trọng làm cách nào thân tâm của mình từ trạng thái không cân bằng trở lại trạng thái cân bằng vốn có, rất chú trọng điều tiết tự nhiên.

Lấy tự giác trị bệnh chưa phát sanh

Có một vị bác sĩ ở Đại học Harvard nước Mỹ, vốn là tây y, ở giới y học tây y tính ra là rất có quyền uy. Buổi chiều, ông chú ý đến vấn đề cân bằng của thân tâm và phương pháp điều tiết ngồi thiền, hơi thở. Khi trị liệu bệnh nhân ông rất chú trọng đến việc tìm hiểu sự biến hóa của cả thân tâm. Mỗi khi xem một bệnh nhân, thường phải tốn hơn một tiếng đồng hồ. Sau khi hiểu rõ bệnh nhân, đều cố gắng cho bệnh nhân hiểu rõ trạng thái bệnh tật của mình, làm cho họ tự quay về
 
 
 

* Trang 87 *
device

quan sát  chính mình. Có những cái cần dùng y dược chữa trị, ông liền giới thiệu đến bác sĩ khác điều trị.
Ông cho rằng, quan niệm của y học phương Tây chú trọng nhiều về thuốc thang hoặc giải phẫu, nguyên nhân của trị liệu là nhờ sự giúp đỡ từ bên ngoài; nhưng ông nghĩ rằng có khi chú ý đến một khía cạnh khác, đó là năng lực vốn có đầy đủ của thân thể chúng ta, khiến cho nó sinh động hóa, bình thường hóa. Nói tóm lại, trong sinh hoạt ngày thường, lúc chưa có cái mà Tây y chính thức gọi là “bệnh tật” xuất hiện, trước khi phát hiện những triệu chứng, bản thân cần có sự cảm nhận, sau đó điều chỉnh, khắc phục nó, gọi là “trị lúc chưa bệnh”. Lúc chưa sanh bệnh, qua sự cảm nhận sau đó trị liệu, đó mới là quan niệm tiến bộ về sức khỏe, mà đây có lẽ nên là quan niệm y học của thế kỷ hai mươi mới đúng.
Cuối cùng nói đến sự thực tế phát triển của văn minh nhân loại, chúng ta đã chinh phục tự nhiên, nhưng đồng thời cũng khiến chúng ta xa cách quy luật và nhịp bước của tự nhiên tất nhiều. Nhưng dù chúng ta cách xa bao nhiêu, không nên quên rằng trong thân thể chúng ta vốn là một cái tự nhiên nhỏ, một vũ trụ nhỏ. Bạn dùng cảm giác cảm nhận thân thể như thế nào để cảm nhận nội tại của vũ trụ tự nhiên này? Đây là một trong những mối quan hệ quan trọng của thiền định và y học.

Giải đáp vấn đề

Xin hỏi: Thế nào là bệnh do nghiệp chướng, bệnh do quả báo? Làm thế nào để phán đoán và cách trị liệu tiêu trừ?
Thầy hỏi lại: Quý vị cho rằng bệnh đó là như thế nào?
 
 
 

* Trang 88 *
device

Người hỏi trả lời: Bệnh viện không chữa được, bệnh bẩm sinh hoặc bệnh tìm nguyên nhân không rõ ràng.
Thầy hỏi tiếp: Có phải tất cả các loại bệnh là do nghiệp chướng gây ra không?
Thầy trả lời: Vì anh định nghĩa về bệnh nghiệp chướng, bệnh quả báo như vậy, nên chúng ta sẽ phân tích giải thích từng bước về các vấn đề nghiệp, nghiệp chướng và bệnh nghiệp chướng.
“Nghiệp” là tác dụng của hành vi, lời nói và tư tưởng của quá khứ, phân biệt thành “thân nghiệp, ngữ nghiệp và ý nghiệp”. Thế thì nghiệp tại sao trở thành chướng ngại mà gọi nó là “nghiệp chướng”? Giả sử đó là nghiệp xấu, thì sẽ sinh ra quả báo khổ, có thể trở thành chướng ngại; nhưng là do nghiệp tốt sinh ra quả báo an lành, cũng có thể trở thành chướng ngại. Nếu từ góc độ “chướng ngại” để nhìn nhận lại, thì nó không có tính tuyệt đối, vì có lúc nó không phải là chướng ngại, mà ngược lại nó trở thành một sức mạnh kích thích cho bạn tiến triển.
Vì vậy có chướng ngại hay không, và cũng không phải tại quả khổ hay quả vui, mà xem bạn xử lý nó như thế nào, giải thích nó, chuyển hóa nó. Có khi kết quả của sự vui ngược lại đã trở thành chướng ngại, ví dụ bạn sinh trưởng trong gia đình giàu có, đây là một quả lành, một hiện trạng rất vui, nhưng cũng có thể nhân đây mà dễ dàng biến thành kiêu căng phóng túng, làm cho bạn sa đọa, thành kẻ bất hiếu hay phần tử bất lương, như vậy đã trở thành chướng ngại rồi. Nhưng đối với một số người, nó không nhất định là chướng ngại, mà là động lực để họ thành công, tạo ra sự nghiệp lớn, tạo phước
 
 
 

* Trang 89 *
device

trợ duyên cho quần chúng xã hội. Cũng vậy, bạn sinh trưởng nơi chốn nghèo khổ, có lẽ là một chướng ngại vấn đề về giáo dục, sinh hoạt đều có thể xảy ra, nhưng nó có lẽ sẽ kích thích bạn tiến về phía trước. Do vậy, bởi nghiệp phát sinh ra quả báo khổ hay vui, nhưng nó không nhất định là chướng ngại.

Nguyên nhân bệnh có nhiều loại

Lần này thảo luận rõ nguyên nhân vì sao một số bệnh gọi là “bệnh nghiệp chướng”. Lấy một ví dụ, giả như bạn là một vị bác sĩ, có bệnh nhân đến tìm, qua kết quả chẩn đoán là mắc bệnh cảm cúm, bạn có thể xử lý như kê đơn thuốc cho họ, và khuyên họ uống nhiều nước, nghỉ nhiều v.v…
Nhưng bạn nghĩ xem, đây có phải là toàn bộ của nguyên nhân gây bệnh? Nguyên nhân chỉ có như vậy hay sao? Khi trị bệnh cho họ, bạn có hoàn toàn đã giải quyết nguyên nhân của bệnh cho họ hay không? Trừ bệnh lý ra, anh ấy đau là do đêm hôm qua ngủ ngoài công viên mới, sinh hoạt không ổn định. Bạn hỏi anh ta: “vì sao đêm hôm qua anh ngủ ngoài công viên?” Nguyên nhân là do cãi nhau với vợ. Vì vậy bạn sẽ phát hiện nguyên nhân của bệnh có quan hệ với tình trạng gia đình. Nếu như bạn chỉ dùng thuốc để trị liệu, không chừng qua mấy ngày lại tới tìm bạn, lại là cảm cúm, vì anh ta lại cãi nhau với vợ, lại ra ngoài công viên ngủ nữa.
Nói cách khác, chúng ta có thể từ rất nhiều khía cạnh để tìm hiểu bệnh, bao gồm từ tập quán thói quen của họ. Mà sự hình thành tập quán này là vì mỗi lần đều có hành vi giống nhau, ngôn ngữ và phương thức suy nghĩ (ba thứ nghiệp thân khẩu ý), từ từ hình thành thói quen, nó sẽ sinh ra một
 
 
 

* Trang 90 *
device

sức mạnh (nghiệp lực) dẫn dắt bạn, dạy bạn hoàn thành công việc khi gặp tình cảnh giống như vậy, có thể sẽ làm lại, rất khó khống chế không ngừng lặp lại. Con nít thích chơi điện tử cũng như vậy, mỗi lần chơi đều rất thích thú,  kết cục về sau mỗi lần ra ngoài  thì có một lực hấp dẫn rất lớn dắt nó đến tiệm điện tử chơi. Dùng chất kích thích cũng như thế.
Tập quán thói quen lâu rồi sẽ hình thành một loại tính cách nào đó, một tính cách đặc thù sẽ hình thành một loại vận mệnh số mệnh. Thật ra những cái này đều đã nói rõ bao quát trong chữ “nghiệp”. Nhân đây đối với bệnh tật phải hiểu rằng, trừ nguyên nhân của sinh lý, còn bao quát cả thân tâm của bạn và sự triển khai của nó ra thế giới. Vì vậy, nếu thói quen của ba thứ: ăn uống, ngủ nghỉ và sinh hoạt hàng ngày không thể điều hòa, lại còn thêm các vấn đề giữa người với người, gia đình v.v.. có thể là nguyên nhân hình thành ra bệnh nghiệp chướng.
 
Giữ gìn sáu căn

Từ phương diện ăn uống, mỗi ngày chúng ta hấp thụ thức ăn từ miệng vào, nếu nhìn nhận sâu hơn nữa, thì chúng ta dựa vào sáu giác quan khác hấp thụ thức ăn từ bên ngoài vào. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, sáu giác quan này (sáu căn), hấp thụ sáu đối tượng bên ngoài là sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp (sáu trần). Thông qua mắt v.v.. sáu con đường này, mà tiếp xúc với thế giới bên ngoài.
Đối với thức ăn từ miệng vào, chúng ta phải chú ý nên ăn những thức ăn sạch sẽ, tránh ăn có đồ có độc, hư thối, phải rất
 
 
 

* Trang 91 *
device

cẩn thận. Nhưng đối với “thức ăn” từ các giác quan mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý v.v. vào, chúng ta lại không chú ý lắm, từ những chỗ thường sản sinh thành phần ba loại độc “tham sân si”, vì vậy thường từ sáu căn phát sinh thức ăn có độc tố khác, phá hoại thân tâm chúng ta. Do đó đối vởi sáu căn (sáu căn), phật giáo đề xuất nên khéo phòng hộ, gọi là “giữ gìn sáu căn”.
Vì thế, mọi người nên hiểu sâu về bệnh nghiệp chướng, thì vấn đề này mới dễ thảo luận. Nếu không thì quý vị sẽ cho những bệnh tật y học không trị được, nguyên nhân bệnh tật không rõ ràng và bệnh bẩm sinh, gọi chung đó là bệnh nghiệp chướng, bởi vì thực tế, theo sự tiến bộ của y học thì những loại mà quý vị cho là bệnh nghiệp chướng sẽ trị liệu hoặc cải thiện tốt hơn.

Hỏi: Vì sao có những vị cao tăng thân thể yếu ớt, tình trạng không tốt?

Đáp: có rất nhiều nguyên nhân, ví dụ, thường các vị cao tăng hay đại sư, thường vì đối diện với trên ngàn vạn thậm chí trên trăm vạn tín đồ mà mệt mỏi quá sức.
Song có một số bệnh không hoàn toàn có nghĩa là tệ hại hết, đứng từ góc độ của mối quan hệ nhân quả, thì có một số bệnh tật do nghiệp quá khứ tạo ra, vốn nó sẽ tạo thành một loại quả báo rất khổ, nhưng bởi vì anh ấy dùng hành vi tốt để cải thiện sửa đổi, nên quả báo đó đã giảm đi rất nhiều, có thể nói là tuy có hình thức là bệnh tật, nhưng việc này cũng còn tốt, vì “đáng lẽ là bị quả báo lớn nhưng hiện tại giảm đi nhiều”. Vì thế có lúc chúng ta thấy tình huống như trên, nhưng đừng vội vàng kết luận đó là xấu.
 
 
 

* Trang 92 *
device

Hỏi: y học trong Phật giáo và y học truyền thống khác và giống nhau chỗ nào?

Đáp: vì cùng thuộc văn hóa phương đông, có thể sẽ có nhiều chỗ giống nhau. Ví dụ, cả hai điều chú trọng điều hòa nội tại, những cái này tiết học trước đã nói rồi. Bây giờ tôi chỉ chú trọng nói những điểm khác nhau.
Thứ nhất, từ bệnh trạng lại xem, Phật giáo đối với quan niệm bệnh rất rộng, bao hàm cả thân tâm và thế giới, cho nên mới nói rõ khổ đế. Nói cách khác, Phật giáo cho rằng khổ hoặc bệnh chỉ là trạng thái hiện thực, cho nên đối với bệnh tướng giải thích rất rộng rãi, mà còn ở trạng thái rất tự nhiên: tứ đại vốn là tánh tương nghịch, thân tâm là tánh tương nghịch, đời người vốn là tánh khổ bức. Thứ hai, Phật giáo từ phương thức hành vi, ngôn ngữ và tư tưởng( thân, ngữ, ý ba nghiệp) thảo luận nguyên nhân gây bệnh, do đó, bệnh trạng, nguyên gay nhân bệnh đều sẽ phát hiện dưới góc độ rộng lớn của Phật giáo. Bởi vì điều đó vận dụng được chiều rộng và chiều sâu phối hợp giữa sinh lý và tâm lý để hiểu được bệnh tật, ngoài ra còn áp dụng giải quyết các vấn đề của nhân loại.
Ví dụ phía trước có lược thuật sáu phương pháp trị liệu “Ma ha chỉ quán”, chỉ có “phương thuật” thứ sáu là chỉ trị liệu thuốc thang bình thường, đây là đông tây y đều sử dụng; ngoài ra “chỉ” và “khí” thì đông y, đạo giáo, thần tiên gia, Ấn Độ du già đều sử dụng.
  1. Chỉ (tĩnh lặng)                               
  2. Sáu khí: (có suy nghĩ và hơi thở)
 
 
 

* Trang 93 *
device

  1. Điều hòa hơi thở (tưởng , tức )
  2.  Giả tưởng tưởng tượng (không theo hơi thở)
  3.  Quán tâm: (không theo suy nghĩ và hơi thở, trực tiếp quán nơi tâm)    
  4. Phương thuật (y dược)
 “Điều tức” thứ ba, có dùng giả tưởng và phối hợp với hơi thở; “sáu khí” thứ hai, có “mang theo tưởng tọa khí”, phối hợp khí và tưởng; “giả tưởng” thứ tư, hoàn toàn không mang theo “tức, chỉ có giả tưởng. “Quán tâm” thứ năm (trực quán nơi tâm). Nội ngoại tìm cầu: “ tâm bất khả đắc” hoặc là “tôi (cái nhận thức cho là chủ thể ) bất khả đắc”, “ai chịu nhận bệnh? Người bệnh là ai?” lấy đây làm điểm cơ bản, phân tích rõ ràng bệnh nhân đối với người chịu thọ bệnh, nhận thức chủ thể. Quán sát: “ai đang bệnh? Sanh bệnh là ai? người bệnh có thực tại hay không? Nếu như người bệnh có thật tại như vậy, vậy sau khi trị hết bệnh, người vốn mang bệnh trước đó đã đi đâu? Nếu thật là thật tại, vậy thì trên vũ trụ nhất định có một nơi chứa bệnh của ta, và một nơi chứa sức khỏe của ta, hai địa điểm này không ngừng chuyển đổi qua lại mới đúng.
Quán sát như vậy, ngoài việc quán sát bệnh ra, còn có thể vận dụng ở những phương diện khác. Ví dụ tình huống nhân sự sinh hoạt hàng ngày, như khi có người la mắng chúng ta, nếu “chủ thể tánh” của chúng ta tuyệt đối mạnh, phản ứng sẽ rất mạnh mẽ: “tại sao anh lại mắng tôi?” thậm chí có khi mạnh tới mức độ “ dị ứng, nhìn hai người bên cạnh nói chuyện nhỏ với nhau, thì cho rằng đang nói xấu mình. Nhưng, nếu bạn học quan sát chính xác từ từ, cho đến khi có
 
 
 

* Trang 94 *
device

người la mắng mình thật, bạn sẽ quan sát: “họ đang mắng ai à? “la mắng” lại là gì?” khi chủ thể tánh tuyệt đối yếu dần, phản ứng tự nhiên rất hòa bình. Loại phương pháp quán tâm này, trong Phật giáo thuộc về bộ phận “huệ học”. Cho nên, chú trọng nuôi dưỡng trí huệ,  là chỗ khác nhau giữa Phật giáo và đông y.
Ngoài ra đông y nhấn mạnh một điểm là, giả thiết và truy tìm một cái (ngã) có thể là thường, có thể là lạc,  cảnh gíới cao nhất của y học Trung Quốc là hi vọng tu luyện thành tiên, vì vậy họ cho rằng thân tâm có một điểm dựa tương đối, có thể tu luyện đến cảnh giới rất cao, cảnh giới trường thọ. Nhưng Phật giáo cho rằng, trường thọ như thế nào đi nữa, tu luyện như thế nào, cuối cùng đều quay về “vô thường”, không chỉ vô thường, mà còn là khổ nữa. Do đó Phật giáo không chủ trương bạn tu luyện con đường thành tiên.

Hỏi: Có rất nhiều người muốn học khí công, nhưng khí công cũng có rất nhiều loại, nên chọn như thế nào?

Đáp: tôi cho rằng, đầu tiên bạn nên hiểu là bất cứ vật gì đều có sự giới hạn của nó, đừng khoa trương hay làm phức tạp quá. Ví dụ nói học khí công, anh đem nó thành phương pháp luyện tập sức khỏe thì được, có người cho rằng anh ta có thể giải quyết tất cả vấn đề, cho đến làm những chuyện thần kì huyền diệu, thì đương nhiên phải cẩn thận rồi. Gần đây Trung Quốc và Đài Loan phát triển một số nhóm khí công, trong đó có rất nhiều nơi là dựa vào Phật giáo, ví dụ cho là Đại sư nào đó của Phật giáo truyền thừa v.v . đối với những vấn đề này, tôi cho rằng phải khéo giải thích, đơn thuần đem nó vào thành vận động sức khỏe thì được,
 
 
 

* Trang 95 *
device

nhưng nếu dựa vào nhiều sự việc, cho đến khoa trương, phóng quang, gia trì, nước.... trị bệnh, thì phải cẩn thận rồi. Bất cứ sự việc gì đều có tính giới hạn và phạm vi sử dụng chân thật.

Hỏi: Dạ thưa khi tĩnh tọa, “thời”, “lượng” nên điều tiết như thế nào? “hiệu quả” của nó thế nào (như một lần ngồi thiền, máu huyết có thể lưu thông bao lâu)?

Đáp: thông thường, người mới học cũng như người tiêu hóa không tốt, ăn cơm phải “ ăn ít nhiều lần”. Mỗi lần ngồi thiền thời gian không nên quá lâu, trong vòng mười lăm phút, số lần có thể nhiều một chút. Sau đó từ từ kéo dài thời gian. Nếu như mỗi lần ngồi quá lâu, kết quả chân đau muốn điếng người, về sau có thể không dám ngồi nữa, kết quả là một nóng mười lạnh. Cho nên khi bắt đầu chẳng thà chú trọng chất lượng. Trong thời gian ngắn, chú trọng điều tiết thân tâm là được rồi.
Cho đến một lần ngồi thiền, vấn đề máu huyết lưu thông bao lâu, thật ra phản ứng của y học rất nhiều, nếu bạn nghĩ tưởng nó một cách quá đáng, ngược lại biến thành một thứ áp lực tâm lý mà thành chướng ngại. Chỉ cần bạn theo phương pháp ngồi, thì nó rất tự nhiên sản sanh. Như sự tuần hoàn của máu huyết, không phải bạn cứ nghĩ: “đề cho nó tốt! để cho nó tốt!” nó sẽ biến thành tốt, mà nó rất tự nhiên điều tiết, tự nhiên mà sản sanh ra.
Trên thật tế, những điều này đều là bước đầu ngồi thiền điều tiết thân tâm mà thôi, nếu như bạn đem những bước đầu này xem thành giá trị cao nhất của việc ngồi thiền, mục tiêu cuối cùng, thì thật là đáng tiếc! Vì muốn cho máu huyết lưu thông có rất nhiều phương pháp, bạn đi tắm ba nóng càng nhanh,
 
 
 

* Trang 96 *
device

hoặc là đánh cầu, vận động một chút, máu huyết sẽ tuần hoàn tốt  hơn. Cho nên để máu huyết lưu thông không phải là giá trị của nó, điều đáng quí của nó là ở chỗ: nó ở trạng thái bình thường, lại có thể bảo trì một thứ mà nơi trạng thái bình thường không thể đạt tới hiệu quả. Nghĩa là ở lúc không phải vận động, đạt đến hiệu quả vận động; không phải khi ngủ, đạt đến hiệu quả ngủ; không phải lúc đọc sách lại đạt hiệu quả đọc sách; tốt nhất là không phải lúc ăn cơm, đạt đến hiệu quả của ăn cơm; lại còn những cái tốt hơn, không ở trong thế giới loài người, sống cũng như thế giới loài người vậy, đại khái đây là hiệu quả cao nhất của nó, có thể cũng là chỗ đáng quí của nó.
Chỗ đáng quí của thiền định là ở điểm này, từ nơi thế giới đầy chông gai, vẫn có thể sống như thế giới cực lạc; nó có thể khiến bạn nhận biết chính mình, quan tâm đến người khác, không oán không hận lấy tâm từ bi làm lợi ích chúng sanh, đây mới là giá trị cao nhất của nó. Cho nên, mọi người sau khi hiểu rõ thiền định, hoặc là giới định huệ, nên phát huy nó đến chỗ cao quí nhất, nó điều tiết được thân và tâm của bạn được hài hòa nhất.
Vốn cho bạn một viên ngọc ma ni châu, nhưng rốt cuộc bạn lại đem nó đi mua viên kẹo, không phải nói là không được mua viên kẹo, đương nhiên là mua được, cũng có thể mua được mật ngọt, nhưng bạn đem ngọc ma ni làm việc lớn hơn không phải là tốt hơn sao?
 
Tâm Tham ghi chép, Huệ Mộ chỉnh lý.
(Bản văn này được trích từ tác phẩm “Thiền định và cuộc sống” của Thầy Thích Huệ Mẫn do Nhà xuất bản Tây Liên Tịnh Uẩn ấn hành vào năm 1997)
 
 
 

* Trang 97 *
device

 
Thiền Định & Cuộc Sống