LOGO VNBET
NHỮNG SẮC THÁI CỦA TRIẾT HỌC THẾ GIỚl
• NGUYỄN ĐĂNG THỰC

 
Giáo sư Huston Smith đã so sánh tỉ giảo ba truyền thống chính đại diện thế giới về văn hóa và triết học như lược thuật dưới đây :
Trong tác phẩm nhan đề « Những hy vọng mới cho một Thế giới Biến đổi » (New hopes for a changing world) Bertrand Russell chứng minh rằng nhân loại vĩnh viễn mắc vào ba mâu thuẫn cơ bản :
1 - mâu thuẫn xung đột với  thiên nhiên,
2 - mâu thuẫn xung đột với tha nhân,
3 - mâu thuẫn xung đột với chính mình.
Đại khái ba vấn đề xung đột ấy có thể đồng hóa với con người thiên nhiên, con người xã hội và con ngườii tâm lý. Các đại truyền thống văn hóa còn sinh tồn cũng có ba : Trung hoa,

* Trang 29 *
device

Ấn độ và Âu tây. Nay chúng ta suy nghĩ về mỗi truyền thống ấy, nhấn mạnh về một vấn đề cơ bản của nhân loại, như thế giúp ta thông hiểu và liên hệ những triển vọng độc đáo của chúng. Nói đại khái thì Âu tây nhấn mạnh vào vấn đề thiên nhiên, Trung hoa vào vấn đề xã hội, và Ấn độ vào vấn đề tâm lý.
            Cái gì đã đem lại cho những khu vực văn hóa trên đây tinh thần riêng biệt ? Nếu chúng ta bỏ ra ngoài lý thuyết chủng tộc cho rằng các dân tộc khác nhau vì khả năng và tính cách bẩm thụ khác nhau, chúng ta sẽ thấy hoàn cảnh vừa địa lý vừa xã hội khác nhau đã làm cho các Văn hóa có sắc thái khác nhau.
            I. – ÂU TÂY. Sự chuyên chú vào Thiên nhiên của truyền thống Âu tây hình như qui về ưu đãi của hoàn cảnh sinh trưởng : “ Vành trăng phì nhiêu” khu vực địa lý thuộc Cơ đốc giáo. Ở đây Thiên nhiên phần lớn khuyến khích sự tìm tòi và chắc chắn dành trước cho phần thưởng. Châu thổ sông Nil rất rõ rệt về phương diện này. Bắt đầu nó cống hiến hai lợi điểm một hệ thống vận chuyển tự nhiên và đất phù sa phì nhiêu. Nhưng dòng nước đáng tin cậy của con sông kỳ lạ ấy sẽ chuyên chở người ta suốt chiều dài, trong khi một ngọn gió mạnh ngược chiều từ Địa trung hải tương đối mát mẻ thổi vào khí nóng cực độ của sa mạc, sẽ đưa người ta trở lại một khi đi quá trớn. Ngay từ bước đầu nhân dân ở đây đã có thể giao dịch liên tục và phần lớn không mấy vất vả. Thêm vào những ưu điểm ấy, sông Nil đem vào cho chất bón tự nhiên. Đều đều nước lụt hằng năm vỗ vào dẫy núi Abyssinie, thì nước sông lên rãi rác bùn đất phù sa mới trên cánh đồng. Sau trận hồng thủy dầu do đá tảng núi Arménie gây ra, những trường hợp tương tự cũng thấy ở Iraq lưu vực sông Tigre và Euphrate. Ở

* Trang 30 *
device

cả hai trường hợp, thiên nhiên đã tỏ ra rất bao dung – phong phú và vui vẻ, và đãi loài người như một người bạn.
            Nhân loại Âu tây tiếp nhận sự cởi mở của Thiên nhiên. Ngay từ đầu, sự tò mò đầu tiên của họ là hướng ra ngoài, về Thiên nhiên. Chính ở tại Mésopotamie mà người ta đã uốn mô thức của mình theo tinh tú, dấu hiệu mười hai cung của Hoàng đạo. Chính ở vương quốc Summer lần đầu người ta chia năm thành tháng và ngày ra giờ, bắt đầu dùng đo lường để tiếp cận sự vật nó chứng tỏ về sau thành công rực rỡ. Chẳng bao lâu cả đến đạo đức cũng được quan niệm theo lượng tính. Michael, phán quan vận mệnh nhân loại được họa ra người bịt mắt cầm cân, trên đó linh hồn được cân bằng lông cánh chân lý. Cảm tưởng đang tiến triển là mọi vật đều có trật tự chính xác, có thể đo lường được và công bình.
            Như thế nào mà cái trực giác ấy trở nên tin tưởng cho người Hy lạp và đẻ ra khoa học Âu tây thì không cần nhắc lại. Điều chưa minh hiển lắm ấy là con đường mà ý hướng về Thiên nhiên ấy đã thấm nhuần tất cả văn hóa Âu tây, gồm cả triết học lẫn tôn giáo. Thực ra thì cũng có nhiều luồng tư trào phi Thiên nhiên trong văn hóa Âu tây như – Gnosdicism : Trực quan, Neo-Platonism : Tân Bá lạp đồ phái – the Mystery = religions = Các tôn giáo Thần bí Plotinus =  học phái Plotin và các phái khác – mà thông thường chúng bắt nguồn từ Đông phương, phần nhiều chính từ Ấn độ. Đối với Ấn độ thì vật chất là một tên mọi làm ô uế tất cả cái gì nó sờ vào. Trong khuynh hướng bản xứ. triết học Tây phương tôn trọng vật chất, nhìn nhận nó một cách nghiêm chỉnh, uốn nắn tư tưởng theo sự vật ở đâu có thể được. Và kết quả là:
            1. – Thực tiễn trong bản thể học. Nói chung nó từ chối Platon về chủ trương đồng nhất hóa thực tại với lý niệm bất dịch hay là hình tượng, và theo Aristote để thu hoạch vật chất.

* Trang 31 *
device

2. – Duy vật luận nhân loại học. Con người bản tính phức tạp, gồm có linh hồn và thân thể. Cả hai đều có thật và là phương diện cực đoan của bản tính.
3. – Giác quan ngụ trong nhận thức luận. Trí thức phát nguyên từ vật cụ thể cảm giác và phần chính là quan hệ với vật chất cụ thể.
            Cả đến trong tôn giáo của Âu tây là cái phương diện văn hóa luôn luôn hướng lên thế giới bên kia hơn cả, Âu tây cũng thích ứng với Thiên nhiên còn các phương diện khác thì không,  “ Thượng đế yêu thế giới” ngụ một phần thần học hoàn toàn khác với khẩu hiệu “ Thượng đế yêu những linh hồn của thế giới” “ Thiên chúa giáo – như Tổng giám mục Temple thường tuyên bố - là một tôn giáo công nhiên duy vật nhất trong tất cả các tôn giáo lớn”. Tôi có thể nói thêm vào danh sách ấy, Do thái giáo và Hồi giáo nữa, đấy là một điều rất thật. Luôn luôn Tây phương hình như sắp sửa đi vào chủ trương cho tinh thần là thiện, vật chất là ác, nhưng rồi lại nhớ rằng “ Khởi thủy Thượng đế sáng tạo ra trời và đất ; … Và kìa, thế là chí thiện”. Đức thiện của nó không phải chỉ là nhìn nhận như thế mà còn hành động theo thế , loài người có trách nhiệm phải “ bá chủ… tất cả địa cầu”. Sự nhập thế xưng tụng vật chất không thể tưởng tượng được nữa, vật chất có thể trở nên thần linh. Thiên đường theo lời tiên tri của Do thái và Cơ đốc nguyên thủy cho tới Thánh kinh xã hội là phải hiện xuống mặt đất. Cả đến khi chết rồi Tây phương sẽ không rời bỏ thể xác. Nếu có phải có sự sống sau khi chết, thì sự sống ấy cũng phải theo nghĩa vật lý một phần nào. “ Tôi tin … vào sự phục sinh của thể xác.” Suốt cả lịch trình có sự cố gắng để duy trì ý nghĩa đồng loại giữa con người với Thiên nhiên mà chủ nghĩa Vật tổ đã sớm định hướng. Tất cả tạo vật đều làm việc như để chờ

* Trang 32 *
device

đợi một lúc quyết định của lịch sử. Một cuộc động đất là rơi trở về với thánh giá Thiên nhiên cũng than khóc cho cái thiện đã mất”.
            Như thế là toàn thể cái khung tư tưởng của Tây phương, kể từ khoa học sang triết học đến tôn giáo, hướng về Thiên nhiên một cách mạnh mẽ và tích cực. Về chuyên môn, người Tây phương đã là triết gia sở trường về Thiên nhiên.
            II: - TRUNG HOA, Trung hoa là triết gia xã hội. Ở đây cũng vậy hoàn cảnh hình như cho ta một số then chốt. Văn hóa Trung hoa cũng như văn hóa Âu tây phát nguyên từ châu thổ, thành lập trên sông Dương tử và Hoàng hà. Nhưng các con sông này không phải đồ chơi. Tai họa và ân huệ lẫn lộn, nhất là sông Hoàng hà luôn luôn đòi thay đổi lòng sông mà người ta phải trả bằng giá sinh mạng và lao công nếu phải sinh sống với nó và nhờ vào nó. Không phải vô cớ mà người ta nói “ Sầu khổ Trung hoa” (China’s sorrow). Sự sợ hãi mê tín, đã mệnh danh cho nó là “ Thần sông” chứng kiến sự kinh khủng của nhân dân hai bên bờ sông thời cổ xưa đối với người láng giềng chưa thuần hóa. Để an ủi nó dân chúng có tục sinh tế thường lệ bằng nam nữ thiếu niên. Trong cái lòng chảo chủng lớn rộng ấy , bất lực đối với nước lụt hay nắng khô vì thiếu rừng cây, người nông dân càng lệ thuộc chặt vào đất đai hơn là ở các miền khác trên thế giới. Rất sớm ở Trung hoa dòng sông trở nên tượng trưng cho con Rồng khó bảo, Rồng cũng là quốc hiệu trải hàng thế kỷ. Như vậy chúng ta sẽ không lạ thấy ở Trung hoa có một sự kính nể Thiên nhiên. Có một chủ nghĩa Thiên nhiên trong tư tưởng Trung hoa nhưng là chủ nghĩa Thiên nhiên của nghệ sĩ và tiểu thuyết lãng mạn hơn là kho học. Chủ nghĩa Thiên nhiên như của thi sĩ Thoreau và Wordsworth hơn là của Galicé hay Bacon. Thiên nhiên là cái gì để thưởng thức, trực giác cảm thông, phụng thờ, chứ

* Trang 33 *
device

không có tư tưởng liên tục sử dụng thiên nhiên hay là ý nghĩ phải làm chủ lấy. Lão tử viết:
                        Muốn lấy thiên hạ mà làm
                        Ta thấy là bất đắc dĩ
                        Thiên hạ là vật thiêng liêng không thể làm được
                        Kẻ làm thì thất bại
                        Kẻ cố chấp thì mất.
            Kết quả là khoa học Trung hoa không mở mang. Về một trường thí nghiệm xây dựng và hành động người Trung hoa quay vào xã hội. Triết học Trung hoa được đào luyện trong cái lò xã hội. của thời “ Chiến quốc” suốt năm thế kỷ rối loạn từ 700 đến 200 tr. Công nguyên, một thời đại nội chiến liên mien giữa các nước chư hầu, trong đó vô chánh phủ là dấu hiệu thường xuyên. Trong tình hình thế ấy, vấn đề nóng hổi của mỗi triết gia là tự hỏi: Làm thế nào chúng ta có thể sống chung với nhau không thương tổn lẫn nhau? Như ông Waley đã nói: “Tất cả triết học Trung hoa cốt yếu là nghiên cứu làm sao có thể giúp đỡ người ta sinh sống với nhau trong trật tự và hòa mục”. Giải đáp tuy mỗi nhà một khác nhưng vần đề thì luôn luôn vẫn giống nhau cả. Biện pháp cuối cùng đạt được hợp tất cả vào nhiều tư trào nhưng đều mang dấu hiệu đặc biệt của thiên tài Khổng tử. Nó tập trung vào một số yếu điểm và khái niệm liên hệ, trong đó quan niệm chính là Nhân, tình nhân loại lý tưởng, thường được phiên dịch là từ ái, người đối với người, hay là giản dị hơn là thiện. Thực hành đạo Nhân sản xuất ra hạng người quân tử, người có nhân cách hoàn toàn quân bình, có khả năng tự tín, và thích ứng cho bất cứ trường hợp xã hội nào, người tài ba hoàn hảo luôn luôn thung dung đối với mình và vì thế có thể làm cho người khác cũng được thung dung đối với chính họ.

* Trang 34 *
device

Thái độ quân tử với tha nhân luôn luôn lịch sự và cởi mở theo như khẩu hiệu : “ Tôi có thể giúp đỡ gì được ông không?” Theo cái tinh thần nhân đạo ấy sự giao dịch với người ở giai tầng khác nhau trong xã hội được qui định vào giềng mối Ngũ thường – cha con, an hem, vợ chồng, bầu bạn, vua tôi. Cuối cùng tất cả những giải đáp thích ứng ấy được toát yếu vào quan niệm Lễ mà ý nghĩa là phải nên, bởi vì nó bao hàm tất cả điều lý đáng nên của đời sống nhân sinh từ tế lễ trời đất cho đến cách thức thù tạc người khách tầm thường trong việc mời uống chén trà. Về chính trị điều ấy thêm vào cho một xã hội được tổ chức bằng đạo đức bên trong cái năng lực của gương mẫu. Trách nhiệm của nhà lãnh đạo, hành động với đức trí tu tỉnh, với nhân ái, và biết thời trung để thiết lập một qui mô uy tín nó bảo vệ cộng đồng bằng sự cảm hóa quần chúng muốn sống chung với nhau trong hòa bình trật tự. Một xã hội xếp đặt như thế có cái Đức hay yếu tố uy tín nó tu sửa văn hóa như một tổng thể và làm cho nó vững chắc chống với sự phá hoại ngoại lai. Ngoại lai có thể chinh phục người ta, nhưng nếu người ta thực có một đường lối sống văn minh, thích hợp và thỏa đáng hơn thì sau cùng cái đường lối ấy tất nhiên sẽ được kẻ kém vững vàng, thiếu tự túc và kém khôn ngoan về đường lối tán thưởng hóa theo. Trên đường lâu dài trong thành công để bá yếu tố vô hình nhưng vô địch thì không phải là sức mạnh võ lực binh bị quân sự mà là yếu tố văn hóa và uy tín tinh thần (tức là Văn thắng Vũ).
            Cái giải pháp xã hội ấy thành công rực rỡ như thế nào hình như đã được lịch sử minh chứng đầy đủ. Văn hóa Trung hoa có một hương vị riêng của nó. Nó là một hợp thể của sự tế nhị, chói lọi và mực thước, sản xuất ra một hiệu quả chỉ có thể gọi được là ý vị thiện bảo. Người Tầu đã đề cao đời

* Trang 35 *
device

sống hưởng thụ hợp lý và khinh miệt sự hủy hoại đời sống. Kết quả họ đã có thể thống nhất một lãnh vực phì nhiêu và rộng lớn và sáng tạo – nếu ta nhân bội sự mien trường bằng lượng độ nhân khẩu bên trong – một nền văn minh phổ cập loài người từng thành tựu, một nền văn minh ở thời cực thịnh bao hàm một phần ba nhân loại trong thế giới. Chỉ riêng cơ cấu chính trị của cái văn minh ấy. Đế quốc Trung hoa tồn tại trãi qua hàng bao thế kỷ 2133 (kể từ 221 tr C.n đến 1912 s C.n). Một thời đại mà Đế quốc Alexandre Đại đế và Cesar không đáng kể. Năng lực đống hóa của nó cũng rất mạnh với biên giới rộng mở hơn tất cả các văn minh lớn, Trung hoa đã làm mồi cho rợ xâm lăng hết lớp này đến lớp khác sẵn sàng nhòm ngó tràn vào lãnh vực nông nghiệp, Quân Thát đát mà cuộc viễn chinh đã làm thương tổn cho tinh thần Đế quốc La mã luôn luôn ở tại cửa quan nước Tầu. Nhưng người Tầu thâu hóa cái gì mà họ không bài trừ được. Mỗi làn sống xâm lăng chẳng bao lâu sẽ mất cái cá tính của mình đi. Như nhà Trung hoa học trứ danh Arthur Waley đã nhận thức, hiếm có một nhà chinh phục ngoại lai đến kiếm lợi trong vòng vài chục năm lại không cố gắng viết một bài thơ chữ Hán để cho giáo sư của mình vốn là người bị chinh phục, có thể bình phẩm xứng đáng tư cách một người quân tử. Và luôn luôn y hy vọng được lầm là người Tầu, như Kublai Khan và tỉ dụ rõ ràng nhất. Y chinh phục nước Tầu nhưng “chính y lại bị văn minh Tầu chinh phục lại. Sự chiến thắng của y làm cho y có thể thực hiện cái mộng lâu dài : trở nên một Thiên tử thực sự”. Đây là một lò văn hóa đủ sức nóng để hun đúc. Không có sự hiển nhiên ấy của các rợ xâm lăng đối với điều chúng thấy ở Âu châu. Khi ôn lại một hơi về văn minh Trung hoa người ta sẵn sang bảo triết học xã hội Trung hoa không nơi nào đã vượt quá được.

* Trang 36 *
device

III. ẤN ĐỘ. Trở lại truyền thống lớn thứ ba của thế giới là văn hóa Ấn độ thì chúng ta thấy ở đây cả hoàn cảnh thiên nhiên lẫn xã hội đều không có vẻ hứa hẹn. Hoàn cảnh thiên nhiên lẫn xã hội đều không có vẻ hứa hẹn. Hoàn cảnh thiên nhiên của Ấn độ tuy khác với Trung hoa nhưng cũng thân thiện hơn. Miền nhiệt đới của lưu vự sông Ganges với thảo mộc rậm rạp, ẩm thấp, khó chịu và sức nóng như thiêu, sức khô héo cảu các miền khác thì hằng mười tháng liền trong một năm chỉ có giọt sương đểm để giải khát cho đất đai – Hoàn cảnh thiên nhiên thực là cực đoan. Uy hiếp bởi quyền năng bao trùm của thiên nhiên, người Ấn thu hồi sáng kiến và hướng về chiều khác. Quan điểm thế giới của họ trở nên không thực tiễn theo nghĩa kỹ thuật. Nhất là quang cảnh sa mạc đã phải làm cho họ nản chí. Đứng trước thiên nhiên ở hình thức ấy âu sầu, ảm đạm, khô khan với ảo ảnh lơ lửng tới lui, không lạ gì mà người Ấn bắt đầu nghĩ: Thiên nhiên bất trị, và ở một số chủ trương kỳ lạ, là không thật. Thiên nhiên mờ ảo, biến hóa luôn luôn, bí mật, ghê sợ nếu anh muốn, nhưng có ích lợi gì để tìm khám phá định luật của nó. Nó là ảo hóa. Nó đầy ma thuật, một quỉ thuật, một trò chơi của huyễn ảo vũ trụ bí nhiệm. Đứng trước một Thiên nhiên có vẻ khó chinh phục Trung hoa trên kia đã quay chú ý vào xã hội, nhưng Ấn độ ở đây tự thấy đứng trước những vấn đề xã hội sâu xa nhất là ranh giới văn hóa mầu da. Sự phân biệt giữa dân bản xứ Dravidien với dân du nhập Aryen quá rõ rệt cho tới ngày nay – sau 3500 năm, ranh giới vẫn còn. Không một sự khôn khéo nào đủ để phá tan cái tai ách đó được. Chế độ đẳng cấp muốn là biện pháp nhưng đáng lẽ liều thuốc đẳng cấp để chữa cái bệnh, rút cục bệnh tình tiếp theo đẳng cấp, quay thành một cớ duy trì cách biệt xã hội. Tương đối rất sớm, Ấn độ hết hy vọng giải quyết vấn đề sống trên bình diện xã hội để quay về nội hướng, đem hết sức chú ý vào vấn đề tâm lý. Thiên nhiên? không có hy vọng để cai quản thế giới vật lý. Xã hội? chừng

* Trang 37 *
device

nào người còn là người thì luôn luôn sẽ có tuyệt vọng, về xã hội bất công và bế tắc. Nhưng cá nhân có vẻ hứa hẹn. Nếu chúng ta chỉ phải hiểu biết chúng ta thực là ai thì chúng ta sẽ đạt được tự do nội tâm vượt lên trên các mâu thuẫn chúng làm bế tắc cả vấn đề Thiên nhiên lẫn xã hội. Những giòng sau đây rút ở Katha Upanisad sẽ cho chúng ta nhận thấy ngay đề tài đặc biệt Ấn độ :
            “ Giác quan hướng ra bên ngoài. Nhân thế mà người ta nhìn cả ra cái gì ở bên ngoài, và không nhìn thấy cái gì ở trong lòng. Người hiền trí nắm mắt về thế giới bên ngoài và chứng kiến Tự tính”. Vì đối với người Ấn, cảm giác là chứng nhân giả dối. “ Thế giời không phải cái gì hiện ra như thế. Đằng sau sự sống bên ngoài bề mặt, mà chúng ta thực nghiệm cái trò sống chết, còn có một sự sống thâm sâu hơn nó không biết có sự chết. Đằng sau ý thức biểu hiện nó đem lại cho ta tri thức về sự vật đối tượng còn có ý thức thuần túy. Chân lý chỉ những ai nội hướng nhìn vào trong mới thực nghiệm được thôi”. Với cái tin tưởng ấy phát triển “bao nhiêu năng lực trí thức như trước kia đã dùng vào sự nghiên cứu và sự phát triển cho một cái máy để chinh phục những năng lực của vũ trụ đã quay hướng vào bên trong. Năng lực vũ trụ đã bắt ngay tại ngọn nguồn của nó… tất cả phụ thuộc chỉ là chi nhánh năng lực phân hóa bị để lại sau. Trong tư tưởng Ấn độ… tất cả thế giới bên ngoài được coi như là thứ yếu”.
            Vậy thì Ấn độ trở nên triết gia tâm lý. Một điều hiển nhiên của sự để tâm tiên quyết trong khu vực này được thấy trong ngũ vựng tâm lý học tinh vi của nó. Comaraswamy, khi làm giám đốc viện Bảo tang Đông phương ở Boston thường nói rằng cứ một danh từ tâm lý ở tiếng Anh có bốn danh từ ở tiếng Hy lạp và bốn mươi ở tiếng Sanscrit.

* Trang 38 *
device

            Điều mà Ấn độ thực sự phát triển tiếp tục giá trị trong tâm lý học sự thật còn là một vấn đề bàn cãi. Tạm gác những điểm tranh biện hơn hết sang một bên, tôi muốn đề nghị rằng ít nhất những sáng kiến sau đây hết sức hiện đại đã được khám phá và cứu xét tỉ mỉ hơn hai ngàn năm trước đây :
            1- Ý thức của chúng ta không phải tất cả điều ở trên mặt biểu hiện mà còn bao hàm những tầng lớp của tiềm thức nữa. (Hãy đối chiếu với Freud, toàn thể vận động phân tâm học và tuổi tác hồi tố trong thôi miên).
            2- Con người là một toàn thể sinh lý tâm lý với sự hổ tương hành động giữa hai phương diện còn tinh vi hơn làm người ta tưởng đến. (So sánh với những quan hệ lạ lung tinh thần thân thể hay là tâm thân mới khám phá trong thôi miên học và y học tâm lý doanh dưỡng).
            3- Thêm vào thân thể thô sơ (sthula sarira) còn có một cái vỏ sinh khí (prana-maya-kosa) (khí) còn là vật lý thì nó tế nhị hơn nhiều và vô hình. ( So sánh với những phát minh hiện đại về trường nhân diện của ba động thân thể và trí não).
            4- Đối với tinh thần chúng ta phải phân biệt giữa mạt na thức (manas) và bồ đề (budhi) nghĩa là giữa tư tưởng hợp lý, phê phán và phân tích với cái mà Radhakrishman gọi là tư tưởng toàn diện. (So sánh sự phân biệt của năng khiếu đảm bảo như đã mô tả bởi Descartes, Hamilton và Henri Poincaré trong khái luận về “Sáng tạo Toán học”).
            5- Xúc động cơ bản không phải do tinh thần biểu hiện trên mặt kiểm soát mà là bộ phận sâu xa hơn. ( So sánh với Freud; cũng so với phát minh về vị trí của xúc động ở trong thần kinh sang) (thalamis).
6- Tính tình người ta khác nhau và không thể uốn nắn vô cùng như ý muốn được. (So với thuyết lý nhân cách kiểu mẫu trong quan niệm triết lý đẳng cấp và bốn yogas với công

* Trang 39 *
device

trình của William Sheldon, Charles Morris và các công trình khác trong tính cách học hiện đại).
            7- Sự vật chúng ta nhìn thấy không phải chỉ là phản ảnh như vào tấm gương của ngoại giới mà là trong thành phần tác dụng hay là tự cơ quan tri giác phóng ra. (So thuyết Maya giới thuyết như không phải là huyễn ảo mà là xây dựng tâm lý – với các thuyết lý về tri giác tối tân hiện đại).
            8- Phần lớn đời sống thì phấn loạn hay là không trúng tiết (dunkha – khổ đế) và nguyên nhân ở tại (tanha) = khát vọng tham dục, ý muốn về sinh tồn riêng tư hay là thành tựu cá nhân. (So tứ diệu đế của Buddha với khoa chữa bệnh tinh thần đại cương hiện đại).
            Cả Trung hoa lẫn Âu tây không từng cống hiến một phân số nhỏ về sự chú ý vào tinh thần của Ấn độ. Vậy thì theo quan điểm lịch sử Ấn độ quả xứng đáng danh nghĩa triết gia tâm lý.
                                                            KẾT LUẬN
            Trong ba nền văn minh lớn đang còn sinh hoạt trên đây, Âu tây, Trung hoa, Ấn độ, mỗi văn minh tỏ ra có một chuyên môn độc nhất về bình diện văn hóa, Âu tây sở trường về trí khôn Thiên nhiên, Trung hoa về trí khôn Xã hội. Ấn độ về trí khôn Tâm lý. Nay hãy nói lên cái hại tất nhiên của sự chuyên môn : mất khả năng về vấn đề lảng bỏ”.
“Không gì thất bại bằng thành công” – kết cuộc tất cả ba truyền thống văn hóa đều đi đến miệng vực hay là tai hại bởi vì mỗi đàng đã thành công quá về một mặt đến nỗi tưởng yên ổn mà lảng bỏ hai mặt kia.
Cả Trung hoa lẫn Ấn độ đã lảng bỏ vấn đề Thiên nhiên; hậu quả là khoa học Thiên nhiên không phát triển, và mực sống còn thấp kém không thể tưởng tượng được. Ở Trung hoa vấn đề ấy chứng minh theo chu kỳ rất rõ cả về thiên tài xã

* Trang 40 *
device

hội. Giữa các triều đại đều xảy ra một thời kỳ nội chiến dài, và như Shu Ching Lee giải thích nó luôn luôn có liên hệ với “mật độ nhân khẩu trên đất trồng trọt”. Đất trồng trọt này không tiến triển về sản xuất vì “sự cải tiến kỹ thuật canh nông đã bị lảng bỏ”.
Vào thời đầu nhà Minh (1368) Trung hoa và Âu tây đại khái cùng chung một trình độ về tài năng kỹ thuật cơ khí. Đến cuối triều Minh (1644) Âu châu đã có khoa học cận đại và Trung hoa vẫn còn ở thời Trung cổ. Còn như Ấn độ thì cống hiến khoa học độc nhất cho thế giới nói chung là về số học thuần túy trong đó nó không lấy đề tài ở ngoại giới hiện tượng mà lấy tài liệu của tinh thần. Thêm vào sự bất lực đối với Thiên nhiên ấy, Ấn độ còn thêm sự vụng về về xã hội được minh chứng bằng tình trạng hệ thống đẳng cấp hiện tại. Còn Trung hoa thêm có vấn đề ngây thơ tâm lý. Thời chúng ta cũng hé thấy ở Trung hoa người ta để ý đến tinh thần về phương diện tâm lý và điều mà Trung hoa có thể làm được là trong phong trào tĩnh tâm triều đại nhà Chu, ý nghĩa về chữ Đức tâm truyền ở Đạo đức kinh của Lão Trang, đoạn văn về Dạ khí ở Mạnh Tử, và biện luận của Chu Hy về “Tĩnh tọa”. Nhưng điều ấy không từng được theo đuổi có hệ thống, và sự chú ý vào những vấn đề tâm lý ấy thông thường có luận điệu xã hội. Tinh thần được quan sát không phải vì chính nó mà vì nó có thể củng cố cho xã hội về mặt nào. Người ta có cảm tưởng mỗi khi Trung hoa đề cập đến tâm lý học là chỉ đề cập đến tâm lý xã hội mới thực sự chú ý. Sự khiếm khuyết của nó về mặt tâm lý học được thấy rõ ở chỗ thất bại về cái họa đàn áp mà nó không thấy. Trong tổ chức Trung hoa không có chổ cho tình cảm khai thông, bồng bột và không chế ngự áp chế. Kết quả những cảm xúc bị ẩn ức cho đến chừng nào sự ẩn ức nổ bung

* Trang 41 *
device

 ra và cảm xúc xuất hiện ở hình thức ghê sợ. Những tỉ dụ cho điều ấy thấy được ở khả năng Mông cổ đối với tra tấn và những vụ giết người thường xuyên xảy ra thình lình gọi “cuồng loạn” như Sorokin giải thích, là dấu hiệu của truyền thống Á đông hơn các nơi khác. Nó đi sang Nhật bản, như Robert Guilain đã giải thích, một thanh niên “thụ giáo theo kỹ luật đấu sĩ quá khích theo kiểu “Spartiale” để phát triển bản năng chiến đấu, và đồng thời lấy pháp phục tong mù quáng và lễ độ hoàn toàn để bắt vít bản năng bạo động của nó lại. Như thế nó biến thành một nhân vật sẵn sàng nổ bùng ra như trái phá vậy”.
Sự khuyết điểm của Âu tây là về tâm lý và xã hội. Về tâm lý học Âu tây đã chỉ là không rõ rệt, nhưng về xã hội thì thành tích nhất định đã là xấu, ít nhất có bốn thực kiện phải nhìn nhận như hiển nhiên về sự bất lực trong quan hệ xã hội của Âu tây và sự thiếu hẳn hiểu biết về những năng lực tạo nên cấu kết xã hội và hòa mục đoàn thể.
1- Trong khi văn minh Trugn hoa đã có khả năng bành trướng, hợp nhất càng ngày càng nhiều dân tộc vào một truyền thừa chung, và trong khi văn minh Ấn độ ít ra cũng có thể bảo vệ được dân tộc mình, thì lịch sử Âu tây là một sự phân chia liên tiếp. Sau cuộc hợp nhất Vương quốc Bắc Nam ở Ai cập thì không còn có sự hỗn hợp nào nữa ở khu vực Vành trăng phì nhiêu cả. Đáng lẽ sự hợp nhất thì có sự rạn nứt. Dân Hebrew phân chia ra Israel và Judah. Gilbert Murray viết trong “ Năm giai đoạn của Tông giáo Hy lạp” “The five stages of Greek Reli-gion” : “Cái họa Hy lạp tiền định là phân chia như nhiều người thấy ở Âu châu hiện nay.” Nhà thờ cắt đôi ra thành Đông và Tây. Và nhà thờ Tây phương chia  thành Tân giáo và Gia tô giáo.Đế quốc Trung cổ xé vụn thành dân tộc. Và quá trình ấy vẫn còn tiếp tục. Na uy, Đan mạch và Thụy Điển, nguyên lại là một khối thống nhất đã nứt ra làm ba. Nước Bỉ và Hòa lan nguyên

* Trang 42 *
device

 lai là một đơn vị sinh hoạt thì đã phân chia, và nước Bỉ còn bị cái họa phân chia nữa. Hải đảo Anh cát lợi đã luôn luôn rạn nứt với phong trào phân chia rất mạnh còn là điều hiển nhiên. Hợp chúng quốc có nội chiến của nó và Nam Bắc tiếp tục đố kỵ. Sử gia Arnold Toynbee viết : “Điều mà làm cho ta mất uy tín và yếu đi ngày nay là chiến tranh huynh đệ tàn ác trong lòng xã hội Âu tây từ 1914… Người Âu tây chúng ta đã chiến tranh với chúng ta hết sức dã man, phá hoại và mất uy tín cũng như chiến tranh tôn giáo trước kia vậy. “Lịch sử Âu tây từ thời Trung cổ đến nay là một chuyện dài về sự bất lực để khích khởi đức tính trung thành bảo hợp đủ mạnh mẽ ngõ hầu vượt được đầu óc địa phương”.
            2- Tôn giáo Âu tây, san sẻ cái tinh thần văn hóa trọng về Thiên nhiên thì cũng san sẻ sự bất lực của nó về xã hội vậy. Cuộc đàn áp đại qui mô duy nhất về tôn giáo đã xẩy ra ở Tây phương – Do thái giáo, Cơ đốc giáo, Hồi giáo. Kể từ thời Trung cổ, Cơ đốc giáo đã tự phân chia. Lại dẫn lời Toynbee thì “Suốt 400 năm và hơn nữa, từ khi nổi lên cuộc tranh chấp giữa giáo hội với vua Frederick II ở thế kỷ (XIII) cho tới hết cuộc chiến tranh tôn giáo giữa Gia tô và Tin lành ở Âu tây thế kỷ XVII, nhà thờ Cơ đốc ở thế giới Tây phương đã là sức mạnh không phải của nhân từ, hòa bình và đoàn kết mà là của bạo động, chiến tranh và chia rẽ… Trước khi thế kỷ thứ XVII chấm hết, thì những mối hận thù tranh dành và độc ác mà phái Thần học trừ ác (Odium theologicum) Cơ đốc giáo bắt Âu tây chịu đựng, thì đã thành một ô nhục đe dọa văn minh Tây phương”.
            3- Tây phương đã quan niệm vấn đề quan hệ văn hóa hỗ tương về phương diện vật lý hơn là về nhân văn. Hết thời ấy đến thời khác, các dân tộc Tây phương hình như chỉ tỏ có một thái độ đối xử với các dân tộc xa lạ là thái độ chiến tranh và

* Trang 43 *
device

thống trị, cái ý niệm Đức của Đông phương, sự đắc thắng tối cao không do thế lức vật chất quyết định mà do uy tín tinh thần và văn hóa hình như công nhiên thiếu hẳn.
            4- Ngẫu nhiên (có người bảo là tất nhiên) xuất hiện ở Âu châu một thuyết lý xã hội nó đẩy chủ nghĩa Tây phương đến điểm cực đoan hợp lý của nó. Đi đôi với khuynh hướng Tây phương muốn thu tâm lý học về sinh lý học, Mã khắc Tư thu xã hội học vào kinh tế học. Chung cục là không có vấn đề xã hội nữa một khi vấn đề vật chất được giải quyết, vấn đề xã hội sẽ tự nó giải quyết lấy nó.
            Chúng tôi đã trình bày mỗi một trong ba đại truyền thống văn hóa thế giới đã thành tựu được kết quả đáng kể về một vấn đề cơ bản của con người. Nhưng nó đã đưa con người đến miệng vực trụy vong vì không đủ để ý đến hai vấn đề cơ bản kia. Kết luận hiển nhiên là một văn hóa thích hợp chính đáng bắt buộc phải gây cả ba tiếng của điệu nhạc tấu. Trong sự phát triển bản nhạc hòa tấu ấy của một văn hóa thế giới chính đáng, ba truyền thống bình đẳng đi đều với nhau. Mỗi truyền thống có cái gì trọng yếu để cống hiến và cái gì để học hỏi vậy.*

NGUYỄN ĐĂNG THỤC
_______________________
            * Thuật theo Huston Smith Accents of the world’s Philosophies” đăng trong Philosohy East and West. April. July 1957. (University of Hawai Press)

* Trang 44 *
device

 
Tư Tưởng Số 1 (Năm 1972)