LOGO VNBET
TỪ KẺ SĨ THỜI XƯA
ĐẾN TRÍ THỨC NGÀY NAY
* HUỲNH CAO TRÍ
 
Trong bài nay, chúng ta thử tìm hiểu những đặc tính của kẻ sĩ thời xưa và trí thức ngày nay.
Để tránh lạm dụng danh từ, chúng ta cần định nghĩa một cách rõ ràng hơn từ trước đến giờ hai danh từ trên mà người ta thường dùng. Danh từ « trí thức » hay được xem như là tương đương hoặc dịch nghĩa của những danh từ Tây âu như «intelligentsia», «intellectuel», «travailleur intellectuel», hoặc «élite »... mà ra, còn « kẻ sĩ » hay « nhà nho » thì được người Âu dịch là « lettré ».
Từ đó, người ta thường dùng danh từ «trí thức», hoặc « kẻ sĩ », « nhà nho », theo dịch nghĩa những danh từ của người Tây phương hơn là theo đúng nghĩa căn bản của nó ở Đông phương. Vậy nên, việc minh định ý nghĩa của danh từ không phải là không bổ ích. vẫn biết rằng phương pháp chiết tự chưa chắc hẳn sẽ đem lại cho ta một cái nhìn toàn diện về một khái niệm, vì ngôn ngữ, cũng như mọi vật trên đời, đều có sanh, có lớn, có biến chuyển, có diệt : nội dung của danh từ cũng vì vậy mà thay đổi theo thời gian. Tuy nhiên, việc phân tích căn tự sẽ giúp ta hiểu rõ nguồn gốc và ý nghĩa căn bản của danh từ mà chúng ta dùng.
I.— « KẺ SĨ »
Trước hết là danh từ «kẻ sĩ ». Ai cũng biết rằng trong xã hội thời xưa, kẻ sĩ được xếp vào hàng đầu, không những về địa

* Trang 62 *
device

vị ưu tiên — «nhứt sĩ, nhì nông, tam công, tứ thương», — mà nhứt là về vai trò quan trọng trong xã hội. Yếu tố quan trọng của vai trò ấy không phải là tài cán quân sự, tổ chức kinh tế hay xã hội..., mà là nêu gương mẫu đạo đức cho quần chúng. Có người dựa trên hệ thống giá trị thực tiễn ngày nay, cho rằng vai trò đạo đức, luân lý không quan trọng, đáng kể, so với những kiến thức khoa học, kinh tế, xã hội... cần phải có để lãnh đạo quần chúng. Tuy nhiên, nếu đặt vào khuôn khổ của xã hội thời xưa, thì yếu tố đạo đức không những được quan niệm, mà chính thực sự là nền tảng đầu tiên trong việc xây dựng và duy trì xã hội.
Trong bất cứ thời nào, xã hội nào, người trí thức1, thời xưa cũng như thời nay, đều đóng một vai trò quan trọng, và tùy theo quan niệm của xã hội thời đó mà đặc tính của người trí thức có khác nhau.
Chúng ta thử phân tích danh từ « kẽ sĩ ». Nếu viết theo Hán tự, chúng ta có thể tìm hiểu « kẻ sĩ » một cách « chính danh » hơn. Cần so sánh chữ « Sĩ » với hai chữ « Vương » và « Thổ » để rõ thêm ý nghĩa. Trong chữ « Vương», nét ngang trên có nghĩa là «trời», nét ngang dưới có nghĩa là «đất», nét ngang giữa chỉ « người», và nét gạch đổ nối liền ba nét gạch ngang trên « vua » là người được mệnh của Trời Đất, hoặc đứng trung gian : hòa hợp giữa Trời Đất để trị vì thiên hạ. Trong chữ « Thổ», nét gạch dưới chỉ cho « đất», được nhấn mạnh và viết to như ngụ ý chứa đựng, làm nền tảng cho con người. Trái lại, trong chữ « Sĩ », « người » có một vai trò quan trọng, như vươn mình lên để vượt cả thiên nhiên địa lý.
« Kẻ sĩ » là người « không chịu khuất phục ». Không những không chịu khuất phục mà còn tìm cách ngự trị, vượt lên những khó khăn của thiên nhiên cũng như nhân sự. Kẻ sĩ là người có « chí khí bất khuất», đặc điểm quan trọng nhất của kẽ sĩ là « bất khuất trước bạo tàn ». Chí khí ấy được rèn luyện, nuôi dưỡng hằng ngày và được chứng tỏ bao lần trong lịch sử trước ngoại xâm cường bạo, nhứt là dưới thời kỳ thực dân Pháp... Kẻ sĩ

* Trang 63 *
device

đương nhiên phải là nhà ái quốc : như các cụ Phan đình Phùng, Phan sào Nam, v.v...
Tuy chú trọng trước tiên đến đức độ, nhưng kẻ sĩ cũng không quên trau dồi trí độ, vì đặc điểm thứ hai của kẻ sĩ là « người cầu tiến » (« tiến sĩ »). Muốn hành động một cách dũng cảm, cần phải chắc chắn trong sự hiểu biết và phán đoán của mình. Muốn được vậy, cần phải suy nghĩ thấu đáo trước sau, trong cũng như ngoài mình. Rèn luyện trí óc để biết đúng mà dấn thân không sai lạc và có hiệu quả. Kẻ sĩ một khi đã thấy rõ con đường do trí tuệ soi sáng, thì không còn do dự gì nữa, chỉ một mực tiến lên con đường mà họ đã vạch sẵn 2.
Nhưng kẻ sĩ cũng rất dè dặt, khiêm nhượng và thành thật đối với mình. « Biết những gì mình biết, biết những gì mình không biết, đó mới thật là biết »3. Tử Lộ hỏi đức Khổng về việc chết, đức Khổng đáp : « Việc sống còn chưa biết, biết chi đến việc chết » 4, và không bàn thêm nữa...
Tuy nhiên, chung qui lại, trí tuệ và dũng cảm cũng chỉ là hai đức tính phụ thuộc, hai phương tiện bổ túc, nhằm thực hiện và phát huy hai đức tính vi tiên nơi kẻ sĩ, là « nhân » và « nghĩa ».
Có dũng cảm mà không có trí tuệ thì sẽ đưa đến những việc làm liều lĩnh tai hại. Có dũng cảm mà không có nhân nghĩa thì sẽ sanh ra trộm cướp bất nhân, có trí tuệ mà không có dũng cảm, thì tuy thấy việc phải mà không làm (« Kiến nghĩa bất vi, vô dũng dã »)5. Có trí tuệ, dũng cảm, mà không có lòng nhân, thì trong hành động sẽ đưa đến cường bạo vì quên lấy con người làm gốc. Còn có lòng nhân mà không có trí, dũng, thì chỉ có tấm lòng thương người rào rạt, nhưng rồi chỉ « than mây khóc gió », chứ không hành động gì cụ thể để giúp người. « Nhân, trí, dũng, » đó là ba đức tính không thể không có nơi kẽ sĩ 6.
Ở đây chúng ta thấy rõ đặc tính của kẻ sĩ gần giống như châm ngôn của người Phật tử, « Nhân, trí, dũng » thay vì « Bi, trí, dũng ». Vậy « nhân » khác với « bi » ở điểm nào ?
Đạo Phật lấy chữ « bi » làm gốc cũng như kẻ sĩ lấy chữ « nhân » làm gốc. Là một tôn giáo nhằm giải thoát vượt lên trên

* Trang 64 *
device

cả vũ trụ thế gian, tâm tánh « từ bi » nơi Phật giáo là một tình thương vô biên, vô hạn, không loại trừ một ai, không ghét bỏ một ai, tình thương bao trùm cả mọi sinh vật trên đời. Vả lại, nếu so sánh cách viết chữ « Nhân », chúng ta sẽ thấy căn tự chính trong chữ « Bi » là chữ « Tâm »: đó có nghĩa là muốn nhấn mạnh trước tiên và nhiều nhất đến khía cạnh tâm linh và đạo đức. Trái lại, chữ «Nhân» gồm hai chữ «Nhân» (người) và « Nhị » (hai). « Nhân » cũng là « lòng thương mọi người » 7, nhưng — như căn tự cho ta thấy — chữ «Nhân» nhấn mạnh rất nhiều đến sự giao hảo giữa người và người, sự chung sống êm đẹp giữa hai người đồng loại với nhau, có thể nói chữ « Nhân » nhắm nhiều về tươnq quan xã hội (rapports sociaux) còn chữ « Bi » đào sâu về tâm linh và đạo đức. Khổng giáo là một học thuật nhằm cải tạo xã hội một cách trực tiếp và cụ thể hơn, cho nên «tình thương mọi người » nơi kẻ sĩ cũng vì vậy mà phải được thích nghi với thực tế và giới hạn hơn « lòng từ bi » trong Phật giáo. Tử lộ hỏi đức Khổng : « Ngưòi có lòng nhân có ghét ai chăng? » Đức Khổng đáp « Có », và tiếp theo : « Chỉ người có lòng nhân mới thương người và ghét người một cách đúng đắn » 8. Dĩ nhiên là ghét kẻ bất nhân, vì «chỉ người có lòng nhân mới thật là con người » (« Nhơn giả nhân dã », Mạnh tử), Vậy « nhân » là tình thương, tuy rộng lớn, nhưng cũng có phân biệt giới hạn, có suy xét lựa chọn, để hành động được nhiều hiệu quả thực tế trong đời.
Ở đây cũng thấy cần nên nhắc lại rằng đức tính từ bi, tuy có thiên nhiều về tình cảm, nhưng cũng không vì vậy mà hóa thành ủy mị : có tình thương quảng đại bao la, nhưng cũng có trí tuệ và can đảm để thực thi giúp đời. Trong những tiền kiếp của đức Phật, khi còn là Bồ tát, có lần Ngài cũng phải ra tay giết trừ một tên cướp để cứu sống bọn lái buôn, sau khi Ngài đã hết lời khuyên can, nhưng vô hiệu, tên cướp bất nhân ấy. Lại như vị thiền sư kia, đã phải dùng gậy để xô đuổi nai vàng lánh xa khỏi am, trước khi thầy trò cùng xuống núi tránh lạnh mùa đông, vì sợ nai vàng quen thói lân la đến gần người, sẽ bị thợ săn giết hại9... Cụ thể hơn, trong suốt thời kỳ lịch sử dân

* Trang 65 *
device

tộc, Phật tử và các nhà sư cũng đã bao lần tích cực tham gia đấu tranh cứu nước chống ngoại xâm, dưới hình thức này hoặc hình thức khác, kể cả dùng những phương tiện không hẳn là bất bạo động. Nói vắn tắt, người Phật tử, cũng như kẻ sĩ, tuy nuôi lý tưởng cao đẹp từ bi, nhân ái, nhưng đến lúc cần thiết, cũng biết hòa mình vào thực tế để hành động cụ thể giúp đời.
Tuy nhiên, có lẽ «bi» khác với « nhân » ở một điểm quan trọng sau đây. Người Phật tử, trong lúc bất đắc dĩ, có khi cần phải bạo động để loại trừ những phần tử tai hại xấu xa, thì tâm trí họ chỉ toàn hướng đến tình thương sâu rộng đối với những nạn nhân của kẻ bất nhân : vì ám ảnh bởi tình thương mà họ ra tay hành động cần thiết, chứ không phải vì oán ghét kẻ bất nhân. Đối với kẻ sĩ, trái lại, hai tình cảm trên được hiện hữu song song và hỗ trợ cho nhau, để đưa đến hành động mạnh dạn và thích ứng : vừa cảm thương kẻ bị nạn, lại vừa trách ghét kẻ bất nhân đáng tội.
Tóm lại, lý tưởng của kẻ sĩ thời xưa không phải chỉ rèn luyện bản thân mình, mà chính còn là dấn thân để cải tạo xã hội, xây dựng quốc gia phú cường : quyền lợi chung của dân tộc là điều thao thức lo âu trước tiên của kẻ sĩ : « Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiện hạ » l0. Có thể nói kẻ sĩ là người kiểu mẫu trong bất cứ xã hội nào lấyđạo đức làm nền tảng và lấy hòa hợp nhân tình làm chung đích.
Ngày nay, với biến chuyển của nhân tình thế thái, với sự xáo trộn văn hóa, kẻ sĩ chỉ còn là một hình ảnh lu mờ trong ký ức, nhường chỗ lại cho một hạng người mà người ta thường gọi là «trí thức». Vậy chúng ta hãy xem những đặc tính của « người trí thức ».
II.— NGƯỜI TRÍ THỨC
Thế nào là người trí thức? có rất nhiều định nghĩa, nhưng tóm tắt, dựa trên nội dung do mỗi tác giả, chúng ta có thể phân biệt hai quan niệm về trí thức : một có tính cách nhân bản và một có tính cách xã hội.

* Trang 66 *
device

Quan niệm có tính cách nhân bản thường nhấn mạnh đến giá trị của cá nhân người trí thức, và danh từ «trí thức » hay đượm một màu sắc tốt đẹp cao cả. Trái lại, quan niệm có tính cách xã hội thường xem người « trí thức » chỉ như là một đơn vị trong một giai cấp xã hội nào đó : vì có một địa vị, hoặc một vai trò nào đó trong xã hội, nên được gọi chung là « trí thức », chẳng hạn người ta dùng danh từ «trí thức » để chỉ tất cả những « người làm việc bằng óc não » (travailleurs intellectuels), để phân biệt với những người làm việc bằng chân tay (travailleurs manuels). Trong trường hợp này, danh từ «trí thức» có tính cách «trung hòa» (neutre), lại có khi không những không được đượm một màu sắc cao cả nào, mà còn có phần bị xem như là thấp kém, so với những giai cấp xã hội khác 11. Riêng về chúng ta, chúng ta sẽ thử tìm hiểu « trí thức » một cách « chính danh » hơn.
Trí là gì ? Phàn Trì hỏi đức Khổng về trí, đức Khổng trả lời :« Trí là hiểu người »12 . Trí là khả năng suy luận để phán xét phải trái, tốt xấu. Không những « hiểu người » mà còn hiểu vật chung quanh mình : « cách vật trí tri ».
Hơn nữa, chữ « Trí » gom cỏ chữ « Tri » (biết) và chữ « Viết » (nói) mà ra. Người có trí thức là người không những hiểu biết sự vật phải trái, mà còn có khả năng diễn tả một cách minh bạch — bằng lời nói, bằng bút mực, hoặc bằng hành động — những hiểu biết của mình ra cho những người khác biết, nhằm mục đích giúp kẻ khác cải tạo và đóng góp vào ích lợi chung.
Một người dù có kiến thức quảng đại, sáng suốt đến đâu, thấy đâu là xấu tốt, phải trái, mà chỉ im lặng, chỉ giữ hiểu biết ấy cho riêng mình, không có can đảm, hoặc không đủ nghị lực để phát biểu ra, thì người ấy chưa xứng đáng là người « trí ». Họ chỉ mới xứng đáng với danh từ «tri», là «người có hiểu biết » mà thôi.
« Thức » là thức tỉnh, là tự hiểu mình. « Connais - toi toi même » của Socrate. Thức thuộc về sự hiểu biết nội tâm nơi mình, hơn là hiểu biết ngoại vật bên ngoài. Vả lại chữ « Thức »

* Trang 67 *
device

gồm có chữ « Ngôn » (lời nói), chữ « Âm » (tiếng vang) và một bộ «qua» (cây kiềm) có nghĩa là làm cho có tác dụng : lời nói bên ngoài có tác dụng phản chiếu vào tâm khảm bên trong và làm thức tỉnh mình. Có thể nói chữ « Thức » gần như đúng nghĩa với chữ « Giác » trong Phật giáo.
Trí thuộc về « hiểu biết » (science, savoir), thức thuộc về « lương tri » (conscience). Người trí thức, theo đúng nghĩa của danh từ, là người vừa hiểu biết sự vật, vừa hiểu mình, « hiểu người hiểu ta », và những kiến thức ấy, họ đem diễn tả, chỉ dẫn cho người khác biết, hầu mong ích lợi chung. Như vậy, người trí thức phải là người vừa có đủ tài trí (science), lương tri (conscience) và đức độ (caractère).
Ở đây chúng ta cũng thấy thoáng qua ba đức tánh của kẻ sĩ đã vạch ra ở trên, là « nhân, trí, dũng ». Nơi người trí thức, tài trí thuộc về « trí », lương tri thuộc về « nhân », và đức độ thuộc về « dũng » — phải có dũng cảm để dám nói lên sự thực, dù phải có hại cho mình. Nhưng trí thức khác nhau với kẻ sĩ ở một điểm rất quan trọng, là « trí » được kể như vi tiên, được xếp vào hàng đầu, thay vì « nhân » nơi kẻ sĩ : kiến thức khoa học được đặt nặng trước tiên, thay vì sự rèn luyện tâm linh, thay vì « tiên học lễ, hậu học văn » nơi kẻ sĩ. Mẫu người lý tưởng theo quan niệm ngày nay — trí thức — trước tiên phải có kiến thức rộng thay vì nhân nghĩa, đức độ cao, như người lý tưởng ở xã hội thời xưa. Hay nói một cách đúng hơn, đó là hai quan niệm khác nhau giữa văn hóa Tây phương và Đông phương và tân học chuộng về thông thái (le savant), Đông phương và cựu học chuộng về đức độ (le sage). Trong khuôn khổ bài nầy, chúng ta xin gác lại việc bàn cái hay cái dở của hai học thuật khác nhau giữa Đông và Tây.
Sau khi đã định nghĩa danh từ « trí thức », chúng ta hẳn thấy rõ ràng có một số rất đông những người tự mệnh danh, hoặc được người ta gọi là « trí thức », thật ra không xứng đáng với danh từ ấy, theo đúng nghĩa của nó. Nói riêng về Việt nam, người có đỗ đạt, có bằng cấp cao không thiếu gì, nhưng họ không

* Trang 68 *
device

phải là người trí thức, vì : người ta có thể « thông thiên văn, đạt địa lý », nhưng tâm khảm chỉ là một mảnh đất hoang vu, nghèo nàn về tâm tánh, đức độ; người ta có thể « cách vật trí tri», nhưng chưa tự thức được mình ; người ta có thể thấy rộng hiểu xa, có thể giác ngộ được mình, nhưng không có can đảm hoặc nghị lực để nói lên sự thực mà mình biết, hầu chỉ dẫn đúng đường cho quần chúng, nhằm mục đích giác tha và ích lợi chung.
Thậm chí đến lúc đất nước lâm nguy như hiện nay, dân tộc điêu linh dưới bom đạn, gót giày của ngoại bang cường bạo, dã man hi hữu, có một không hai, chưa từng thấy trong lịch sử, mà những kẻ có được cái may mắn ăn học hiểu biết, được mệnh danh là « tri thức », vẫn điềm nhiên hưởng thụ, vẫn yên lặng một cách cố ý — « phi chính trị »! — hav vô tình, dường như họ không biết chi, đâu là lẽ phải, đâu là bất công, đâu là yêu nước, đâu là đạo tặc...!
Những người này không những không xứng đáng với danh từ cao đẹp « trí thức », mà họ thường lạm dụng tự mệnh danh, hoặc những kẻ khác lầm lẫn dùng để chỉ họ, mà chính ra họ còn là hạng người đắc tội đối vói đất nước : đồng lõa vì im lặng, vì bất động, có khi lại còn xa hay gần tiếp tay với giặc... !
Những người nầy, dù cho họ có cấp bằng cao tột bực, có thông thải đến đâu, họ cũng chỉ xứng đáng được gọi chính danh là « người đổ đạt », « người có học » hoặc « người học rộng » hay « người làm việc bằng óc não » mà thôi. Họ không phải là người trí thức.
Trong một dịp khác, chúng hãy tìm hiểu những nguyên nhân và sự kiện đưa đến tình trạng của « người trí thức mất gốc ».
LONG BIÊN
 HUỲNH CAO TRÍ

* Trang 69 *
device

CHÚ THÍCH
 
  1. Xem định nghĩa ờ phần sau.
  2. «Luận ngữ» : quyển V, chương IX; quyển VII, chương XIX.
  3. « Luận ngữ » : quyển I, chương II.
  4. Sách đã dẫn : quyển VI, chương XI.
  5. Sách đã dẫn : quyển I, chương II.
  6. Sách đã dẫn : quyển VII, chương XIV.
  7. Sách đã dẫn : quyển I, chương I.
  8. « Luận ngữ » : quyển II, chương IV.
  9. Thích Thiện Châu, «Phật giáo với con người », đăng trong Tin Phật số I, ngày 28-9-68.
  10. « Luận ngữ » : quyển VII, chương XV.
  11. Theo định nghĩa và quan niệm của thuyết Mác xít.
  12.  « Luận ngữ » : quyển VI, chương XII.
TU THƯ ĐẠI HỌC VẠN HẠNH
phát hành nhân lễ Thành Đạo 2518
TRUNG BỘ KINH TẬP III
(Majjhima - Nikaya)
 
Tỷ kheo THÍCH MINH CHÂUdịch
PÃLI — VIỆT

* Trang 70 *
device

 
Tư Tưởng Số 1 (Năm 1974)