LOGO VNBET
Để Đóng Góp Vài Nhận Định Đối Chiếu Sơ Thảo
GIÁO DỤC TẠI CHÂU Á :
HAI THẬP NIÊN TĂNG TRƯỞNG
SĨ SỐ (1950-1970)
  • VŨ ĐỨC BẰNG
 
Sau Thế Chiến II, các quốc gia Châu Á, cách riêng những quốc gia vừa thâu hồi được độc lập, đã tiến những bước khổng lồ về dung lượng giáo dục. Điều này rất dễ thấy nếu chúng ta chịu khó quan sát    sĩ số ghi danh tại các trường trong vùng.
Xét chung 18 quốc gia Châu  Á hội viên kế hoạch Karachi 1, sĩ số các cấp từ 49 triệu 9 (1950) đã tăng lên 154 triệu 7 (1969), nghĩa là gia tăng hơn gấp ba. So với dân số tổng quát, sĩ số các cấp từ tỉ lệ 7,5% (1950) đã lên tới 14,8% (1969). So với dân số ở lứa tuổi từ 5 đến 24, sĩ số các cấp từ 16,8% (1950) tăng lên 33,2% (1969). Đối chiếu tỉ lệ tăng trưởng sĩ số với tỉ lệ tăng trưởng dân số, chúng ta thấy sự tăng trưởng vượt bực về sĩ số như sau (xem  Bảng 1).
Bảng I
Tăng Trưởng Dân Số và Tăng Trưởng Sĩ Số Đối Chiếu
(Tỉ lệ bác phân tăng trưởng hàng năm)
THỜI GIAN
DÂN SỐ LỨA TUỔI 5-24
SĨ SỐ CÁC CẤP
1950-55
1955-60
1960-65
1965-69
1,8%
2,3
3,1
2,9
5,4%
6,8
7,2
4,9
 
 

* Trang 167 *
device

Xuất Xứ : Unesco, Progress of Education in the Asian Reqion : Statistical Supplement (Bangkok, 1972), tr. 19, 20, và Unesco, Progrès de l’éducation en Asie ; Étude statistique (Bangkok, 1969), tr. 10.
Nếu lấy sĩ số các cấp năm 1950 làm chỉ số 100, chỉ số trong vùng năm 1955 lên tới 130, năm 1960 lên 179, năm 1965 lên 253 và năm 1967 lên 280. Đối chiếu những con số này với chỉ số tăng trưởng song song của dân số ở lứa tuổi từ 5 tới 24, chúng ta có tỉ lệ sĩ số so với dân số như sau (xem Bảng II).
Bảng II
Tăng Trưởng Dân Số và Tăng Trưởng Sĩ Số Đối Chiếu
(Chỉ số 1950 = 100)
NĂM
DÂN SỐ LỨA TUỔI
5-24 (A)
SĨ SỐ CÁC CẤP
(B)
TĨ LỆ B / A
1950
1955
1960
1965
1967
100
109
123
143
152
100
130
179
253
280
1,00
1,19
1,46
1,77
1,84
 
Xuất Xứ : Unesco, Progrès... (1969), tr. 10.
Như vậy, sĩ số các cấp đã tăng gần gấp ba trong khi dân số chưa tăng gấp đôi. Nhịp độ tăng trưởng dân số trung bình hàng năm tuy có gia tăng (2,3% cho thập niên 1950-60; 2,6% cho 1960-70), song vẫn thấp thua nhịp độ tăng trưởng trung bình hàng năm của sĩ số các cấp (5% cho cả hai thập niên).
Xét riêng từng cấp, học sinh bậc tiểu học đã tăng từ 41 triệu 6 (1950) lên 115 triệu 6 (1969), nghĩa là gần gấp ba trong khoảng hai thập niên. So với dân số tổng quát, sĩ số ở bậc này như vậy chiếm từ 6,3% (1950) lên 10,3% (1965). Tỉ lệ tăng trưởng

* Trang 168 *
device

trung bình hàng năm của sĩ số thời gian 1950-55 tăng 4,8%, 1955-60 tăng 6,3%, 1960-65 tăng 6,7%, và 1965-69 tăng 4,0%.
Ở bậc trung học, con số học sinh từ 7 triệu 6 (1950) đã nhảy vọt lên 34 triệu 1 (1969), nghĩa là gia tăng hơn bốn lần trong khoảng hai thập niên. Tính trung bình hàng năm thời gian 1950- 55 tăng 7,8%, 1955-60 tăng 8,6%, 1960-65 tăng 8,8%, 1965-69 tăng 7,6%.
Ở bậc đại học, sĩ số từ 716 ngàn (1950) đã nhảy vọt lên 4 triệu 9 (1969), nghĩa là gia tăng ngót 7 lần trong khoảng hai thập niên. Tính trung bình hàng năm thời gian 1950-55 tăng 10,4%, 1955-60 tăng 9,5%, 1960-65 tăng 11, 4%, 1965-69 tăng 11, 4%. Như vậy bậc đại học có mức tăng trưởng liên tục cao hơn cả.
Xét riêng thành phần nữ giới, sự tăng trưởng cũng rất rõ rệt. Ở bậc tiểu học, tỉ lệ nữ so với nam từ 32 % (1950) đã tăng lên 41% (1969). Ở bậc trung học, thành phần nữ giới tăng mạnh hơn, từ 19% (1950) lên 32% (1969). Ở bậc đại học, thành phần nữ sinh còn gia tăng mạnh mẽ hơn nữa, từ 15% (1950) lên 29% (1969).
Xét theo quốc gia, người ta nhận thấy một sự tăng trưởng nhảy vọt về sĩ số các cấp, cách riêng tại các quốc gia vừa thâu hồi được độc lập. Tính đến năm 1969, có sáu quốc gia đã đạt hoặc vượt qua chỉ tiêu 100 phần trăm cho sĩ số lứa tuổi bậc tiểu học. Đó là, kể theo thứ tự thời gian, Nhật Bản (khoảng 1918) Tân Gia Ba (I960), Đài Loan (1960), Phi Luật Tân (1963) Đại Hàn (1965), Mông cổ (1968). Mặt khác, hãy còn ba quốc gia chưa đạt tớiphân nửa chỉ tiêu đó : Lào 47% (1969), Nepal 31% (1969) và A Phú Hãn chỉ có 22% (1970). Trừ một số quốc gia khởi sự với tỉ lệ đã khá cao (Phi Luật Tân, Tích Lan), các quốc gia vừa thâu hồi được độc lập đều ghi nhận những tăng trưởng nhảy vọt trong thời gian hai thập niên vừa qua. Lại nữa, những quốc gia khởi sự với tĩ lệ thấp nhất lại có mức tăng trưởng đối chiếu cao nhất : A Phú Hãn từ 5% (1950), lên 22% (1970) ; Nepal từ 6% (1954) lên 31 % (1969), Lào tư 12% (1950) lên 47% (1969), Miến

* Trang 169 *
device

Điện từ 22% (1950) lên 94% (1969), Cam Pu Chia từ 30% (1950) lên 90% (1968), Việt Nam Cộng Hòa từ 35% (1955) lên 88% (1970).2
Ở bậc trung học, có tám quốc gia đã đạt hoặc vượt chỉ tiêu lí tưởng 30 phần trăm dân số lứa tuổi đi học được đề ra cho Châu Á trong Mô Thức Sơ Thảo. 3 Các quốc gia này là Tích Lan 31% (1969), Tây Mã4 33% (1970), Đại Hàn 41% (1970) Phi Luật Tân 42% (1967), Tân Gia Ba 45% (1970), Mông cổ 51% (1969), Đài Loan 53% (1970), và cao hơn cả, Nhật Bản 90% (1970). Mặt khác, hãy còn sáu quốc gia chưa đạt tới 15 phần trăm sĩ số cho lứa tuổi trung học : Hồi Quốc 13% (1967), Nam Dương 12% (1969), Cam Pu Chia 11% (1968), Nepal 8% (1969), A Phú Hãn 5% (1970), và thấp nhất, Lào 3% (1969). Xét chung, hầu hết các quốc gia đã đạt được một tỉ lệ tăng trưởng tối thiểu gấp đôi tỉ lệ đạt được năm 1950, trừ những quốc gia khởi sự với tỉ lệ đã khá cao (Nhật, Phi Luật Tân). Cũng như đã ghi nhận ở bậc tiểu học, những quốc gia khởi sự với những tỉ lệ thấp nhất thường lại có mức tăng trưởng đối chiếu cao nhất : Lào từ 0,2% (1950), nhảy vọt lên 3% (1969), A Phú Hãn từ 0,4% (1951) lên 5% (1970), Cam Pu Chia từ 0,5% (1950) lên 11% (1968), Việt Nam Cộng Hòa từ 3% (1955), lên 25% (1970).
Ở bạc đại học, chỉ còn hai quốc gia sĩ số chưa lên tới 100 sinh viên cho mỗi 100 ngàn dân. Đó là Lào, 18 sinh viên (1969) và A Phú Hãn 44 (1970). Tuy nhiên, cũng chỉ mới có ba quốc gia đạt tới con số trên 1000 sinh viên cho mỗi 100 ngàn dân : Đài Loan 1450 (1970), Nhật Bản 1656 (1970) và cao hơn cả, Phi Luật Tân 1737 (1968). Cũng như đã ghi nhận ở hai bậc tiểu và trung học, những quốc gia khởi sự cuộc chạy đua giáo dục với tỉ lệ thấp nhất thường lại đạt được mức tăng trưởng đối chiếu cao nhất : A Phú Hãn từ 3 sinh viên cho mỗi 100 ngàn dân (1951) nhảy vọt lên 44 (1970), Tây Mã từ 5 (1950) lên 166 (1969), Nepal từ 11 (1954) lên 156 (1969), Miến Điện từ 18(1950) lên 169 (1969), Việt Nam Cộng Hòa từ 25 (1955) lên 267 (1969). Đặc biệt có ba quốc gia đã tăng trưởng nhảy vọt đến 15, 30

* Trang 170 *
device

lần trong khoảng chưa đầy hai thập niên : Cam Bu Chia từ 6 sinh viên cho mỗi 100 ngàn dân (1950) lên 165 (1968), Nam Dương từ 8 (1951) lên 187 (1969), Đài Loan từ 89 (1950) lên 1450 (1970). Cả ba xứ này đều là quốc gia cựu thuộc địa.
*
*          *
Có nhiều lí do cóthể giải thích sự tăng trưởng vĩ đại về dung lượng giáo dục ghi nhận ở trên.
Trước hết là yếu tố tăng trưởng dân số. Theo dự phóng gần đây của Phòng Dân Số Liên Hiệp Quốc, chỉ riêng 18 quốc gia Châu Á hội viên Kế Hoạch Karachi cũng sẽ có vào năm 1980 một dân số khoảng 1 tỉ 412 triệu, nghĩa là gần 1/3 dân số thế giới, gần ba lần dân số Châu Ẳu, hơn ba lần Châu Phi, gần bốn lần Châu Mĩ La Tinh, và vượt hẳn Bắc Mĩ tới gần năm lần rưỡi (xem Hình I). Lại nữa, tỉ lệ tăng trưởng dân số trung bình hàng năm từ 1950-1967 của Châu Á (2,5%) có phần trội hơn Châu Phi (2,4%), vượt xa Châu Âu (0,9%), Bắc Mĩ (l,4%) và chỉ thấp thua Châu Mĩ La Tinh (2,9%).Thêm vào đó, nếu ta chấp nhận tuổi thanh thiếu niên đi học là lứa tuổi từ 5 đến 24, lứatuổi này Châu Ávốn dĩ đã đông vào bậc nhất thế giới lại còn có chiều hướng gia tăng nhanh hơn các lục địa khác. Từ 44,4% của dân số tống quát vào năm 1950, lứa tuổi này được ước tính sẽ chiếm tới 45,7% vào năm 1980, nghĩa là cao hơn cả Châu Phi (45,4%), Châu Mĩ La Tinh (44,9%), Bắc Mĩ (35,9%) và Châu Âu (30,3%) 6. Dẫu vậy, so với sự tăng trưởng bùng nổ của dân số Châu - Á sau Thế Chiến II, sự gia tăng về sĩ số các cấp xét theo tỉ lộ còn tiến triển trên một kích trước đồ sộ hơn (xem Hình II).
Yếu tốthứ hai là sự du nhập văn hóavà khoa học. Hiện tượng này phát hiện rõ rệt hơn cả tại các xứ vừa thâu hồi được chủ quyền quốc gia. Như được ghi nhận ở trên, các quốc gia mới thâu hồi được độc lập thường có mức tăng trưởng đối chiếu về dung lượng giáo dục cao nhất. Có thể giải thích đây

* Trang 171 *
device


 
Hình I
TĂNG TRƯỞNG DÂN SỐ TẠI 5 LỤC ĐỊA (dự phóng)
Xuất xứ: Dữ liệu của Unesco, Progrès (1969), tr.3, 61.

* Trang 172 *
device


 
Hình II
TỈ LỆ TĂNG TRƯỞNG SĨ SỐ CÁC CẤP VÀ DÂN SỐ
LỨA TUỔI 5-24 (1950 = 100).
Xuất Xứ : Dữ kiện của Unesco, Progrès (1969), tr. 10.
 

* Trang 173 *
device

là sự bùng nổ tự nhiên của một hiện tượng dồn ép theo đó các quốc gia cựu thuộc địa lâu ngày bị chèn ép nay bổng được cơ hội phát triển theo í muốn. Trường hợpđiển hình là Nam Dương. Quốc gia này với một dân số 70 triệu con người vào năm 1940 chỉ có được 1.246 sinh viên. Nhưng chỉ hai thập niên sau, một phần vì nhu cầu cấp bách phải đào tạo giai cấp lãnh đạo cần thiết cho một quốc gia độc lập, con số sinh viên tại đây nhảy vọt lên 108 ngàn (1961), nghĩa là đã tăng hơn 85 lần. Dĩ nhiên, mức tăng trưởng bùng nổ này klhông giữ đưọc lâu. Trong khi sĩ số sinh viên Nam Dưong trong giai đoạn 1950-55 trung bình hằng năm gia tăng 33,2%, giai đoạn 1955-61 xuống còn 27% giai đoạn 1961-64 còn 19,4% và giai đoạn 1964-69 lại chỉ còn 3,7%. Nhưng lối giải thích bằng hiện tượng dồn ép, nếu đúng cho một số trường hợp, xét ra không đúng hẳn trong một số quốc gia cựu thuộc địa được mẫu quốc tương đối ưu đãi hơn trong phạm vi giáo dục, thí dụ Phi Luật Tân. Bởi đó, một lối giải thích khác nữa là Châu Á, nhờ có cơ hội tiếp xúc trực tiếp với Tây Phương (dẫu chỉ là một sự tiếp xúc một chiều chăng nữa), cũng đã học được ít nhiều những xảo thuật hoặc tinh hoa đã làm cho Tây Phương trở nên hùng mạnh, đặc biệt trên địa hạt văn hóa, khoa học và kĩ thuật.
Nhưng ảnh hướng hơn cả phải kể đến yếu tố được gọi là « sự bùng nổ những cao vọng đại chúng ». Các nhà xã hội học mô tả thế kỉ 20 là thế kỉ của những cao vọng đại chúng. Đây là hiện tượng đặc thù của xã hội con người thế kỉ 20 nói chung, thế kỉ của giáo dục đại chúng. Riêng với Châu Á, thời kì bùng nổ những cao vọng đại chúng chỉphát hiện sau Thế chiến II7. Thời kì này đã đến với người dân tại đây do kết quả tổng hợp của một số tiến bộ cách mạng trên địa hạt kinh tế, chỉnh trị và xã hội. Con người Châu Á thoát chốc đòi phá bỏ các ngăn cách do những định chế hàng dọc cổ truyền giam hãm họ theo một tôn ti trật tự khít khao tưởng không thể nào nứt rạn. Người dân đen Châu Á đòi được làm người với đầy đủ tư cách và quvền lợi như những người trước đây từng chễm chệ thống

* Trang 174 *
device

trị trên đau trên cổ họ. Trong số các nhân quyền đòi hỏi, quyền được giáo dục là một. Lại nữa, càng được giáo dục, con người tại đây càng thèm khát giáo dục. Bởi đó, để thỏa mãn nhu cầu bùng nổ của người dân xứ họ, các quốc gia Châu Á đã đua nhau bành trướng giáo dục lên tới dung lượng và kích thước hiện tại.
Lịch sử Châu Á dường như chưa bao giờ ghi nhận một sự bành trướng về dung lượng giáo dục có thể so sánh được với những thập niên sau 1950. Hầu hết các quốc gia tại đầy đang tiến tới tỉ lệ 100n/o sì số cho lứa tuổi tiễu học (xem Hình III). Nếu lấy năm 1965 làm chuan, số người đi học so với tổng số dân số Châu Á là 13,5%, nghĩa là còn thấp nhiều so với Bắc Mĩ (26,9%), Châu Âu (18,3%), Châu Mĩ La Tinh (17,3%) và chỉ hơn được Châu Phi (9,8%). Nếu lấy sĩ số so với lứa tuổi đi học (từ 5 đến 24) cũng vậy. Châu Á (30,6%) chỉ hơn đưọc Châu Phi (21,5%) và còn đứng khá xa sau Châu Mĩ La Tinh (39,3%)- Châu Âu (58%) và Bắc Mĩ (74,1%). Tuy nhiên, nếu xét theo sự phân phối sĩ số giữa ba cấp, Châu Á có phần quân bình hơn Châu Phi và Châu Mĩ La Tinh. Chẳng hạn, sĩ số học sinh trung học tại Châu Á chiếm 21%tổng số cả ba cấp trong khi sĩ số đó chỉ chiếm 12% tại Châu Phi và 16% tại Châu Mĩ La Tinh. Ở bậc đại học cũng vậy. Sinh viên chiếm 2,3%tổng số các cấp tại Châu Á trong khi cũng sĩ số đó chỉ chiếm 1,1% tại Châu Phi và 2,2% tại Châu Mĩ La Tinh. 8 Rõ ràng là một số quốc gia Châu Á như Nhật Bản, Đài Loan, Mông cổ, Phi Luật Tân, Tân Gia Ba, Đại Hàn đã hoặc đang đuổi kịp các quốc gia Âu Mĩ về sĩ số trung và đại học. Phần còn lại của Châu Á cũng không thua kém gì nhiều một số quốc gia chậm tiến hơn của Tây Phương hồi đầu thế kỉ (xem Hình IV và V).
Châu Á chưa bao giờ có nhiều người biết đọc biết viết hơn, chưa bao giờ có nhiều người đi học hơn, chưa bao giờ có nhiều trường ốc hơn, chưa bao giờ có được những giáo chức đào tạo đông đảo hơn, qui mô hơn, đầy đủ hơn. Quan trọng hơn nữa, người la còn nhận thấy trong quảng đại quần chúng có sự phân chia tương đối đồng đều hơn trong quá khứ vềcác cơ hội giáo

* Trang 175 *
device


Hình III
BÁCH PHÂN SĨ SỐ SO VỚI DÂNSỐ CÙNG LỨA TUỔI
BẬC TIỂU HỌC.
Xuất xứ: Dữ kiện phần chính rút trong Unesco, Progress... (1972) tr. 87-92; Unesco, Progrès... (1969) tr. 91-94 ; tập san Bulletin of the Unesco Regional Office for Education in Asia (Bangkok) và các tài liệu khác đã dẫn.

* Trang 176 *
device

Hình IV
BÁCH PHÂN SĨ SỐ SO VỚI DÂN SỐ CÙNG LỨA TUỔI
BẬC TRUNG HỌC
Xuất xứ: Xin xem Hình III.
 

* Trang 177 *
device


Hình V
SĨ SỐ TRUNG BÌNH CHO MỖI 100.000 DÂN – BẬC ĐẠI HỌC
Xuất xứ: Xin Xem Hình III.

* Trang 178 *
device

dục, thí dụ giữa trai và gái, giàu và nghèo, sang và hèn, già và trẻ, hoặc nữa giữa các địa phương, chủng tộc, và tôn giáo khác nhau. Hai thập niên đầu sau Thế Chiến II bởi đócó thể được gọi rất xác đáng là những thập niên giáo dục của một Châu Á đang trưởng thành.
Song nếu sự tăng trưởng về sĩ số tự nó là một ưu điểm, nó cũng bao hàm nhiều hệ quả đáng làm cho mọi người ưu tư. Tuy có tính cách một hiện tượng đại đồng cho bất cứ một hệ thống giáo dục nào trên thế giới, vấn đề đặc biệt trở thành nghiêm trọng trong những quốc gia bành trướng về dung lượng quá mau. Thiết tưởng chúng ta cóthể áp dụng cho Châu Á ba hệ quảchính đã được Philip H. Coombs. nguyên Giám Đốc Trung Tâm Thiết Kế Giáo Dục của cơ quan Unesco môtả như sau : tạo nên hố chênh lệch giữa cung và cầu giáo dục ; tạo nên hố chênh lệch giữa nhu cầu giáo dục và phưong tiện tài chánh ; và tạo nên hố chênh lệch giữa xuất lượng giáo dục cũng như công ăn việc làm cho xuất lượng đó9. Thật vậy, cácchênh lệch này đã tạo nên một sự đảo lộn quân bình trầm trọng cơ hồ dẫn tới một cuộc khủng hoảng giáo dục thực sự trên khắp Châu Á hiện nay.
Chỉ riêng trong lãnh vực thuần túy giáo dục, sự tăng trưởng bùng nổ về sĩ số cũng đã kéo theo một chuỗi những hệ quả nan giải như trường ốc quá ít, phòng học quá chật, giáo chức và sách giáo khoa quá thiếu, học trình và phương pháp sư phạm không mấy thích hợp cho một nền giáo dục mà khách hàng không còn là thiểu số ưu tú như xưa.
Lại nữa, nhìn chung lịch sử giáo dục tại Châu Á, hai thập niên tăng trưởng phi thường 1950-1970 có thể chỉ là biệt lệ. Như trường hợp tăng trưởng của sĩ số sinh viên Nam Dương ghi nhận ở đoạn trên cho ta thấy rõ rệt là hiện tượng bùng nổ sĩ số khổng tiếp tục được lâu. Người ta có lí mà lo sợ đến một thời kì nào đó nhịp độ tăng trưởng sĩ số sẽ bị nhịp độ tăng trưởng dân số qua mặt. Unesco đã có lần báo động rằng trong thập niên 1955-1965 sĩ số thanh thiếu niên đi trên thế giới đã tăng từ khoảng 270 triệu lên tới 400 triệu, nghĩa

* Trang 179 *
device

là khoảng 50% trong một thập niên. Tuy nhiên, cũng trong thời gian này, sự gia tăng về dân số thanh thiếu niên từ 5 tới 19 tuổi lại cao hơn. Kết quả là con số thanh thiếu niên thất học năm 1965 đông hơn thập niên trước đến 30 triệu 10. Châu Á trong cùng thập niên 1955-1965 còn ghi nhận một mức tăng trưởng kinh khủng hơn, từ 65 triệu (1955) lên gần 128 triệu (1965) nghĩa là gần 100% cho một thập niên ! Tuy nhiên, cũng như trường hợp chung cho cả thế giỏi, năm 1965 xét về con số tuyệt đối Châu Á có số người thất học cao hơn thập niên trước đến 30 triệu rưỡi.11
Dầu sao đi nữa, hai thập niên tăng trưởng sĩ số (1950-1970) tại Châu Á cũng đem đến cho bất cứ ai cố gắng quan sát một cách vô tư một viễn tượng vừa tuyệt diệu, vừa kinh hoàng : tuyệt diệu vì í nghĩa lịch sử cùng kích thước dồ sộ của những con số, kinh hoàng vì các bài toán nan giải mà những con số vĩ đại đó sẽ đặt ra cho tương lai Châu Á.
 
VŨ ĐỨC BẰNG
CHÚ THÍCH
 
1. Gồm có A Phú Hãn, Ấn Độ, Ba Tư, Cam Bu Chia, Đại Hàn, Đài Loan, Hồi Quốc, Lào, Mã Lai, Miến Điện, Mông Cổ, Nam Dương, Nepal, Phi Luật Tân, Tân Gia Ba, Thái Lan, Tích Lan, và Việt Nam Cộng Hòa.
Xin được nhắc lại ở đây lòng tri ân của tác giả đối với Unesco về việc cho phép xử dụng các dữ kiện của cơ quan. Lẽ dĩ nhiên, những lầm lẫn về suy diễn cũng như về định kiến là trách nhiệm riêng của người viết.
2. Có sự bất đồng quan trọng về trường hợp Việt Nam Cộng Hòa (từ đây sẽ viết tắt VNCH). Tài liệu thống kê gần đây của Unesco, Progress (1972) tr,92 ghi nhận rằngVNCH năm 1969 đã đạt tới 101% lứa tuổi 6-10 theo học bậc tiều học. Trong khi đó, kế hoạch phát triển 1972-75 của VNCH trù liệu sẽ chỉ đạt được 100% vào năm 1975, và trước đó, cái gọi là kế hoạch hậu chiến 1969 còn trù liệu VNCH chỉ dạt được 94% sĩ số tiểu học vào năm cuối cùng của kế hoạch, tức là 1978. Đáng ngạc nhiên hơn nữa, một tài liệu được Nha Nghiên Cứu và Kế Hoạch, Bộ Giáo Dục VNCH đăng tải trong nguyệt san Giáo Dục số 33 (năm IV, tháng 11,1969, tr 51-57) lại khẳng định rằng VNCH « phải mất một

* Trang 180 *
device

thời gian độ 30 năm nữa tức là khoảng năm 1998 mới có thể đạt đến mục đích của chế độ giáo dục cưỡng bách tiểu học : 100% học sinh trong hạn tuổi đều được đi học. »(Phần chữ cho in nghiêng là sáng kiến của kẻ viết bài này).
Ở đây,về trường hợp VNCH, chúng tôi sẽ căn cứ vào dữ kiện trong bản tường trình của Bộ Giáo Dục VNCH, Rapport sur le développement de l'éducation au Việt Nam pendant la décennie 1960-1970 : Troisième Conférence régionale des Ministres de 1‘éducatiou et des Ministres responsables de la Planification économique en Asie (juin 1971) mà chúng tôi cho là gần sự thực hơn.
3) Unesco, Perspectives of Educational Development in Asia : A Draft Asian Model (Paris, 1965) tr. 41.
4) Tây Mã là Mã Lai trừ Sabah và Sarawak.
5) Dĩ nhiên, ở dây cũng như đoạn đề cập tới thành quả bậc trung học ở trên, chúng ta đừng quên yếu tố thời gian dài ngắn của từng hệ thống. Một sinh viên Phi (không kể thời gian mẫu giáo) thường chỉ mất có 10 năm để bước lên đại học trong khi các sinh viên Nhật và Đài Loan cần tới tối thiểu 12 năm.
6) Xem Progrès... (1969) tr. 3.
7) Trưòng hợp Nhật Bản phải được coi là một biệt lệ. Xin xem cùng tác giả, « Giáo dục tại Châu Á » Tư Tưởng năm thứ VI, số 4 (tháng 6, 1973) tr. 31-48.
8) Xem Progrès... (1969) tr. 11, 14.
9) P. H. Coombs, « The Need for a New strategy of Educational Development » Comparative Education Review XIV-1 (tháng hai 1970) tr. 75-. 89 ; và cùng tác giả, The World Educational Crisis (London, 1968), 241 tr
10) Xem Sloan.R. Way land, Issues and Problems in Introducing Population Education (Unesco, Bangkok, 1972) bản in lại ronéo, tr. 2.
11) Những con số này được tính từ dữ kiện sống rút trong Unesco, Progress... (1972) tr. 19, 20. Có sự chênh lệch quan trọng giữa số thất học trên thế giới và tại Châu Á là vì lứa tuổi thanh thiếu niên đi học được định nghĩa khác nhau. Lứa tuổi này trong trường hợp Châu Á là từ 5 đến 24, trường hợp thế giới là 5 đến 19 như được ghi nhận ở trên.

* Trang 181 *
device

 
NHÀ XUẤT BẢN TÂN AN
 
đã phát hành :
MARTIN HEIDEGGER
THƯ VỀ
NHÂN BẢN CHỦ NGHĨA
(ueber den humanismus)
Bản dịch và Khai lộ: Trần Xuân Kiêm
 
«… Tư tưởng sẽ đi xuống trong sự nghèo hèn của thể tính tạm thời của Tư Tưởng. Tư Tưởng sẽ kết tập Ngôn Ngữ lại để nói lên cái Lời đơn giản. Như thế, Ngôn Ngữ sẽ là Ngôn Ngữ của Tính Thể, cũng như những đám mây phiêu lãng là những đám mây phiêu lãng của bầu trời. Do Lời của nó, Tư Tưởng sẽ vạch ra trong Ngôn Ngữ những luống cày vô ngấn tích, những luống cày còn mờ nhạt dấu tích hơn là những luống cày mà người nông dân kia đào xới khi chậm rãi băng qua cánh đồng. »
 
sẽ phát hành :
BÙI GIÁNG
TƯ TƯỞNG HIỆN ĐẠI
Cuộc giảng giải lưu lãng đặc biệt về tư tưởng Heidegger, K. Jaspers, Soeren Kierkegaard, A. Malraux…

* Trang 182 *
device

 
Tư Tưởng Số 1 (Năm 1974)