LOGO VNBET
SINH HOẠT VĂN HÓA
                      CHƠN HẠNH                      
 
LE TRIDHARMAKASÀSTRA, E1tude philologique et doctrinale. Luận án Tiến sĩ của Thượng Tọa THÍCH THIỆN CHÂU, Paris 1970-71, 340 trang
 
Luận án gồm năm phần và phần kết luận, nghiên cứu về tác phẩm Tam pháp độ luận (Tridhar-makasàstra), một bộ luận được trước tác có lẽ vào khoảng 3 thế kỷ trước Tây lịch. Trong phần thứ I (63 trang) tác giả khảo sát những vấn đề có tính cách lịch sử liên quan đến bộ luận để làm bối cảnh dẫn đến sự phân tích chi tiết toàn thể bộ luận ở phần II : nhan đề và bố cục bộ luận, tác giả, người chú giải và các dịch giả, niên đại xuất hiện của nguyên bản và của bản chú giải, ngôn ngữ sử dụng (đối chiếu với Kumàrabodhi và Huyền Trang), học thuyết đặc sáng được trình bày trong bộ luận (thuyết về Bổ đặc già la, Pudgala) và trường phái nguyên ủy của bộ luận – trường phái Vàtsìputrìya.
(Độc tử bộ).

* Trang 101 *
device

Phần thứ II (63 trg) đưa thẳng vào việc phân tích chi tiết dựa theo bố cục của chính bộ luận: phân tích về đức (guna), bất thiện (akusala), giới (dhàtu) và xứ ( àyatana) tạo thành đức và bất thiện.
            Phần thứ III (67 trg) trình bày 13 chủ đề chính trong Tam pháp độ luận : I) Giới (sìla ) là hành vi của thân và của ngữ; công đức (punya) vẫn tiếp tục tăng trưởng mãi, ngay cả trong giấc ngủ. 2) Cận xứ định (upa-càrasamàdhi) bao gồm 3 giai đoạn: nhẫn (ksànti), danh (nàma) và tưởng (samjnà); thắng giải (abhi-samaya) thì có tính cách tiệm tiến. 3) Có năm pháp có thể biết được, thì ba pháp đầu là những pháp hữu vi (samskrta), riêng pudgala và Nirvàna là những pháp vô vi, tuyệt đối. 4) Có 12 tâm trong kiến đạo (darsanamarga). 5) Không thể bảo rằng Pudgala và Nirvàna là khác biệt hay đồng nhất với các tướng (laksama). 6) Năm thần thông là điều mà phàm phu có thể có được. 7) Trong dục giới và sắc giới, có một hiện hữu trung gian (antarabhava), còn trong vô sắc giới thì không. 8) La hán là bậc có thể bị sa đọa trở lại. 9) Pudgala là pháp bất khả ngôn, vừa khác biệt vừa đồng nhất với thọ (upàdàna), uẩn (skandha), giới (dhàtu) và xứ (àyatana). 10) Chỉ có một chân lý duy nhất là Niết bàn. 11) Huệ (jnàna) còn được gọi là Đạo (màrga), con đường. 12) Chỉ có ngũ đạo thay vì lục đạo trong luân hồi. 13) Có một định xứ trung gian (dhyànàntara, trung gian thiền) giữa định xứ thứ nhất (sơ thiền) và thứ nhì(nhị thiền).
            Ngoài những điểm chung có thể tìm thấy ở các bộ luận khác, tập Tridharmakasàstra (TDS) còn có những yếu thuyết riêng biệt mà ta không tìm thấy ở các tác phẩm của những người thuộc bộ phái Sarvàstivàda( Nhất thiết hữu bộ), Theravàda (Thượng tọa bộ Nam phương), hay cả trong tập luận
Sàmìtìyanikàyasàstra; đó là điểm được trình bày trong phần thứ IV của tác phẩm (23trg).
            Phần thứ năm, 33 trang, khỏa sát hai bản văn tương tự với bộ
 

* Trang 102 *
device

 luận: luận Seu-a-han-mou-tch’aokiai (Tứ a hàm mô khẩu giải) SATK và luận Sàmmitìya ni-k àyasàstra SNS để cho ta thấy bộ luận trước chứa đựng 15 chủ đề đặc biệt ta đã gặp trong Tridharmakasàstra, và bộ luận sau biện minh cho hai chủ đề; sự hiện hữu của pudgala và hiện hữu trung gian (antaràbhava).
            Phần kết luận dùng để xác định vị trí của bộ luận trong văn học Phật giáo: “ sự phất minh ra thuyết về Pudgala quả thực đã tạo nên một cuộc cách mạng về học thuyết trong Phật giáo”, và nhân sự khảo sát bộ luận, đạt đến hai kết quả sơ khởi: luận SATK cũng là một bộ luận hậu-kinh điển, của trường phái Vàt-sìputrìya, nguyên thủy cũng sử dụng cùng một văn bản như luận TDS; luận SNS là một bộ luận của trường phái Sàmmitìya chánh lượng bộ với kiến trúc luận lý chặt chẽ cùng với những chứng lý phong phú và thuyết phục hơn.
            Sử dụng cùng một lúc các nguồn văn liệu: Đại Tạng Kin, các văn bản Sanskrit, Pali và Trung Hoa, cùng các nghiên cứu của các học giả Tây phương hiện đại, tác phẩm của T.T Thích Thiện Châu là một đóng góp đáng kể vào công trình nghiên cứu Phật học trên thế giới. Nó mở đầu cho việc khảo sát sâu sắc và quan trọng hơn về học thuyết của những người chủ trương sự hiện hữu của pudgala, vẫn được các bộ phái khác xem là một chủ trương tà đạo giữa lòng Phật giáo, và đặc biệt là về trường phái Và tsìputrìya (Độc tử bộ) mà tư liệu nghiên cứu mãi cho đến giờ vẫn còn quá hiếm hoi.

* Trang 103 *
device


A CRITICAL STUDY OF THE LIFE AND WORKS OF SÀRIPUTTA THERA, Luận án Tiến sĩ của T.T THÍCH HUYỀN VI, Đại học Magadha Ấn Độ.
Ban Tu Thư Đại học Vạn Hạnh xuất bản, 1972.
320 trang. 1000$
Tôn giả Xá Lợi Phất là người được đức Phật trọng vọng nhất trong hàng đệ tử, được Phật xem là người sẽ chuyển bánh xe chánh pháp sau Ngài, và vẫn thường được viện dẫn làm gương mẫu tinh thần cho hàng giáo chúng vì mức độ thành tựu tâm linh của người. Tác phẩm “Luận giải về cuộc đời và tác phẩm của Trưởng lão Xá Lợi Phất” của T.T. Thích Huyền Vi là công trình có hệ thống đầu tiên trên một quy mô rộng lớn, nhằm sắp xếp lại tất cả những tài liệu rải rác về Xá Lợi Phất trong các kinh điển và luận giải.
            Tác phẩm trình bày cho ta đời sống Xá Lợi Phất từ khi mới sinh cho đến khi thị tịch, cuộc tiến hóa tâm linh cùng những thành đạt đạo quả, những tác phẩm và những bài thuyết giáo, bao quát trong bốn chương chính.
            62 trang của chương đầu vạch lại tỉ mỉ đời sống của Xá Lợi Phất qua những nguồn tài liệu phong phú của kinh điển Pàli, từ cha, mẹ, an hem của tôn giả, đến nền giáo dục theo truyền thống Bà la môn, cơn khủng hoảng tâm linh khiến cho Xá Lợi Phất bỏ nhà xuất gia, chứng quả, sứ mạng giáo hóa sau khi chứng quả cho đến khi Niết bàn.
            Chương II mô tả trí huệ của Xá Lợi Phất, sự nhiệt tâm quy kính của ngài đối với đức Phật, vị trí cao cả và riêng biệt của ngài trong giáo hội tăng già, liên lạc tinh thần với những bạn thân như các ngài Mục Kiền Liên (Moggal-làna), A Nan (Ànanda), v.v…, ảnh hưởng của ngà
đối với những người trong gia đình làm cho
 

* Trang 104 *
device

 những người nầy phát tâm theo đạo Phật, và sau cùng là các môn đệ nổi tiếng trong vô số môn đệ của ngài như Pandita, Ma hàgavac-cha, Ràdha, Losaka, vân vân.
            Chương III rời lãnh vực lịch sử thuần túy để vẽ lại cuộc tiến hóa tâm linh của Xá Lợi Phất, dựa vào sự phân biệt ra các con đường giác ngộ: sammàsambodhi (chánh giác, tam miệu tam bồ đề) Paccekabodhi (độc giác giác) và sàvakabodhi (thang văn giác), kết thúc bằng những trang ghi lại những truyền thuyết về sự chứng đạo của Xá Lợi Phất rút trong bản sanh truyện (Jàtaka).
            Phần cuối, chương IV, liệt kê các tác phẩm cùng các bài thuyết pháp của Xá Lợi Phất. Theo truyền thống văn học Nam tông, các tác phẩm của Xá Lợi Phất được xếp vào ba loại chính: Abhidhamma ( A tỳ đàm), Patisam-bhidàmagga và Niddesa, và sau cùng là các bài thuyết pháp trong Dìgha-Nikàya (Trung Bộ kinh) : 9 bài; Samyutta-Nikàya (Tương Ưng Bộ kinh) : 42 bài; Anguttara-Nikàya (Tăng Nhất Bộ kinh) : 31 bài. Phân đoạn chót của chương IV dùng để phân loại tất cả những kinh trên dựa theo các chủ điểm: thuyết minh về Niết Bàn, về đức Phật, về Tứ Diệu Đế và Duyên Sinh, về Thánh Đạo, về đời sống thanh tịnh ly dục và giới luật…
            Tác phẩm kết thúc bằng 45 trang phụ lục rút từ văn liệu Pàli và Trung hoa, một bảng chỉ dẫn các dụng ngữ Trung hoa.
            Kiến thức vững chải về Pàli và Hán ngữ (tác giả là giảng viên về Hán học tại đại học Nàlandà) khiến cho tác phẩm đáp ứng được những yêu cầu nghiên cứu đứng đắn, và trong hiện tình Phật giáo nước nhà, nói như trong lời tựa của T.T Thích Minh Châu, tác phẩm sẽ đóng vai trò như một kích tố mở rộng tầm mắt cho những người học Phật thiển cận đang tự mãn với con đường khép kín của mình.

* Trang 105 *
device

BUDDHISM AND POLITICS IN SOUTHEAST ASIA, Luận án Tiến sĩ của Đại Đức THÍCH GIÁC ĐỨC. Claremont, 1969. 475 trang.
Với cuộc chiến tranh Việt nam, vùng Đông Nam Á biến thành một đề tài hấp dẫn cho học giả các ngành khai thác : về chính trị, xã hội, kinh tế, bang giao quốc tế… Nhưng có một yếu tố mà người ta vẫn bỏ qua và nhờ cuộc đấu tranh của Phật giáo năm 1963, người ta mới thấy là có một tầm ảnh hưởng quan trọng nổi bật: yếu tố tôn giáo, ở đây là Phật giáo, - tôn giáo hiện có số tín đồ đông đảo nhất trong các nước miền này. Tác phẩm của Đ.Đ Thích Giác Đức nhằm phân tích mối tương quan giữa Phật giáo và chính trị miền Đông Nam Á dựa vào những lời giáo huấn của đức Phật về xã hội và chính trị, là cố gắng bù đắp cho sự thiếu sót nói trên.
            Tác phẩm phân thành bảy chương chính, trong đó tác giả dùng gần 1/3 số trang toàn thể (140 trang) để trình bày những vấn đề lý thuyết, và số trang còn lại, đề cập đến đề tài thực sự. Tính cách thiếu quân bình ấy của tác phẩm có lẽ do ở chổ đối tượng độc giả là người Tây phương, chưa quen thuộc lắm với Phật giáo. Điều này dễ nhận thấy ngay, vì chương đầu “Tiền ngôn cho công việc nghiên cứu tư tưởng xã hội và chính trị Phật giáo”, được dùng để đánh tan những ngộ nhận về Niết bàn, Giới luật, trước khi nêu ra vài quan niệm cơ bản của Phật giáo, chân lý vô ngã và nền đạo đức xã hội của Phật giáo, để bác bỏ luận cứ của phần lớn những người Ky tô giáo cho rằng Phật giáo không thể có được một nền đạo đức xã hội vì đã phủ nhận linh hồn cá nhân.
            Chương II và III nối tiếp công việc giải minh tư tưởng chính trị xã hội của Phật giáo một cách có hệ thống hơn, căn cứ theo kinh điển Nam Tông và lý tưởng Bồ tát (Bodhi-sattva) của Bắc Tông, cùng những
 

* Trang 106 *
device

thạch trụ của A Dục Vương (Asoka)… Sau khi đưa ra những nền tảng của tư tưởng xã hội và chính trị Phật giáo, tác giả đề cập đến lý tưởng Bồ tát khiến cho người Phật tử không thể thụ động ngồi nhìn khổ đau của kẻ khác, mở ra con đường nhập thế và ý niệm về tự do hay giải thoát theo Phật giáo. Tiếp đến, là một vấn đề gai góc đã được Phật giáo phát biểu lập trường ngay từ khởi thủy: vấn đề bình đẳng xã hội. Tới đây ta thấy rõ nền đạo đức xã hội của Phật giáo là một hư ngôn. Thực tại ấy được thể hiện rất cụ thể trong lời giáo huấn của đức Phật về vương quyền, về lý tưởng dân chủ và trong những công trình cai trị của các ông vua Phật tử mà A Dục Vương là ngôi sao sáng chói.
            Chương IV có thể coi như chương chuyển tiếp, bàn về vai trò xã hội và chính trị của Phật giáo trong các quốc gia Đông Nam Á cổ truyền. Vai trò ấy được nhìn thấy trong ảnh hưởng của Phật giáo đối với vương quyền và trong mối tương quan giữa đoàn thể Tăng già và Nhà nước.
            Chương V là chương thích thú nhất và là linh hồn của tác phẩm, nhưng tiếc thay lại quá ngắn so với phạm vi rộng lớn của tiêu đề, bàn đến “Phật giáo, những nhà truyền giáo Ky tô và chánh sách thực của Âu Châu” trong các nước Tích Lan, Miến điện, Việt nam, Thái lan. Mỗi quốc gia chỉ chiếm chừng trên dưới hai mươi trang cho một dòng lịch sử có khi trãi dài trên năm thế kỷ đầy dao động.
            Chương VI trình bày vị thế Phật giáo và Chính trị trong thế kỷ XX, tương quan giữa Phật giáo và chủ nghĩa quốc gia, Phật giáo và Nhà nước, tác giả nhấn mạnh đến những đóng góp to lớn và những hy sinh gian khổ của Phật giáo trong công trình giả phóng dân tộc tại các quốc gia Đông Nam Á, những biến cố chính trị ôn hòa hay đẫm máu liên quan đến dòng sinh mệnh của Phật giáo vùng này.

* Trang 107 *
device

Chương VII, tác giả đề cập đến một vấn đề rất hiện đại : Phật giáo và chủ nghĩa Cộng sản. Những điểm tương đồng giữa Phật giáo với chủ nghĩa Cộng sản: phủ nhận một Thượng đế ngã vị, khát vọng bình đẳng xã hội, đã được sự gần gũi nhau trong thời chống đối thực dân dành độc lập làm cho khắn khít thêm, nhưng vẫn không che lấp được hết những dị biệt sâu sắc về nhân sinh quan và vũ trụ quan về mục tiêu tối hậu mà hai bên nhắm đến, và ta có thể tóm tắt như sau: Marx bảo rằng “thay đổi cơ cấu xã hội đi, thì anh sẽ thay đổi được con người”, trong khi đức Phật dạy: “hãy tự thay đổi chính mình đi, và anh sẽ giúp thay đổi cả xã hội”. Sự va chạm giữa Phật giáo và chủ nghĩa Cộng sản tại các quốc gia Đông Nam Á vẫn còn kéo dài, và những sự ngược đãi mà Phật giáo phải chịu đựng dưới chế độ thực dân đế quốc lẫn Cộng sản chỉ làm vững thêm lòng tin vào sức sống bền bĩ của tôn giáo có đời sống hết sức uyển chuyển này.
CHƠN HẠNH

 
Đã phát hành:
TRÁI TIM VIỆT NAM
Tuyển tập thơ nhạc của
PHẠM THẾ MỸ

* Trang 108 *
device

 
Tư Tưởng Số 1 (Năm 1972)