LOGO VNBET
CHÙA MỘT CỘT
VỚI TINH THẦN PHẬT GIÁO
VIỆT NAM THỜI NHÀ LÝ
* NGUYỄN HỮU LỢI
 
I.-- TINH THẦN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TRƯỚC KHI CHÙA MỘT CỘT XUẤT HIỆN.
Các công trình khám phá của các nhà khảo cổ học đã chứng minh rằng, đất Giao chỉ từ thời Tần-Hán (Trung quốc- 221 tr. TL-219s. TL), đã là nơi giao lưu về văn hóa và chủng tộc hết sức phức tạp ; mà văn hóa Trống đồng ở Đông sơn có liên hệ với Nam dương, văn hóa cổ mộ ở Bắc ninh có liên hệ với Tứ xuyên, và văn hóa Óc eo (Hậu giang Nam Việt) có quan hệ với Hy lạp, La mã. Sử sách cũng còn cho biết rằng, kinh đô Luy lâu của Giao châu thời Sĩ Nhiếp (thuộc tỉnh Bắc ninh) cũng đã là trung tâm Phật giáo ; và văn hóa Ấn độ đã du nhập khá phồn thịnh với các tăng sĩ Ma La Kỳ Vực, Khang Tăng Hội, Chi Cương Lương... Đã thế, Giao châu dưới thời Sĩ Nhiếp (187-226) lại là một địa phương thanh bình, nhân dân an cư lạc nghiệp, nên đã là nơi thuận tiện cho dân Trung hoa trốn tránh loạn lạc từ thời đại Tần Thủy hoàng đế (221-208 tr. TL) bạo ngược, trải qua loạn Hoàng Sào (875) vào cuối đời Đường (618-907), cho đến khi quân Mông cổ xâm lăng ở cuối triều Nam Tống (1127-1279). Lại nữa, nước ta lúc đó cũng đã thường bị các dân tộc phương nam tràn lên đánh chiếm (như nước Lâm ấp — sau

* Trang 71 *
device

gọi là Hoàng vương, rồi Chiêm thành — cứ thường lên cướp phá các quận Cửu chân, Nhật nam, Giao châu từ thế kỷ II và mãi đến thế kỷ XVII mới bị tiêu diệt (1697) về tay chúa Nguyễn Phúc Chu). Những sự kiện đó đã làm biến đổi sâu rộng xã hội Giao châu về nhân sự cũng như về văn hóa, chính trị ; và đã gây ra cho nước ta thời ấy một hoàn cảnh địa lý và xã hội có thể gọi là « ngã tư của chủng tộc và văn hóa ».
Trong cái hoàn cảnh mà nhân sự, văn hóa giao lưu một cách phức tạp tất có nhiều mâu thuẫn, xung đột ; và vấn đề được đặt ra cho các nhà trí thức lãnh đạo là phải tìm ra mọi cách để giải quyết ổn thỏa những mâu thuẫn ấy, để tìm ra cái nhất trí cho tinh thần hầu xây dựng quốc gia, dân tộc. Do đó, chúng ta thấy ở thế kỷ thử 2 sau TL, Mâu Bác đã theo con đường nguyên lý nhất quán để hệ thống hóa các trào lưu tư tưởng xung đột ở Giao châu thời ấy, nào là truyền thống xã hội của Bách gia từ Trung hoa truyền xuống, nào là truyền thống tâm lý của tư tưởng Ấn độ, nào là truyền thống thiên nhiên cổ truyền của Lạc Việt. Mâu Bác đã tổng hợp ba khuynh hướng tư tưởng trên bằng ánh sáng Phật giáo Giao châu thuở đó và viết nên sách Lý Hoặc Luận. Mâu Bác không bài bác các tư tưởng đối nghịch mà trái lại đã dung hợp, điều hòa các tư tưởng ấy thành nguyên lý nhất quán ; và chúng ta có thể nói được rẳng, Mâu Bác đã đem tinh thần Giáo tông từ Thiên thai (Trung hoa) mà phổ hóa ở Giao châu, mở đường cho con đường Thiền học sau này.
Thiền tông nối tiếp Giáo tông khi Ti Ni Đa Lưu Chi đến Giao châu truyền pháp cho Pháp Hiền vào cuối thế kỷ thứ 6 (năm 580) tại chùa Pháp vân, khai sáng dòng thiền thứ nhất ở Việt nam ; và Vô Ngôn Thông đến Giao châu truyền pháp cho Cảm Thành vào đầu thế kỷ thứ 9 (năm 820) tại chùa Kiến sơ. Trước sau tuy có hai dòng thiền, nhưng « thiền tâm » vẫn là một. Giáo tông chỉ tổng hợp nhất quán trên lý thuyết, nhưng Thiền tông thì đòi phải thực nghiệm nơi tâm linh và ở hành vi xã hội, như thiền sư Thông Biện (1097) đã nói :

* Trang 72 *
device

« Thường trụ thế gian, bất sinh bất diệt, vị chi Phật. Minh Phật tâm tông, hành giải tương ứng, vị chi Tổ Phật, Tổ nhất dã » : Phật là tồn tại không biến đổi ở thế gian, không sinh, không diệt. Tổ làm sáng tỏ nguồn gốc tâm Phật, lý giải và thực hành hợp nhất với nhau. Phật và Tổ là một.
Thiền không phải là một hệ thống triết học hay một nghi thức tôn giáo mà là một chứng nghiệm về tâm linh. Bởi vậy, Tì Ni Đa Lưu Chi, nguyên theo đạo Bà la môn, nhưng vì không thỏa mãn với tập tục cúng tế Phạm thiên với tôn giáo hữu thần của giáo sĩ Bà la môn nên mới đi tim chứng nghiệm tâm linh ở Phật giáo. Ngài phải du phương cầu đạo, mãi đến tận Trung hoa mới mãn nguyện khi đưọc Tổ Tăng Xán truyền cho tâm ấn. Tâm ấn ấy là Phật tính, mà sau này, khi truyền lại cho Pháp Hiền, Ngài có nói : « Tâm ấn của chư Phật không có lừa dối, tròn vẹn như thái hư ; không thừa, không thiếu ; không đi, không lại ; không được, không mất ; không giống, không khác ; không thường còn, không gián đoạn ; vốn không nơi sinh, vốn không nơi diệt ; không xa cách mà không phải không xa cách ; chỉ vì đối với cái duyên tà vọng mà phải đặt ra cái tên giả thiết đó thôi. Cho nên các Phật trong ba đời cũng lấy tâm ấn như thế ; Tổ sư các đời cùng được tâm ấn như thế ; đến ta và ngươi cũng được tâm ấn như thế. »
Như thế thì Thiền không phải nhằm hướng cá nhân mình đến một vị Thượng đế như các tôn giáo hữu thần, mà là một trạng thái định niệm để tự « kiến tính ». Với tinh thần Thiền, thầy truyền tâm ấn cho trò cũng không phải bằng cách giảng dạy với kinh sách, chữ nghĩa, đồ biểu, mà bằng một phương pháp đặc biệt, gọi là « DĨ TÂM TRUYỀN TÂM ».
Cách truyền pháp « dĩ tâm truyền tâm » của Phật giáo Thiền tông có thể nói là một nghệ thuật, vì hoàn toàn theo trực giác, tùy cảm hứng chứ không theo một nguyên tắc, một giáo điều nào cả. Khi thì thật trịnh trọng, khi rất khôi hài ; khi thì im lặng không lời, khi quát tháo ầm ĩ ; có lúc đánh đập chạy nhảy, nhưng có lúc lại ngậm miệng làm câm v.v... Tất cả

* Trang 73 *
device

đều nhầm khích khởi ở con người cái tuệ giác để « kiến tính », để tự giác cái « bản lai chân diện mục » của mình.
Đó là tinh thần phái Thiền thứ nhất do Tì Ni Đa Lưu Chi, một thiền sư người Ấn độ truyền vào, còn phái Thiền thứ hai thì sao ?
Thiền phái thứ hai do thiền sư Vô Ngôn Thông (người Trung hoa) sáng lập. Ngài thừa kế dòng thiền chính thống Tào Khê mà linh hồn của dòng này là Lục Tổ Huệ Năng (638-713). Huệ Năng cùng với Thần Tú thờ chung một thầy là Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn ; nhưng Thần Tú thì đại diện cho giới trí thức bác học phương Bắc, còn Huệ Năng thì đại diện cho giới bình dân vô học phương Nam. Con đường thiền học của Thần Tú là con đưòng « TIỆM », nghĩa là đi dần vào Phật tính bằng tri thức suy luận. Con đường thiền học của Huệ Năng là con đường « ĐỐN », nghĩa là đi thẳng vào Phật tâm bằng trực giác khải ngộ. Trong trạng thái trực giác khải ngộ này, năng tri và sở tri không bao giờ có hai, riêng rẽ, mà hợp làm một. Đó là quan niệm tri hành hợp nhất. Bởi vậy từ Huệ Năng (Tổ thứ 6) cho đến Bách Trượng (Tổ thứ9), sự truyền pháp không còn y cứ vào « Y, BÁT » (vì Y, Bát chỉ là hình tướng bề ngoài) mà chỉ bằng phương pháp « dĩ tâm truyền tâm ».
Bách Trượng truyền pháp cho Vô Ngôn Thông (thứ 10) cũng vậy; và Vô Ngôn Thông truyền pháp cho Cảm Thành (Việt nam) cũng bằng con đường ấy.
Tinh thần thiền của Vô Ngôn Thông là không y cứ vào kinh sách, chữ nghĩa, mà chỉ dùng con mắt « pháp nhãn » hay « huệ nhãn» để đốn ngộ Phật tâm. Vì vậy, Vô Ngôn Thông đến chùa Kiến sơ diện bích mấy năm trời mà không ai hiểu là gì, chỉ có Cảm Thành là tỉnh ngộ được cái chân lý « vô ngôn chi giáo » ấy của tinh thần thiền học Vô Ngôn Thông. Giác ngộ tự tính không tìm hiểu ở kinh sách, không cần suy luận; mà phải thể hiện cái đức sáng mình vốn cỏ, tức là «kiến tính thành Phật.» Cảm Thành đã đi thẳng vào Phật tính bằng con đường đó, và truyền lại cho thiền sư Thiện Hội cũng bằng cái tinh thần đó,

* Trang 74 *
device

đặc biệt nhấn mạnh ở điểm «tức Tâm tức Phật». Phật ở tại tâm, bao trùm vạn vật, khắp trong vũ trụ không có chỗ nào là không phải Phật tâm (Phật biến nhất thiết xứ).
Đến đây, nhìn lại lịch sử truyền bá Phật giáo Việt nam thì rõ ràng có phân biệt Giáo tông, Thiền tơng; Thiền tông lại có trước sau hai phái. Trong hai dòng thiền ấy từ trước vẫn phân chia có Đốn có Tiệm. Nhưng khi đã vào Việt nam thì các thiền sư nước ta đã tổng hợp, dung hòa Giáo, Thiền, Đốn, Tiệm, hợp nhất Tri, Hành, làm cho Thiền học Việt nam mang một sắc thái đặc thù, hòa đồng với tâm hồn dân tộc. Với tâm hồn đặc thù đó, Phật giáo Giao châu thời ấyđã kết tinh và cho xuất hiện các thiền sư nổi tiếng như Đỗ Thuận, Khuông Việt, và nhất là Vạn Hạnh. Các Ngài đều theo con đường trước hết phải «tự giác » rồi sau mới « giác tha » để hành hóa trong xã hội. Họ bắt đầu bằng con đường « xuất thế », lấy thiền định để thể nghiệm tâm lý để tự « kiến tính giác ngộ » ; rồi sau đó lại « nhập thế » để «tùy bệnh cho thuốc » hóa độ thế gian, để phụng sự quốc gia dân tộc bằng đủ mọi phương diện : văn hóa, chính trị, ngoại giao v.v... mà ta thấy thể hiện rất hùng hồn nơi các thiền sư Ngô Chân Lưu, Pháp Thuận và Vạn Hạnh. Họ đã đem Đạo vào đời với tinh thần tích cực, vô nhiễm để giúp vua Đinh Tiên Hoàng xây dựng một triều đại uy nghi, một quốc gia độc lập vói tinh thần tự chủ cao độ, đã giúp vua Lê Đại Hành chẳng những bảo vệ được nền độc lập vững vàng mà còn làm vẻ vang cho dân tộc bằng ngoại giao đối với một cường quốc Trung hoa ở ngay bên cạnh : và nhất là đã cứu vớt dân chúng ra khỏi cái hoàn cảnh lầm than bởi chế độ bạo ngược đến man rợ của vua Lê Long Đĩnh, xây dựng nên một triều đại huy hoàng nhà Lý, lấy tinh thần từ bi mà giáo hóa nhân dân ; đó là một công trình chính trị vĩ đại của Vạn Hạnh thiền sư vậy.
II.— CHÙA MỘT CỘT VỚI TÍN NGƯỠNG TỔNG HỢP NHÀ LÝ
Triều đại Lê Đại Hành là một triều đại vẻ vang trong lịch sử lập quốc cũng như triều đại nhà Đinh trước đó, nhưng sự

* Trang 75 *
device

nghiệp ấy quá ngắn ngủi vì sự phá nát của vua Lê Long Đĩnh, bắt buộc phải có một sự thay đổi. Sự phú cường và an cư lạc nghiệp là một nhu cầu thiết yếu của quốc gia dân tộc, đó là động cơ thúc đẩy Lý Công Uẩn lên nắm chính quyền để phục hưng quốc gia, bảo vệ tinh thần đạo đức của dân tộc. Và sự lên ngôi của Lý Công Uẩn đã khai sáng ra nhà Lý là một công trình, một sắp xếp chính trị của thiền sư Vạn Hạnh. Đó là một kết quả của tinh thần Vạn Hạnh, và Lý Công Uẩn lên ngôi cũng như các vua Lý kế tiếp là thực hiện cái sứ mệnh « đem đạo và đời » của Vạn Hạnh. Nói cách khác, tư tưởng của Vạn Hạnh đã ảnh hưởng sâu xa và quyết định phần lớn cho tinh thần giới lãnh đạo suốt triều đại nhà Lý ; đó là tinh thần tập thành Thiền và Mật, có kiến thức cao siêu thần toán, thấu suốt và nối liền quá khứ, hiện tại, vị lai, làm lợi khi cho những hành động ích quốc lợi dân, phụng sự quốc gia và bảo vệ chủ quyền dân tộc. Nhà Lý đã xây dựng một quốc gia tiến bộ khác hẳn Đinh, Lê ở trước, mà các triều đại sau cũng khó sánh bằng ; và chùa Một cột đã xuất hiện một cách hãnh diện, độc đáo trong cái không khí thiền học,cái tinh thần tiến bộ toàn diện đó.
Chùa Một cột hình thành là do một giấc mộng của vua Lý Thái Tông. Sử chép : «Tháng hai, mùa xuân năm Kỷ sửu (1049) đổi niên hiệu là Sùng Hưng Đại Bảo năm đầu. Trước đó vua mộng thấy Phật Quan Âm ngồi trên đài hoa sen, dẫn vua lên đài. Khi tỉnh dậy, vua nói lại với triều thần, có người cho là điềm gỡ, nhưng thiền sư Thiền Tuệ thì khuyên vua nên xây chùa, dựng cột đá giữa hồ xây đài hoa sen có tượng Phật Quan Âm ở trên, đúng như hình ảnh đã thấy trong mộng. Các nhà sư chạy đàn chung quanh, tụng kinh câu sống lâu, nhân đó đặt tên chùa là Diên hựu. » (Toàn Thư — « Lý Kỷ») 1.
Theo đó thì chùa Một cột lấy nguồn cảm hứng từ giấc mộng đài sen với Phật Quan Âm. cảm hứng từ mộng là một thứ tâmlý nghệ thuật của các dân tộc Đông phương, và hình dáng chùa đã bao hàm nhiều ý nghĩa nghệ thuật tôn giáo.

* Trang 76 *
device

Theo giáo sư Nguyễn Đăng Thục thì từ đời nhà Đinh đã dựng cột bia đá « Đà la ni» gọi là cột « nhất trụ » để câu tuổi thọ, cầu cho vận nước lâu dài bên cạnh cái không khí luôn luôn đe dọa nặng nề của Trung hoa. Cái ý niệm cầu sống lâu tượng trưng bằng hình « một cột» đã cùng mang một ý nghĩa với nguyên lý sinh thành của địa mẫu lấy tượng Lingam-Yoni làm Linh phù ; và cái Linh phù Lingam-Yoni ấy chính là một cột được dựng lên từ giữa cái chậu, đại diện cho Thánh mẫu hay nguồn sống vũ trụ trong giáo lý Bà la môn và Chiêm thành. Và cũng theo giáo sư Nguyễn Đăng Thục, thì ảnh hưởng văn hóa Chiêm thành vào tín ngưỡng bình dân Giao châu vốn đã sâu rộng ngấm ngầm từ lâu.
Đến đời nhà Lý thì cái cột « nhất trụ » ấy lại bao hàm nhiều ý nghĩa hơn nữa khi vua Lý Thái Tông (1028-1051) đã biến hình «nhất trụ » thành hình hoa sen bẳng cách cho xây trên đỉnh cột một cái điện nhỏ bằng gỗ lợp ngói, mái cong để trở thành chùa Diên hựu (tức Một cột). Chùa có hình dáng một hoa sen, và nếu nhìn từ xa thì quả đó là một hoa sen lớn mọc lên từ hồ nước, dĩ nhiên chiếc cột đã trở thành cọng sen.
Vẫn theo giáo sư Nguyễn Đăng Thục, thì hình ảnh hoa sen cũng đã ám ảnh tinh thần dân tộc từ thời nhà Đinh : Đinh Bộ Lĩnh ở cạnh dền Sơn thần, ngoài cửa có đám sen núi, có dấu chữ thiên tử; mẹ Lê Hoàn có mang nằm mộng thấy trong bụng sinh hoa sen ; năm 1058, tháng 6 niên hiệu Long Thụy Thái Bình thứ 5, vua Lý Thánh Tông cho xây điện Linh quang, bên trái dựng điện Kiến lễ, bên phải dựng diện Sùng nghi ; phía trước điện dựng lầu chuông một cột sáu cạnh hình hoa sen. 2
Vậy thì hoa sen luôn luôn mang một ý nghịa tốt đẹp, tượng trưng cho những gì cao quí nhất trên đời. Nơi nào có hoa sen là nơi đó có Phật, Thánh ngự trị ; nơi nào có dấu sen là nơi đó có dấu vết hiền nhân; nơi nào cố hồ sen nhất định phải là nơi thanh tịnh; và chính hoa sen đã được người bình dân tôn quí để ví với những người có tâm hồn thanh cao, sống

* Trang 77 *
device

nơi bụi trần đanh lợi mà không bị những thứ ô uế cám dỗ, ràng buộc :
Tronq đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhụy vàng ;
Nhụy vàng bông trắng lá xanh,
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
Cuối cùng, hoa sen đã có một ý nghĩa vô cùng quan trọng đến nỗi được đem làm tựa đề cho một bộ kinh cao thâm của Đại thừa là Diệu Pháp Liên Hoa Kinh. Tín ngưỡng HOA SEN là tín ngưỡng Đại thừa, tín ngưỡng PHẬT vậy.
Cũng vì hoa sen mang một ý nghĩa như thế, nên hễ người ta nói tới hoa sen là nói tới Phật, sen là chỗ Phật ngự, tòa sen là tòa Phật. Và bộ ba Di Đà, Quan Âm, Thế Chí đã dính liền mật thiết với hoa sen trong tín ngưỡng Tịnh độ tông. Cõi Cực lạc là cả một cõi hoa sen (cửu phẩm liên hoa). Vì vậy mà vua Lý Thái Tông đã mộng thấy hoa sen với Phật Quan Âm đứng trên đài sen, và giấc mộng ấy đã được hiện thực bằng ngôi chùa MỘT CỘT có hình dáng hoa sen với tượng Phật Bà Quan Âm được thờ trong đó.
Tín ngưỡng Phật Bà Quan Âm trong dân tộc Việt cũng là một tín ngưỡng đặc biệt, nó biểu hiện cho lòng yêu thương vô bờ của MẸ, hòa đồng với tín ngưỡng sùng bái Nữ Thần trong tư tưởng bình dân Việt nam. Người bình dân Việt nam với tâm hồn chất phác, chân thật, luôn luôn có khuynh hướng nguyện cầu một «tha lực» từ bi cứu khổ cứu nạn như Bồ tát Quan Âm hay là Nữ Thần Địa mẫu của họ. Họ nướng tựa vào đó như một nơi an lành, như đứa bé cảm thấy được yên ổn trong đôi tay của mẹ. Họ luôn luôn yên tâm khi tin tưởng có Quan Âm Bồ tát ở bên cạnh để che chở, độ trì.
Xem thế, chùa MỘT CỘT quả là một tác phẩm nghệ thuật tân kỳ, thể hiện trọn vẹn cái tâm linh độc đáo của dân tộc. Với chiếc cột độc nhất dựng sừng sững giữa hồ biểu hiệu cho tín ngưỡng về nguồn sống vũ trụ, về Âm Dương hòa hợp sáng

* Trang 78 *
device

tạo của tư tưởng Bà la môn giáo và Chiêm thành. Với cái điện hình hoa sen mọc lên từ hồ nước nói lên cái tinh thần phấn đấu âm thầm với dục vọng để tự kiến tính thành Phật của các thiền sư, tức là giới trí thức bác học. Và với tượng Phật Bà Quan Âm tượng trưng cho Tình Mẹ, cho Thánh mẫu, một tha lực từ bi luôn luôn cứu độ cho chúng sinh, là tín ngưỡng Nữ Thần của giới bình dân chơn chất. Chùa Một cột quả đã gói ghém hoàn toàn cái tinh thần tín ngưỡng đặc biệt của Việt nam thời đó. Tinh thần chùa Một cột là một tinh thần tổng hợp của Phật giáo Việt nam thời Lý. Tinh thần đó đã dung hòa các tư tưởng vừa Bà la môn, vừa Thiền, vừa Mật, vừa Lão, vừa trí thức, vừa bình dân, nhất là nó thể hiện một tinh thần hợp sáng nhưng độc lập của quốc gia; và chính cái tinh thần đó đã là nguyên nhân sâu xa của việc thành lập thiền phái Thảo Đường một phái Thiền Việt nam độc đáo đời nhà Lý vậy.
III.— THIỀN PHÁI THẢO ĐƯỜNG : MỘT KẾT TINH CỦA TINH THẦN PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỜI NHÀ LÝ.
Thời đại nhà Lý là thời đại toàn thịnh của Phật giáo mà cũng là thời đại có ý thức dân tộc cao nhất, tinh thần quốc gia hùng mạnh nhất trong lịch sử độc lập của nước Việt. Về điểm này ông Hoàng Xuân Hãn có nói : «Lý Thánh Tông là vua ta đầu tiên có óc lập một đế quốc có danh ngang với một nước thiên tử. Vua đặt quốc hịệu là Đại việt (1054), tôn các vua trước là Thái Tổ, Thái Tông, coi các nước nhỏ là chư hầu, và muốn ngăn cấm Chiêm thành thần phục Tống. » 3 Và chính ở trong cái ý thức dân tộc và tinh thần độc lập, tự cường cao độ đó mà phái Thiền Thảo Đường đã xuất hiện, như Trần Văn Giáp đã nói : « Đến thế kỷ XI, đạo Phật rất thịnh vượng ở Việt nam. Những người nhiệt thành với đạo này không phải chỉ là quần chúng mà cả quan lớn ở triều đình, và cả những vua chúa nữa. Những ông vua ấy muốn thiết lập một phái mới. Nhưng thay vì trực thuộc với Bồ Đề Đạt Ma, họ lại chọn một thiền sư Trung hoa tên là Thảo Đường đã đến Chiêm thành và ngụ một thời gian ở đó. Chắc chắn họ đã theo giáo huấn của vị sư trưởng này

* Trang 79 *
device

và thực hành giáo pháp của ông. Thời kỳ thứ tư này quả là thời kỳ Thiền học Việt nam. » 4
Từ Lý Thái Tông, ta thấy nhà vua đã có khuynh hướng xây dựng một nền Phật giáo riêng biệt, đặc thù cho Đại cồ Việt qua kiến trúc hợp sáng chùa Một cột thờ Phật Bà Quan Âm trong một cái điện thờ hình hoa sen. Đến vua Lý Thánh Tông thì cái khuynh hướng ấy lại càng bồng bột, mạnh mẽ hơn nữa, đến nỗi đã đưa đến việc sáng lập một thiền phái mới lấy tên của thiền sư Thảo Đường.
Về sự tích Thảo Đường, sách An Nam Chi Lược chép : « Thảo Đường đi theo sư phụ sang ở đất Chiêm thành. Khi vua Lý Thánh Tông đánh Chiêm thành bắt được làm tù binh, giao cho quan Tăng lục làm gia nô. Quan Tăng lục viết sách Ngữ Lục, để ngỏ trên bàn và đi khỏi. Nhà sư Thảo Đường xem trộm, có sửa chữa đi. Quan Tăng lục về thấy thế lấy làm kinh ngạc về anh gia nô, bèn tâu lên vua. Vua bái Thảo Đường làm Quốc sư »5
Sự tích của một vị cao tăng, Tổ của một phái thiền quan trọng mà chép như thế thì quả sơ sài và có vẻ mơ hồ. Nhưng ở đây chúng ta không chú ý đến khía cạnh sử học của tài liệu mà chỉ chú trọng đến tinh thần của tài liệu ấy. Đọc lại lời của học giả Hoàng Xuân Hãn ở trên thì triều đại Lý Thánh Tông quả là một triều đại oanh liệt, có tinh thần dân tộc cao sáng nhất. Lý Thánh Tông nuôi mộng xây dựng quốc gia thành một đế quốc hùng cường, độc lập, xứng danh « Đại Việt » ; trong đó bao gồm ý tưởng sáng lập một tông phái Phật giáo « Đại Việt » đặc thù, hoàn toàn mang màu sắc dân tộc ; mặc dù trước đó đã có hai phái Thiền Tì Ni Đa Lưu Chi và Vô Ngôn Thông từ ngoại quốc truyền vào. Và mộng ước ấy đã được thành tựu do một thiện duyên hãn hữu, đó là việc nhà vua đi đánh Chiêm thành bắt nhiều tù binh, và trong đám tù binh ấy có thiền sư Thảo Đường.
Thảo Đường là một tù binh được cắt đặt làm nô dịch cho vị Tăng lục (vị tăng cao cấp nhất trong hàng tăng sĩ đương thời) lại do sự khám phá của chính vị Tăng lục mà Thảo Đường được

* Trang 80 *
device

nhà vua tôn làm quốc sư; ấy là vua đã nhặt được một viên ngọc vô giá bảo châu từ trong bùn lầy ! Ý vua đã mong ước thành lập một tông phái đặc biệt Việt nam, nhưng nhà vua là một cư sĩ, không thể đứng làm Tổ khai sơn cho một môn phái, nhân cơ hội khám phá được viên ngọc vô giá là Thảo Đường hòa thượng, bèn lập tức tôn lập Ngài làm Tổ sư môn phái, lấy tên Ngài làm tên môn phái, rồi chính nhà vua làm đồ đệ đầu tiên đời thứ nhất. Thật là một cơ hội nghìn vàng để vua thực hiện giấc mộng. Quan Tăng lục là vị cao tăng nhất nước, thế mà viết « ngữ lục » còn bị Thảo Đường sửa chữa, thì Thảo Đường quả xứng đáng với sự trông đợi và kính ngưỡng của vua Lý Thánh Tông.
Vậy thì cái tinh thần đặc biệt của Thảo Đường là gì ? Đó là một tinh thần tổng hợp Thiền và Tịnh. Theo tinh thần bài« Cảnh Sách » của hòa thượng Thảo Đường thì con đường tu hành không phải chỉ có một, mà phải gồm cả ba phương diện : Tham thiền, Tu quán, và Niệm Phật. Tham thiền và Tu quán tức là tập trung tinh thần nhắm vào một điểm, ngừng tắt tất cả mọi vọng niệm trong tâm, để cho tinh thần thanh tĩnh, không còn vọng động. Lúc đó cả năng tri và sở tri đều mất, trí tuệ phát sinh, kiến tính giác ngộ. Đó là con đường tự lực đốn ngộ, có thể giải thoát ngay ở đời này, được áp dụng chung cho cả tăng lẫn tục.
Nhưng con đường đó là con đường trí thức, chỉ hợp cho những bậc thượng nhân, có lợi căn, có bản lãnh, có ý chí siêu phàm mới thực hiện nỗi ; còn đối với kẻ độn căn mà đa số là quần chúng nông dân thì không thích hợp. Do vậy mà hòa thượng Thảo Đường đã đưa ra con đường Niệm Phật để dẫn dắt đám quần chúng nông dân đông đảo ấy :
« Thiền bản vô môn, phi túc cụ linh căn, đa đọakỳ đồ, mạt kiếp dung lưu, thành nan ngộ nhập. Quan tâm vi tế, như vô bát nhã chi tuệ, hãn năng giai chứng. Duy hữu niệm Phật nhất môn, tối vi tiệp cảnh, tự cổ chí kim, ngu tri đồng tu, nam nữ cộng thú, vạn vô nhất thất như tứ liệu giản sở minh. Chỉ yếu tự biện khẳng

* Trang 81 *
device

tâm, vật nhi tự chi bất đắc... » Thiền vốn không có cửa vào nhất định, nếu không đủ căn bản tâm linh thì phần nhiều rơi vào lầm lạc, trọn đời trôi nổi khó mà giác ngộ. Pháp quán tâm thì rất tế nhị tinh vi, nếu không có trí tuệ bát nhã (nghĩa là trực giác) thì ít có thể tiến bộ trên đường chứng nghiệm. Chỉ còn có lối niệm Phật là rất mau lẹ, tiện lợi. Từ xưa đến nay, người thông minh hay ngu độn cùng tu, đàn ông hay đàn bà đều chuộng, muôn người không một sai lầm như bốn lời dạy của phái Lâm Tế đã tỏ rõ. Chỉ cần tự phân tích lấy tâm mình, chớ nghi ngờ mình làm không được.
Người nông dân vốn giàu tình cảm, giàu tưởng tượng. Tín ngưỡng Thần đạo lại đã sớm ảnh hưởng sâu đậm trong tâm hồn họ ; hơn nữa, trải qua bao cảnh bạo tàn, đau thương của giặc giã, chiến tranh từ các đời trước, họ chỉ mong được một đời sống thanh bình, an cư lạc nghiệp với sự độ trì, gia hộ của thần linh, cho nên sự tin tưởng vào Phật Bà Quan Âm với lòng từ bi của Nữ thần, của Mẹ hiền cứu khổ cứu nạn đã phổ biến mau lẹ và sâu rộng trong quần chúng bình dân. Tín ngưỡng vào Bồ tát Quan Âm cứu khổ độ trì là một lòng tin vào Tha lực. Bởi thế con đường « niệm Phật» dành cho người bình dân đã được đề cao bên cạnh con đường «tham thiền, tu quán» dành cho bậc đại trí tin tưởng vào tự lực, đó là cái chủ tâm của vua Lý Thánh Tông trong việc thành lập thiền học Thảo Đường, nhằm tổng hợp tín ngưỡng của toàn dân, làm thành một sức mạnh vô địch để thực hiện cái mộng « Đại việt» trong tinh thần dân tộc cao sáng của mình.
Như vậy đứng về phương diện lịch sử chúng ta phải công nhận người sáng lập ra phái thiền Thảo Đường là vua Lý Thánh Tông. Tinh thần Thảo Đường chính là tinh thần Lý Thánh Tông trong ý hướng sáng lập một môn phái đặc biệt dân tộc. Tinh thần Lý Thánh Tông là một tinh thần cởi mở, sẵn sàng thâu hóa nhiều tín ngưỡng khác nhau. Vua rất sùng thượng Phật pháp nên đã xây cất và tu bổ rất nhiều chùa tháp, như các chùa Đông lâm, Tĩnh lữ (1055); chùa Báo thiên (1056); tháp Báo thiên và lầu

* Trang 82 *
device

chuông Một cột hình hoa sen (1057); chùa Sùng nghiêm báo đức (1059) v.v... Tinh thần từ bi của Phật giáo đã ảnh hưởng sâu đậm nên nhà vua có tiếng là một ông vua nhân từ. Ngài đã từng ban chăn chiếu cho tù nhân, cho họ ăn cơm đầy đủ vì nghĩ thương cái hoàn cảnh đối lạnh của họ ở trong ngục xá ; và đối với dân chúng thì : « Lòng trẩm yêu dân như yêu con trẫm vậy; hiềm vì trăm họ ngu dại làm càn phải tội, trẫm lấy làm thương lắm; vậy từ nay về sau, tội gì cũng giảm nhẹ bớt di.» 6.
Đối với Khổng giáo nhà vua cũng rất chú trọng. Ngài là người đầu tiên ở nưóc ta dựng lập Văn miếu, tạc tượng Chu công, Khổng tử và Tứ phối để thờ phượng (1070). Ngài cũng rất hâm mộ âm nhạc Chiêm thành và tin Thần đạo, xây chùa Nhị thiên vương thờ Nhật thiên (Civa deva) và Nguyệt thiên (Visnu deva) thuộc tín ngưỡng Ấn độ giáo.
Vì vậy, khi nhận xét về Lý Thánh Tông, giáo sư Nguyễn Đăng Thục đã viết: « Xem thế thì biết rằng khuynh hướng tín ngưỡng của nhà vua cũng như của toàn quốc thời bấy giờ không có tính cách giáo điều, hết sức cởi mở để thỏa hiệp nhiều tín ngưỡng khác nhau. » 7.
Nhưng nói đến Lý Thánh Tông, chúng ta còn phải đề cập đến một điểm đặc biệt khác nữa, đó là sự liên quan gần như mật thiết giữa nhà vua với hình ảnh Nữ thần Bồ tát Quan Âm. Hình ảnh Phật Bà Quan Âm đã ám ảnh dân ta từ lâu, và được thể hiện một cách cụ thể kể từ vua Lý Thái Tông, do từ giấc mộng đã xây chùa Một cột hình hoa sen để thờ Phật Bà Quan Âm như chúng ta đã đề cập ở trên. Đến vua Lý Thánh Tông thì thấy sử chép rằng : « Nhà vuạ 40 tuổi, chưa có con trai, thường đi các đền chùa để cầu tự. Ngự giá đến đâu, người xem chật đường. Khi đến làng Thồ lỗi, có người con gái hái dâu đứng dựa vào khóm cỏ lau, nhà vua lấy làm lạ, cho vào cung lập nàng làm Ỷ Lan phu nhân. Đến khi có mang, sinh hoàng tử Kiến Đức, nhà vua mừng lắm. Ngày hôm sau lập làm Thái tử, đổi niên hiệu, đại xá, phong Ỷ Lan phu nhân làm Thần

* Trang 83 *
device

phi, lại gọi là Nguyên phi, đổi làng Thổ lỗi làm làng Siêu loại, vì là nguyên quán của Nguyên phi. » 8
Sử Ký Toàn Thư lại chép : « Vua thân đi đánh Chiêm thành, lâu không thắng, trở về đến châu Cư liên, nghe tin Nguyên phi (điều khiển nội trị được lòng dân hòa họp, trong nước yên ổn, tôn sùng Phật giáo tục gọi là Quan Âm Nữ. Vua tự bảo : « Kẻ kia là một nữ nhi mà còn có thể được thế, ta là trai còn dùng làm chi » ? Bèn quay lại đánh mới thắng được. »9
Trong chế độ quân chủ xưa, việc vua sinh được hoàng nam là một điều vui mừng trọng đại không những cho nhà vua, cho triều đình, mà cho cả nhân dân trong nước. Vua Thánh Tông đã 40 tuổi mà chưa có con trai, nay gặp được Ỷ Lan phu nhân thì sinh hoàng tử, đó chẳng là điều đại phúc cho triều đình và cho cả thiên hạ ư ? Vìvậy, từ một cô thôn nữ, Ỷ Lan đã bước lên địa vị một phu nhân, rồi được chính đức vua xưng tụng là Thần phi, và đối với nhân dân thì nàng được tôn kính là Quan Âm Nữ ; nàng quả đã được mọi người toàn quốc coi là một cứu tinh của dân tộc. Nàng là cứu tinh của dân tộc không những vì đã sinh được vị thái tử anh minh, mà còn vì ở tư cách lãnh đạo nhân dân, làm cho họ được sống thanh bình trong cảnh an cư lạc nghiệp. Người dân vốn đã sẵn lòng sùng bái vào Tha lực Quan Âm, nay họ đã có dịp hiện thực hóa Phật Bà Quan Âm vào đối tượng Ỷ Lan phu nhân, chứng tỏ có một sợi dây cảm thông, một ý thức nối liền giữa tầng lớp bị trị và tầng lớp thống trị.
Từ trước khi chùa Một cột và tượng Phật Bà Quan Âm xuất hiện, Phật giáo nước ta chì biết có Thiền và Mật thần thông, là khuynh hướng tin tưởng vào Tự lực, chỉ thích hợp với thiểu số người trí thức bác học, giàu nghị lực và ý chí. Từ khi chùa Một cột với tượng Phật Quan Âm ra đời thì hình ảnh Nữ thần Quan Âm đã là đối tượng lý tưởng của đại đa số nông dân tin tưởng vào một Tha lực cứu khổ cứu nạn. Và đến Lý Thánh Tông thì sợi dây nối kết giữa Tự lực và Tha lực, giữa trí thức bác học và nông dân quê mùa, giữa giới thống trị và

* Trang 84 *
device

giới bị trị, chính là nàng thôn nữ Ỷ Lan. Ỷ Lan đối với nhà vua là hình ảnh Quan Âm Nữ, là nguyên lý sinh thành, không những đã đem đến cho nhà vua hiếm hoi một vị thái tử anh minh nối nghiệp, mà còn là một động lực phấn khởi nhiệm mầu khiến cho nhà vua thắng trận khải hoàn ; còn đối với nhân dân thì Ỷ Lan cũng là hình ảnh Quan Âm Nữvì đã đem lại cho họ một xã hội an cư lạc nghiệp. Vì vậy, sau khi thắng giặc Chiêm thành trở về, Lý Thánh Tông đã sáng lập tại kinh đô Thăng long thiền phái Thảo Đường, cũng với ý chí thống nhất tín ngưỡng sùng bái của bình dân với tín ngưỡng trí thức của bác học để lấy sức mạnh toàn dân mà thực hiện mộng « Đại việt » nói về phương diện quốc gia, và thực hiện một môn phái Thiền hoàn toàn Việt nam nói về phương diện Phật giáo.
IV.— MỘT CÁCH TỒNG QUÁT
Nhìn một cách tổng quát, chúng ta thấy Phật giáo thời Lý quả đã chứng tỏ cái năng lực phi thường trong việc giáo hóa con người về cả hai phương diện xuất thế cũng như nhập thế. Từ Thái Tổ đến Chiêu Hoàng trải qua chín đời vua, trị vì suốt một thời gian 215 năm (1010-1225), Phật giáo luôn luôn nắm một vai trò chủ động. Mọi việc về văn học, nghệ thuật, đến chính trị, quân sự đều mang tinh thần Phật giáo. Ba phái Thiền tông Tì Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường cùng nhau hợp tác, truyền bá song hành và cùng chung qui vào một chí hướng phục vụ quốc gia dân tộc.
Về phương diện xuất thế, các thiền sư cũng như các vua chúa sùng dạo đều căn cứ vào Thiền để khai phóng tâm linh, tự mình phát triển trí tuệ mà ngộ đạo. Về phương diện nhập thế, sau khi ngộ đạo, họ đã hòa mình vào đời sống xã hội, từ cung vua, kinh thành cho đến làng mạc, thôn quê, mở bao nhiêu đạo tràng, trường học để mở mang văn hóa, giải phóng tâm hồn mông muội cho người đời ; ở đâu có người sống là ở đó có ánh sáng đạo lý lan tràn tới. Bao nhiêu tinh hoa của dân tộc được khai triển triệt để, làm cho nền văn minh nước ta

* Trang 85 *
device

vào triều Lý thật rực rỡ, dám sánh ngang hàng với Trung hoa khiến cho nước láng giềng to lớn này phải nể sợ.
Tinh thần Phật giáo thời Lý, nhất là từ khi hình ảnh hoa sen với tượng Phật Bà Quan Âm xuất hiện, không phải là một tinh thần Phật giáo Thiền tông thuần túy mà là cả một tinh thần dung hòa và sáng tạo. Từ Vạn Hạnh thiền sư với triết lý «dung tam tế» đến Từ Đạo Hạnh, Minh Không với khuynh hướng tổng hợp Thiền Mật, sử dụng quyền năng thần thông để giúp đời; rồi các thiền sư Viên Chiếu, Cứu Chỉ, Ngộ Ấn, Thông Biện, Viên Thông v.v... đều khai triển cái học TAM GIÁO gồm Nho, Lão, Phật để phụng sự quốc dân, khiến cho cái tinh thần «Bi, Trí, Dũng» của Phật giáo hay «Nhân, Trí, Dũng» của Nho giáo được các cấp lãnh đạo thực hành triệt để, xây dựng một nước Việt hùng cường và thịnh vượng. Dùng tâm dạo để giác ngộ tự tính và xét soi mọi việc không sai lầm là « TRÍ»; đánh giặc mà không giết giặc, ở ngôi cao mà luôn luôn thương tưởng đến kẻ thấp hèn là « NHÂN »; ở bên cạnh mối đe dọa triền miên mà không sợ, lại dám mang quân đánh người làm cho người ta phải sợ mình là « DŨNG ». Tinh thần Bi, Trí, Dũng ấy lại là một tinh thần toàn dân thống nhất do công trình nối kết từ tín ngưỡng trí thức quý tộc đến tín ngưỡng sùng bái bình dân của vua Lý Thánh Tông qua hình ảnh hoa sen với Quan Âm Nữ, nhất là sự sáng lập thiền phái Thảo Đường, đã làm cho Phật giáo Việt nam thời nhà Lý có một tinh thần tín ngưỡng hợp sáng đặc biệt.
Tất cả những sự kiện trên đã làm cho nước ta dưới thời đại nhà Lý thật xứng đáng với danh xưng « Đại Việt » mà Lý Thánh Tông đã đặt nền móng, và đến Lý Nhân Tông thì đạt thành, rồi các đời sau nối tiếp...
 
NGUYỄN HỮU LỢI

* Trang 86 *
device

CHÚ THÍCH
 
  1. Theo Nguyễn Đăng Thục, Lịch sử Tư Tưởng Việt Nam, (tập II Saigon : Phủ Quốc vụ khanh đặc trách Văn hóa, 1969), tr. 98.
  2. Nguyễn Đăng Thục, Sđd, tr. 102.
  3. Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt (Saigon : Ban Tu Thư Đại Học Vạn Hạnh 1967), trang 54.
  4. Trần Văn Giáp, Phật Giáo Việt Nam, Tuệ Sỹ dịch (Saigon : Ban Tu Thư Đại Học Vạn Hạnh 1968), trang 146.
  5. Nguyễn Đăng Thục, Lịch sử Tư Tưởng Việt Nam, tập II (Saigon : Phủ Quốc vụ khanh đặc trách Văn hóa, 1969), trang 112.
  6. T. T. Mật Thể, Việt Nam Phật Giáo sử Lược (Nha trang : Phật học viện Trung phần, 1960), trang 128.
  7. Nguyễn Đăng Thục, Lịch sử Tư Tưởng Việt Nam, tập II, tr. 115.
  8. Nguyễn Đăng Thục, Sdd, tr. 115-116.
  9. Nguyễn Đăng Thục, Sdd, tr. 116.

    SÁCH THAM KHẢO
  • Hoàng Xuân Hãn. Lý Thường Kiệt. Saigon : Ban Tu thư Đại Học Vạn Hạnh, 1967.
  • Nguyễn Đăng Thục. Lịch Sử Tư Tưởng Việt Nam, tập I, II. Saigon : Phủ Quốc vụ khanh đặc trách Văn hóa, 1969.
  • Nguyễn Đăng Thục. Thiền Học Việt Nam. Saigon : Lá bối, 1967.
  • Nguyễn Đăng Thục. Triết Lý Văn Hóa Khái Luận. Saigon : Văn Hữu Á Châu, không đề năm xb.
  • Nguyễn Đăng Thục. Văn Hóa Việt Nam với Đông Nam Á. Saigon : Văn Hóa Á Châu, 1961.
Thích Mãn Giác. Phật Giáo và Nền Văn Hóa Việt Nam. Saigon : Ban Tu thư Đại học Vạn Hạnh. 1967.

* Trang 87 *
device

  • Thượng tọa Mật Thể. Việt Nam Phật Giáo Sử Lược. Nha Trang : Phật học viện Trung Phần, 1960.
  • Trần Trọng Kim. Việt Nam Sử Lược. Saigon Tân Việt, in lần thứ sáu.
  • Trăn Văn Giáp. Phật Giáo Việt Nam. (Tuệ Sỹdịch) Saigon : Ban Tu Thư Đại Học Vạn Hạnh, 1968.
TU THƯ ĐẠI HỌC VẠN HẠNH
đã phát hành nhân Mùa Vu Lan, Giáp Dần :
PHẬT HỌC,
THIỀN HỌC VÀ THI CA...
của T.T. THÍCH MÃN GIÁC
 
«... Tương quan giữa Thiền học, Phật học và Cuộc đời là gì ? Phật học, Thiền học đã từng đóng góp những gì vào việc giải quyết những vấn đề sanh tử trọng đại cho những bậc cổ đức Việt nam thời xưa ? Phật học, Thiền học sẽ đóng góp được gì vào công trình giải phóng người Thanh niên thời đại trước bi kịch văn hóa, chánh trị, kinh tế, giáo dục hiện nay ? Sức sống cuồn cuộn khỏe mạnh của Phật học, Thiền học Việt nam đã đóng góp những gì cho nền Văn hóa và Thi ca dân tộc ? Nguồn suối tâm linh ấy đã mang những đặc chất nào trong các nền tư tưởng Ấn độ và Trung hoa... ?» (Trích lời tựa của Tác giả).

* Trang 88 *
device

 
Tư Tưởng Số 1 (Năm 1974)