LOGO VNBET
NHỮNG KHÁI NIỆM VỀ
BIẾN CHUYẾN XÃ HỘI
TRONG XÃ HỘI HỌC CỒ ĐIỂN
* LÊ VĂN HÒA
 
Sự biến chuyển xã hội là một hiện tượng thường hữu và phồ quát. Các triết gia ở thời đại khoa học chưa được mở mang thường diễn tả sự biến chuyển lịch sử xã hội bằng nhiều ảnh tượng, chẳng hạn, như một giòng sông trôi chảy không ngừng, như một chuỗi dây vô tận, như một con sóng thần bất khuất, v.v.... Nghiên cứu về sự biến chuyển và biến hóa xã hội cũng như nỗ lực thiết lập lên những lý thuyết căn bản để giải thích những hiện tượng biến hóa toàn thể xã hội không chỉ là lo âu lớn của các triết gia xã hội tiền bối mà còn là công việc quan trọng của nhiều nhà xã hội học hiện thời.
Các nhà xã hội học hiện thời vẫn thường nêu lên những câu hỏi căn bản mà các triết gia xã hội từ hậu bán thế kỷ 20 trở về trước đã đặt ra trong đầu óc của họ : Xã hội biến đổi như thế nào? Do nguyên lực nào thúc đẩy? Và theo chiều hướng biến dịch nào? Tất cả họ đều băn khoăn tìm kiếm những câu trả lời cho những câu hỏi giống nhau dù có phần khác nhau ở phương pháp và lý thuyết được dùng đến.

* Trang 89 *
device

TỪ Ý NIỆM CẢI CÁCH XÃ HỘI ĐẾN Ý NIỆM TIẾN HÓAXÃ HỘI.
Ý niệm biến cải xã hội được nêu ra do nhiều triết gia xã hội ngay từ thế hệ của Plato và vẫn còn được nhấn mạnh do các thế hệ triết gia của thế kỷ 16, 17, 18 và ngay cả hiện thời. Thoảng nhìn lại thời Trung cổ, chúng ta thấy rằng có nhóm triết gia chủ trương sự thay đổi cải biến xã hội chỉ mang lại sự mất quân bình và trật tự của xã hội. Ví dụ, Machiavelli, một tư tưởng gia xã hội ở thời phục hưng nước Ý được xem như là đại biểu cho Aristote, đề cao sự duy trì quyền lực của vua chúa và hoàng tử để an định tình thế chính trị. Cũng có nhóm chủ trương ngược lại rằng sự cải biến xã hội là cần thiết và là con đường duy nhất để dẫn đến sự hủy diệt các guồng máy quân chủ phong kiến độc tài và tạo lập sự bình đẳng xã hội. Ví dụ, Locke (1632-1704) có thể đại diện cho nhóm triết gia xã hội này. Condorcet và Saint-Simon vào thế kỷ 18 tiếp tục đề cao chủ trương của Locke. Condorcet cho rằng con người có khả năng thiện mỹ hóa đời sống xã hội của họ theo ước vọng chung của họ. Các vị vua chúa và hoàng tử tự xem họ là « con trời » với quyền hành thiên phú chỉ là những kẻ phản động trong việc cải tiến xã hội. Condorcet cũng tin rằng sự khám phá khoa học có mục đích duy nhất là để cải thiện đời sống vật chất cũng như tinh thần của con người trong xã hội theo những định luật căn bản của thiên nhiên. Cũng theo chủ trương trên, Saint-Simon và nhiều nhà tư tưởng xã hội khác tiến xa hơn nữa và phổ xướng phong trào xã hội chủ nghĩa.
Ý niệm về cải tiến xã hội đề cao nỗ lực của con người được nổi bật trong những thế kỷ 16, 17,18 và về sau. Đề cao ý niệm này nhằm vào sự đả phá các cơ cấu chính trong xã hội thời ấy : chính trị và tôn giáo, cải hóa các guồng máy chính trị quân chủ phong kiến và đập đổ đức tin định mệnh của Thiên chúa giáo mang sắc thái chính của phần lớn tư tưởng xã hội của thế kỷ 18. Locke, Condorcet, Saint-Simon và các nhà triết học xã hội thật ra có can đảm để phổ xướng chủ thuyết tiến hóa và cải cách trên. Họ hô hào phá hủy niềm tin cổ truyền của Giáo hội

* Trang 90 *
device

Thiên chúa bằng cách chủ trương rằng chính con người chứ không phải Thượng đế tạo lập xã hội và pháp luật, vàdo đó chính con người có thể cải thiện xã hội và pháp luật để tạo cho con người một đời sống an lạc và bình đẳng. Đề cao lý trí là có mục đích để tiêu trừ những ảnh hưởng của các huyền thoại, dị đoan, luật lệ phong kiến và các tư tưởng thần học giáo điều.
CÁC TRIẾT GIA XÃ HỘI ĐẦU TIÊN ĐỀ XƯỚNG CHỦ THUYẾT TIẾN HÓA.
Tiếp đến thế kỷ 19, phong trào hô hào cải cách xã hội của các thế kỷ trước chuyển sang thành những hình thức chủ thuyết tiến hóa rõ rệt do các nhà tư tưởng xã hội đề xướng, chẳng hạn, Auguste Comte, Herbert Spencer và F. Toennies. Những vị này vẫn tiếp tục đề cao vai trò lý trí và khả năng cải thiện hóa của con người đối với xã hội của họ. Khác với những nhà tư tưởng xã hộitrước, chẳng những hô hào cải thiện đời sống xã hội dựa trên quan điểm luân lý và chính trị của họ, các nhà xã hội học tiền phong này lại còn phát biểu một cách có hệ thống những định luật chỉ định sự tiến hóa xã hội và các chiều hướng tiến hóa ấy. Đối với họ, sự tiến hóa của xã hội là một hiện tượng phổ quát không thể tránh khỏi được. Sự tiến hóa được động khởi bởi sức mạnh của trí tuệ và tiệm tiến trên đà thiện mỹ.
Auguste Comte (1798-1857) là tư tưởng gia đầu tiên đã đặt tên cho môn học xã hội và đặt nó vào một chỗ đứng tuyệt đỉnh trên các ngành khoa học khác. Theo ông, phương pháp thực nghiệm là quan trọng. « Biết để tiên đoán ; tiên đoán để thực hiện » (savoir pour prévoir ; prévoir pour pouvoir) là phương châm cho mọi nghiên cứu của ông về các hiện tượng biến hóa xã hội. Theo ông, xã hội có một động lực biến chuyển tất hữu.Động lực này được tác thành nhờ sự tương quan gắn bó hòa hợp giữa các phần tử trong những hệ thống xã hội.
Chiều hướng tiến hóa của xã hội con người theo một quá trình bất phản hồi từ một hình thức đơn thuần đến một hình thức

* Trang 91 *
device

phức tạp. Sự tiến hóa của xã hội đi từ ba giai đoạn mang sắc thái ảnh hưởng rộng rãi của sự phát triển tư tưởng nhân loại: từ hình thức xã hội chịu ảnh hưởng của tư tưởng thần học đến hình thức xã hội chịu sức ảnh hưởng của lý trí siêu hình và cuối cùng chuyển đến hình thức xã hội chịu ảnh hưởng mới của văn minh thực nghiệm khoa học. Sự phân loại những hình thức xã hội của Comte chỉ là một sự đơn giản hóa các hình thức tiến hóa thiên hình vạn trạng của xã hội. Nói theo Raymond Aron, Comte hình như muốn tóm lược nhiều hình thể xã hội ở trong nhiều điểm thời gian và không gian theo hình thức phát triển tư tưởng của nhân loại. Mặc dù Comte đưọc xem như một trong những nhà tư tưởng xã hội đầu tiên quan tâm đến sự phân biệt giữa ý niệm tiến hóa và toàn thiện với ý niệm biến chuyển, phần lớn thảo luận của ông về sự tiến hóa xã hội vẫn còn mang nhiều sắc thái đề cao luân lý và chính trị. Comte diễn tả thêm rằng hoạt động căn bản của con người trong mọi hình thức xã hội trên đều mang sắc thái riêng biệt : từ hoạt động chinh phục thiên nhiên và các xã hội lân cận đối thủ đến hoạt động phòng thủ và đến nỗ lực phát triển kỹ nghệ thịnh vượng.
Herbert Spencer (1820-1903). Lý thuyết tiến hóa được tiếp tục đề xướng do Spencer trong nhiều tác phẩm chính của ông, nhất là trong First Principles (1862) và Principles of Sociology (1876- 1896). Tư tưởng về tiến hóa xã hội của ông chịu nhiều ảnh hưởng từ tác phẩm On the Origin of Species (1859) của Charles Darwin, một nhà nhân chủng học Anh. Theo Darwin, sự tiến hóa của con người và xã hội là một hiện tượng chung theo nguyên tắc sinh tồn thích ứng (the principle of the survival of the fittest) của thiên nhiên. Chính nguyên lý này của Darwin đã tạo một nền móng căn bản cho tư tưởng của nhiều học giả và tư tưởng gia xã hội đương thời và sau này. Ảnh hưởng từ Darwin, Spencer tin rằng quá trình tiến hóa của xã hội lưu dịch liên tục theo nguyên lực vũ trụ. Như một phần hiện hữu của vũ trụ, xã hội con người phải cạnh tranh sinh tồn với các xã hội lân cận đối thủ và hoàn cảnh thiên nhiên ngoại tại. Chính trong

* Trang 92 *
device

quá trình cạnh tranh sinh tồn đó, xã hội được thiết lập trong trật tự, tổ chức, và phân chia quyền hạn, giai cấp rõ ràng. Xã hội phát triển và thành hình bằng những cơ cấu tổ chức theo định chế. Theo ông, mỗi xã hội bao gồm ba tổ chức định chế chính: định chế bảo trì (như gia đình, hôn nhân, họ tộc), định chế kinh tế (như các tổ chức sản xuất, thương mãi), và định chế điều hành trật tự (như các tổ chức tôn giáo, chính trị, giáo dục). Xã hội được tiến hóa trong trạng thái quân bình biến dịch (moving equilibrium) tạo ra bởi mối tương quan hòa hợp giữa các tổ chức định chế đó.
Cũng như Comte, Spencer quan tâm đến sự phân tích sự biến chuyển xã hội theo quan điểm rộng lớn về xã hội. Theo ông, xã hội biến chuyển từ hình thức đơn giản đến hình thức phức tạp, từ những tổ hợp tộc hệ, bộ lạc đến làng mạc, đô thị, quốc gia rộng lớn. Khi xã hội được thành hình, sinh hoạt xã hội biến hóa theo hai hình thức chính từ xã hội phong kiến quân lực đến xã hội kỹnghệ thịnh vượng, ở hình thức đầu, sự hợp tác giữa các tổ chức có tính cách áp bức; ngược lại, ở hình thức thứ hai xã hội kỹ nghệ được lãnh đạo bởi các dân sự, sự hợp tác có tính cách thoả ước vả tự do. Tình trạng khẩn trương tranh chấp giữa nhóm dân sự và nhóm lãnh đạo quân lực ở hình thức xã hội đầu không thể tránhkhỏi được. Nhưng, theo nguyên lực tiến hóa của vũ trụ và sinh tồn thích ứng của con người, hình thức xã hội kỹ nghệ thịnh vượng và tự do sẽ trở nên ưu thế. Chính trong xã hội này, sự phát triển cần lao được phân hóa thêm, hợp đồng được đề cao, các hình thức tự do được nhấn mạnh, và luật pháp được duy trì áp dụng. Nhận định chung của Spencer về sự tiến hóa từ hình thức xã hội quân lực đến hình thức xã hội kỹ nghệ có thể tóm lược trong những mệnh đề căn bản như sau :
  1. Hầu hết các xã hội đều bắt đầu phát triển bằng hình thức xã hội quân lực.
  2. Một khi nền thịnh vượng của xã hội được phát triển phong phú, hình thức xã hội kỹ nghệ và tự do sẽ được thành hình.

* Trang 93 *
device

3. Trong hình thức xã hội quân lực, sự hợp tác giữa các tổ chức trong hệ thống xã hội có tính cách áp bức miễn cưỡng và sự tranh chấp giữa các nhóm lãnh đạo quân sự càng lúc càng khẩn trương.
4. Theo nguyên tắc sinh tồn thích ứng, xã hội kỹ nghệ thịnh vượng được lãnh đạo bởi các nhóm dân sự sẽ được ưu thế lên trên hình thức xã hội quân lực độc tài.
5. Trong xã hội kỹ nghệ, dân số càng được phát tăng, kỹ nghệ càng được phát đạt thêm, mức độ sản xuất càng gia thịnh.
6. Một khi nền kỹ nghệ và dân số được phát triển, mọi tương quan giữa cá nhân cũng như giữa các tổ chức càng có tỉnh cách hợp đồng và sự hợp tác do đó càng ít bị áp bức như ở trong hình thức xã hội quân lực.
7. Một khi sự tương quan giữa cá nhân trong xã hội dựa trên nguyên tắc thỏa ước, cá nhân càng có nhiều tự do và do đó tinh thần cá nhân càng phát triển, và mối liên lạc với gia đình, địa phương, tôn giáo càng trở nên lỏng lẻo.
Hiển nhiên, sự phân loại đơn giản các hình thức xã hội này của Spencer dựa trên những hình thức sinh hoạt phát triển xã hội không tránh khỏi nhiều chỉ trích. Chính vì vậy, lý thuyết tiến hóa của Spencer trở nên mờ nhạt và bị lãng quên dần dần trong văn chương khảo cứu thực nghiệm của xã hội hiện đại.
CÁC TƯ TƯỞNG GIA CHỊU ẢNH HƯỞNG CỦA AUGUSTE COMTE VÀ HERBERT SPENCER.
Tư tưởng về xã hội tiến hóa của Comte, Spencer và nhà nhân chủng học Darwin gây nhiều ảnh hưởng cho các tư tưởng gia xã hội suốt cuối thế kỷ 19 và đến giữa thế kỷ 20. Những tư tưởng gia này, dù có khác biệt ít nhiều trên sự giải thích các nguyên nhân phát động sự tiến hóa xã hội, đều có cùng một quan điểm là xã hội tiến triển theo chiều hướng liên tục thiện mỹ hóa. Sắc thái tư tưởng chung của các triết gia xã hội này tạo nên một phong trào cho thuyết tiến hóa mới (neo-evolutionism).

* Trang 94 *
device

GumplowiczRatzenhofer ở Úc là hai nhà xã hội học chịu nhiều ảnh hưởng của Darwin và Spencer. Ludwig Gumplowicz (1838-1909), qua nhiều tác phẩm chính của ông như Race and State (1875), Race Struggle (1883,) và đặc biệt là Outline of Sociology (1885) trình bày rõ ràng quan điểm của ông về sự biến hóa xã hội. Theo ông, sự tiến triển xã hội và văn hóa là kết quả tất hữu của sự tranh chấp giữa các nhóm giai cấp trong xã hội. Sự tranh chấp này có mục đích chính là để đạt sự hiện hữu và sinh tồn thích ứng của những giai cấp trong hệ thống xã hội. Các nhóm giai cấp đóng vai trò quyết định quan trọng và cá nhân chỉ là phụ thuộc. Trình độ luân lý của mỗi cá nhân là kết quả trình độ luân lý tập thể đó. Có hai thể thức điều hành sự tương quan giữa cá nhân và đoàn thể, nhóm giai cấp trong xã hội : thứ nhất, thể thức luật pháp là những nguyên tắc luân lý cưỡng bách, và thứ hai, sự phân chia giai cấp xã hội dựa trên sự khác biệt chủng tộc và địa vị chức nghiệp. Chính những khác biệt chủng tộc, quyền lợi kinh tế, và tham vọng sinh tồn thích ứng là những nguyên lực tạo nên sự tiến hóa trong quá trình tranh chấp.
Gustave Ratzenhofer (1812-1904) giải thích khác hẳn rằng sự tiến triển xã hội không phải là một quá trình tranh chấp cho độc quyền chủng tộc, quyền lợi kinh tế và sự sinh tồn mà là một quá trình xã hội hóa (danh từ «xã hội hóa » được ông dùng hàm ngụ một ý nghĩa khác hẳn với các nhà xã hội học hiện thời). Quá trình xã hội hóa được ông định nghĩa là một quá trình trong đósở thích cá nhạn được nhận thức và tùy thuộc vào sở thích chung của tập thể. Biến chuyển xã hội được gây ra bởi bản năng ái hữu Urkraft. Sự cải tiến xã hội là do ở sự điều hòa dung hợp các tư lợi giữa cá nhân và các giai cấp trong xã hội. Sự tranh chấp và chiến tranh là những hiện tượng đưa đến sự hủy diệt trật tự và sự thiện mỹ của xã hội.
Các nhà xã hội học Mỹ như Wardm Small, Sumner và Giddings cũng đồng thời phổ xướng thuyết tiến hóa qua nhiều sự ảnh hưởng của Comte, Spencer và Darwin.

* Trang 95 *
device

Lester F. Ward (1841-1913) là nhà xã hội học Mỹ đầu tiên nhấn mạnh tác năng tâm lý trên quá trình biến chuyển xã hội. Theo ông, sự tương quan hòa hợp giữa các tổ chức trong xã hội là nền tảng chính cho động lực biến động xã hội. Quá trình tiến hóa xã hội được tác khởi bởi sức mạnh chủ định tâm lý của con người. Định luật tiến hóa là định luật điều hòa những sức mạnh chính : sức mạnh vô hướng định của thiên nhiên ảnh hưởng trên con người và sức mạnh chủ định của con người liên hệ đến sinh hoạt xã hội. Sức mạnh thứ hai này ông còn gọi là sức mạnh xã hội gồm có những sức mạnh ái lạc, sức mạnh dâm lạc và sinh sản, sức mạnh luân lý, sức mạnh về thẩm mỹ, và sức mạnh trí tuệ. Quá trình tiến hóa xã hội trải qua những giai đoạn rõ rệt với những sức mạnh có ảnh hưỏng nổi bật lên sự sinh hoạt con người. Đầu tiên, xã hội ở giai đoạn dưới sức điều động của thiên nhiên và sinh lý (cosmogeny and biogeny) trong đó con người chỉ sống theo động lực tâm lý chính như chỉ tìm kiếm khoái lạc và trốn tránh khổđau; đến giai đoạn kế tiếp xã hội được phát triển động lực nhân bản trong đó bản năng sinh sản và tình cảm gia đình, tộc hệ nổi bật; và cuối cùng ở giai đọạn con người được chủ định bởi sức mạnh xã hội như luân lý, thẩm mỹ, luật pháp về tri thức. Các sức mạnh trên có thể được phát hiện trong quá trình đi từ sự va chạm, xung đột, hận thù, đối lập, cạnh tranh, tương giao, hòa hoãn cho đến hợp tác. Mọi sự biến chuyển xã hội đều được xảy ra theo nguyên tắc dung hòa động lực xã hội và theo chiều hướng khả thiện hơn. Quan điểm tiến hóa xã hội của Ward dựa trên sinh lý học hơn là tâm lý học không gây được ảnh hưởng sâu rộng ở Mỹ. Tuy nhiên, phần nào lý thuyết của ông chẳng hạn như nguyên tắc dung hòa động lực xã hội và quá trình diễn tiến các hiện tượng tâm lý được ông nêu lên trở nên phương pháp chính cho Leopold Von Wiese và Georg Simmel (ở Đức) cũng như Robert E. Park (ở Mỹ).
Albion w. Small (1854-1926), chẳng những chịu ảnh hưỏng từ Darwin mà còn từ Ratzenhofer, tin rằng sở thích về tư lợi là nguyên động lực chính của mọi biến chuyển của toàn thể xã

* Trang 96 *
device

hội. Quá trình tiến hóa xã hội chính là quá trình từ sự phát triển, thích ứng đến sự thỏa mãn các sở thích chung của con người như tài sản, địa vị, quyền hành, kiến thức và thẩm mỹ. Những tranh chấp xung đột về sở thích không thể tránh khỏi ; nhưng nhờ khả năng xã hội hóa của con người, các tranh chấp được dung hòa và đà biến dịch được đặt trong trạng thái quân bình.
William G. Sumner (1840-1910) trình bày phần lớn chủ thuyết tiến hóa của ông trong tác phẩm nghiên cứu, Folkways (1906). Theo ông, xã hội là một tổng hợp hệ thống sức mạnh biến dịch theo định luật tiến hóa. Động lực xã hội chính là động lực của con người cạnh tranh với thiên nhiên và với các nhân chủng khác để sinh tồn. Xung đột, chiến tranh, và sự phân chia giai cấp là những kết quả không thể tránh khỏi. Những hiện tượng này chính gây ảnh hưởng quan trọng trên sự gia tăng dân số và phồn thịnh nền kinh tế ; còn sức mạnh luân lý và đạo giáo chỉ là phần lệ thuộc. Mặc dù nhấn mạnh đến quá trình biếnchuyển xã hội theo nguyên tắc xung khích như Gumplowicz, Sumner không vượt mình ra khỏi sắc thái tư tưởng lạc quan của thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 và tin rằng sự thay đổi xã hội theo chiều hướng thiện mỹ hóa.
Franklin H. Giddings (1855-1931) cũng như Ward tin rằng động lực tâm lý là nguyên nhân chính tạo ra sự tiến hóa xã hội. Động lực tâm lý này quyết định mối tương quan giữa các phần tử của xã hội và gồm có các khả năng như khả năng thỏa đồng, khả năng bắt chước (ảnh hưởng bởi Gabriel Tarde (1843- 1904), nhà xã hội học Pháp) và khả năng ý thức đồng chủng (« consciousness of kind » là ý niệm do chính ông nêu lên). Luật tiến hóa được ông đề xướng bao gồm hai định luật chính : định luật theo quá trình tâm lý và định luật theo quá trình vật lý. Định luật của quá trình tâm lý cũng là định luật xã hội bị điều khiển và giới hạn bởi định luật vật lý. Sự sinh tồn thích ứng của con người chẳng những tùy thuộc vào sức mạnh của tâm lý hay ý chí xã hội mà còn lệ thuộc vào sức mạnh hiện hữu

* Trang 97 *
device

của thiên nhiên. Sự sinh tồn của con người và xã hội được đồng nghĩa với sự phát triển trí tuệ, luân lý và tình cảm ở con người. Chiều hướng tiến triển của xã hội được Giddings phát biểu tương tự như Ward. Xã hội biến chuyển qua bốn giai đoạn chính, từ giai đoạn đời sống con người thô sơ như vạn vật đến giai đoạn tinh thần nhân bản được phát triển, đến giai đoạn sự phân chia chủng tộc được thành hình, và cuối cùng đến giai đoạn văn minh được phát triển.
Buckle, Tylor, Bagehot, Kidd và nhiều nhà tư tưởng xã hội khác ờ Anh đều nhấn mạnh đến các tiêu chuẩn, chiều hướng và hậu quả của biến chuyển xã hội.
Henry T. Buckle (1821-1862) trong tác phẩmThe History of Civilization in England (1857-1861) nêu lên ý tưởng căn bản rằng quá trình tiến hóa của xã hội và lịch sử là kết quả ảnh hưởng của ngoại giới lên trên trí tuệ của con người và cũng là kết quả ảnh hưởng của trí tuệ lên trên ngoại giới. Văn minh phần lớn được phát triển do các nhóm giai cấp nhàn cư nhờ ở mức độ sản xuất thừa thải. Sự thừa bội sản xuất lên trên sự tiêu thụ chính là do mức phát triển kỹ thuật, trình độ tổ chức cần lao và hoàn cảnh thuận tiện của thiên nhiên ngoại giới. Khí hậu và đất đai nói chung, hoàn cảnh địa lý gây ảnh hưởng chính lên trên sự sinh hoạt và biến chuyển xã hội. Ở giai đoạn sơ khai, xã hội còn phôi thai, văn hóa còn thô thiển, sức mạnh ảnh hưởng của địa lý càng rộng lớn ; nhưng khi xã hội càng được văn hóa, phát triển kỹ thuật càng tăng, và do đó sức ảnh hưởng của thiên nhiên càng giảm.
Dù có tin tưởng vào chiều hướng tiến hóa của xã hội, Buckle khác với các nhà chủ thuyết tiến hóa đương thời với ông ở chỗ ông cho điều kiện địa lý là nguyên nhân tất định cho sự biến chuyển xã hội. Cũng như Buckle, Edward B. Tylor (1832- 1917), một trong những nhà nhân chủng học tiên phong, không chịu ảnh hưởng tư tưởng của Comte, Spencer và Darwin, và không tin rằng sự biến hóa xã hội là tự nhiên tất yếu. Theo ông, kỹ thuật và kiến thức khoa học ảnh hưởng chính yếu trên sự

* Trang 98 *
device

phát triển tôn giáo, chính trị cũng như văn minh hay văn hóa nói chung.
Walter Bagehot (1820-1877) cho rằng tinh thần đoàn kết gắn bó của các giai cấp và tổ chức cơ cấu trong xã hội gây ảnh hưởng quan trọng trong quá trình tiến hóa. Tinh thần đoàn kết gắn bó này là do ở chỗ con người từ thế hệ này đến thế hệ khác cùng thụ hưởng chung « cái bánh ngọt của phong tục tập quán » (the cake of custom). Nhờ sự hưởng thụ, duy trì và tập tàng các phong hóa xã hội, con người mới được biến chuyển theo đà thiện mỹ.
Benjamin Kidd (1858-1916) lại coi hiện tượng tôn giáo là yếu tố nguyên nhân của mọi biến chuyển xã hội chứ không phải là khả năng lý trí của Comte đề xưóng. Ông lý luận trong tác phẩmcủa ông, Social Evolution (1894), rằng lý trí làm con người trở thành ích kỷ và thiếu tinh thần xã hội, ngược lại tôn giáo tạo con người đức tính vị tha, đoàn kết, và tôn trọng luân lý, luật pháp.
Ngoài ra, Leonard T. Hobhouse (1864-1929) và Morris Ginsberg cũng tin rằng biến chuyển xã hội là hiện tượng phổ quát, tất hữu và tự nhiên không thể tránh được. Với Hobhouse, quá trình tiến hóa là quá trình phát triển luân lý và trí tuệ cùa nhân loại, như ông đã tóm tắt :
« Lúc ban đầu, chỉ có phong tục pha trộn các sắc thái luân lý và phi luân lý, được chấp nhận mà không có một sự phê phán chống đối nào và nó hướng dẫn đời sống con người mà không theo một phương thức hệ thống hay một kế hoạch phổ quát nào. Ở giai đoạn cuối cùng là trật tự lý trí của mọi hành vi cư xử của con ngưòi tùy thuộc vào sự phát triển của họ và được hướng dẫn đến một trình độ cao đẹp hơn. » (Morals in Evolution)
Do đó, tiến hóa xã hội là « sự biến chuyển trí tuệ của con người từ trạng thái vô minh, vô thức đến trạng thái nhận thức được mục đích của họ và tự hướng dẫn được mọi sinh hoạt của

* Trang 99 *
device

họ. Chính những biến chuyển căn bản này gây ảnh hưởng trên giòng lịch sử nhân loại. »
Morris Ginsberg cũng đồng quan điểm với Hobhouse khi đề cập đến lịch sử biến chuyển của nhân loại, cả hai nhà xã hội học này đều tin rằng chiều hướng biến chuyển xã hội trải qua từ những hình thức tổ chức đơn giản đến phức tạp, chặt chẽ, gắn bó và tốt đẹp hơn. Sự tiến hóa xã hội này chính là do ở quá trình phát triển luân lý.
Coste, Novicoiv và Durkheim ở Pháp.
Adolphe Coste (1842-1901) cho rằng nguyên nhân chính của tiến hóa là mức phát triển dân số. Mật độ dân số ảnh hưởng đến sự phồn thịnh đời sống xã hội và có khả năng biến chuyển thành phố nhỏ thành đô thị lớn. Sự phát triển này cũng song song ảnh hưởng lên trên sự phát triển những tổ chức trong xã hội như chính quyền, kinh tế, tài sản, và các tài sản phức tạp khác.
Jacques Novicow (1849-1912) chịu ảnh hưởng của Darwin, tin rằng cạnh tranh sinh tồn là động lực chính cho sự biến chuyển xã hội. Có bốn giai đoạn chính cho quá trình tiến hóa : giai đoạn đầu là cạnh tranh với thiên nhiên và các nhóm chủng tộc khác ; giai đoạn thứ hai là tranh giành quyền lợi kinh tế ; giai đoạn thứ ba là tranh giành quyền lợi chính trị trong vùng lãnh thổ quốc gia ; và giai đoạn cuối cùng là xung đột tư tưởng và ý thức hệ. Những xung đột này có thể đưa đến bạo động không thể tránh được như chiến tranh tôn giáo và các cuộc cách mạng đẫm máu. Chính qua những giai đoạn này xã hội được cải hóa ở chính trị, kinh tế, công bằng xã hội.
Qua Émile Durkheim (1858-1917), quá trình tiến hóa được ông đề cập một cách đơn giản và với một chủ ý khác với nhà xã hội học tiên phong và đương thời với ông. Chính ở trong luận án tiến sĩ của ông thảo luận về sự phân phối cần lao trong xã hội, De la Division du Travail Social (1893), ông trình bày rõ ràng sự phân phối cần lao và phân hóa các nhóm nghề nghiệp là nguyên nhân của mọi biến chuyển trong xă hội. Theo

* Trang 100 *
device

ông, xã hội biến chuyển qua hai giai đoạn với hai hình thức xã hội rõ rệt, từ giai đoạn xã hội được liên kết chặt chẽ thuần nhất (solidarité méchanique) đến giai đoạn sự liên đới này trở nên phân hóa phức tạp (soliliđarité organique), hay từ giai đoạn trong đó hành vi, cư xử, sinh hoạt của con người được khuôn thức theo tinh thần tập thể, tương đồng đến giai đoạn trong đó sinh hoạt xã hội của họ trở nên tạp dị. Trong hai hình thức xã hội này thành phần cá nhân và tổ chức trong hệ thống xã hội đều được ràng buộc bởi dây liên đới xã hội.
Sự phân phối cần lao càng được phát triển theo thời gian và gây nên những sự thay đổi chính như sinh hoạt của phần tử xã hội, luật pháp, văn hóa, chính trị, kinh tế, tôn giáo, và ý thức hệ. Sự phân chia cần lao càng được phát triển, những biến chuyển có thể xảy ra như sau :
  1. Tinh thần thuần phong mỹ tục cổ truyền càng suy giảm và tinh thần cá nhân được tăng.
  2. Tự do cá nhân càng phát triển cũng như mối tương quan giữa các phần tử xã hội càng trở nên có tính cách hợp đồng thỏa ước.
  3. Mức hỗ tương tùy thuộc trở nên càng rộng rãi.
  4. Chức vụ chính trị càng trở nên phân hóa phức tạp và mối tương quan giữa chính quyền và công dân càng được duy trì chặt chẽ trên nguyên tắc luật pháp.
  5. Những tổ chức kinh doanh càng được tự do thiết lập, phát triển do tư nhân hay gồm nhiều nhà tư bản hợp tác.
  6. Tôn giáo càng được phổ biến rộng rãi và quan điểm cá nhân về Thượng đế càng được tự do phát biểu.
  7. Tinh thần tộc hệ và địa phương càng suy giảm và tương quan quốc tế càng được phát triển mạnh thêm.
Thật ra, nghiên cứu đến lịch sử tiến hóa của xã hội không phải là trọng điểm của Durkheim. So sánh và tương phản hai

* Trang 101 *
device

hình thức xã hội được ông dùng như khuôn khổ lý thuyết căn bản để xếp loại và phân tích các hiện tượng xã hội như ý thức tập thể, tinh thần luân lý, tổ chức tôn giáo, hình thức tội trạng, vân vân.
Đồng thời với các nhà xã hội học trên, các nhà xã hội học đầu tiên của Đức như Tonnies, Siminel và Weber cũng quan tâm đến việc nghiên cứu lịch trình tiến hóa xã hội một cách sâu rộng.
Ferdinand Tonnies (1853-1930) qua tác phẩm căn bản của ông, Gemeinschoft und Gesellschaft (1887) cho rằng xã hội biến chuyển qua hai hình thức sinh hoạt rõ rệt, từ hình thức của đời sống cộng đồng được cố kết bởi dây liên lạc tình cảm, hỗ tương, thân thiện (Gemeinschaft) đến hình thức của đời sống xã hội được ràng buộc bởi nguyên tắc lý trí, sự tính toán, khế ước, luật pháp (Gesellschaft). Cũng như Durkheim, Tonnies dùng sự phân loại hai hình thức xã hội này như một khuôn khổ lý thuyết chính yếu để đi đến phân tích những cơ cấu lớn trong xã hội như gia đình, làng mạc, đô thị, nếp phong tục tạp quán (Sitten). Sự phân loại này của Tonnies gây ảnh hưởng nhiều trên các nghiên cứu của những nhà xã hội học và nhân chủng học hiện đại như Howard Becker và Robert Redfield.
Georg Simmel (1858-1918) tin rằng xã hội chính nó là một quá trình biến chuyển không ngừng do khả năng truyền thụ và hoạt động hỗ tương của con người. (Ý niệm « khả năng truyền thụ» (kinetic relations) được ông dùng trong một ý nghĩa của vật lý học. Theo ý nghĩa này các phần tử xã hội có sức ảnh hưởng mạnh sẽ gây ảnh hưởng lên trên các phần tử yếu kém, cũng như lửa có khả năng làm các vật kim khí trở nên nóng khi được đặt gần nó.) Có hai hình thức xã hội chính (trong tác phẩm nghiên cứu của ông, Soziologie xuất bản năm 1908) : hình thức tổ chức xã hội đơn thuần, hòa hợp, ít biến chuyển( commonness) và hình thức tổ chức xã hội phức tạp, phân hóa. Simmel còn nhấn mạnh đến phương pháp khảo cứu các hình thức biến chuyển xã hội. Những hình thức tương quan xã hội giống

* Trang 102 *
device

nhau có thể có nội dung khác nhau ; những nội dung giống nhau có thể có những hình thức tương quan xã hội khác nhau. Những hình thức tương quan xã hội đó như điều khiển, phục tùng, xung kích, cạnh tranh, hòa hoãn, sáng tạo, mô phỏng, phân chia cần lao, v.v... đều được tìm thấy trong các hình thức tổ chức khác nhau như gia đình, xí nghiệp, cơ sở kinh tế, đảng phái chính trị, tổ chức tôn giáo, v.v...
Max Weber (1864-1920) cũng như Simmel không thành lập một lý thuyết toàn diện rõ ràng về biến chuyển xã hội. Tuy nhiên, qua nhiều tác phẩm nghiên cứu xã hội học của Weber, vấn đề này được ông thảo luận và phân tích một cách tỉ mỉ và khoa học. Chẳng hạn, ông nghiên cứu những phát triển cơ cấu, tổ chức nông nghiệp ngày xưa, vai trò tôn giáo (Tin lành giáo) ảnh hưởng lên sự phát triển chủ nghĩa tư bản ở Âu châu, sự phát thanh âm nhạc, nghệ thuật thuần lý và khoa học, sự phát triển các guồng máy chính quyền, hành chánh phức tạp và phân hóa. Qua phần lớn các nghiên cứu trên, Weber nêu lên một trong những chủ điểm chính, đó là, quá trình biến chuyển xã hội được gây ra bởi những xung kích (Kampf) giữa các tình thế chủ động (Herrschaft) của tư tưởng cổ truyền, tình thế chủ động của lý trí và luật pháp, và tình thế chủ động của những nhà chính trị, tôn giáo thiên tài, xuất chúng (Charismas). Lý trí hóa là một hiện tượng phổ quát trong mọi sinh hoạt của xã hội, ở nghệ thuật, tôn giáo, kinh tế, chính trị, hành chánh, v.v... Chính nhờ hành vi lý trí (Zweckrational und Wertrational) của cá nhân trong xã hội, xã hội mới có thể đáp ứng được vô số chức vụ căn bản phức tạp.
Tóm lại, chủ thuyết tiến hóa xã hội do Comte, Spencer và Darwin đề xướng đã gây nên một trào lưu tư tưởng lớn cho thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Dù có nhiều quan điểm khác nhau về những nguyên nhân tác động biến chuyển xã hội, hầu hết các nhà tư tưởngthuộc chủ thuyết tiến hóa đều tin rằng quá trình biến chuyển là thiết yếu và hướng về mức độ toàn thiện.
THEO QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA CÁCH MẠNG XÃ HỘI

* Trang 103 *
device

Chủ nghĩa cách mạng xã hội hay xã hội chủ nghĩa là một trào lưu tư tưởng lớn mạnh, đương thời với chủ thuyết tiến hóa của Comte, Spencer và Darwin. Hai chủ thuyết này cũng giống nhau ở những quan điểm tổng quát như : 1) Bản tính con người vốn là tốt đẹp ; 2) con người có khả năng cải thiện xã hội theo ước muốn chung của họ; 3) sự cải thiện, tiến hóa xã hội là cần thiết; và sự biến chuyển xã hội trong lịch sử phát triển nhân loại sẽ hướng về thiện mỹ. Tuy nhiên cả hai có nhiều quan điểm khác biệt căn bản như về : 1) sức cản trở đà tiến hóa chẳng hạn như chính quyền, giai cấp thống trị, giai cấp tư sản, tôn giáo, phong tục, luân lý cổ truyền, v.v... 2) các động lực thúc đẩy sự tiến hóa xã hội chủ nghĩa tin ở quá trình tranh chấp kinh tế, năng lực sản xuất giữa giai cấp, còn thuyết tiến hóa tin ở động lực hòa hợp của các thành phần trong hệ thống xã hội (trừ ra vài nhà tư tưởng tin vào nguyên lý đấu tranh sinh tồn của Darwin như Bagehot, Suinner, Gumplowicz và Ratzenhofer); và 3) phần lớn các nhà tư tưởng thuộc chủ nghĩa xã hội nhấn mạnh đến những phương thức cải cách hay cách mạng xã hội bằng hành động hô hào thực tế; trong khi đó các nhà tư tưởng của chủ thuyết tiến hóa coi nhẹ phần này.
Dựa vào lịch sử phát triển của chủ nghĩa xã hội, chúng ta thấy rằng chủ thuyết này bắt nguồn từ Saint-Simon và Rousseau ở Pháp và phát triển mạnh mẽ qua nhiều nhà tư tưởng đương thời và hậu lai. Theo hai ông này, bản tính con người là tốt đẹp và chính các nhóm giai cấp cầm quyền tạo con người trở nên khốn cùng, sa đọa. Dựa vào lý thuyết này, nhiều nhà tư tưởng cách mạng xã hội phổ xướng rộng rãi quan niệm rằng sức cản trở lớn lao cho đà tiến hóa cải cách xã hội đó là guồng máy chính quyền. Ở bất cứ thời nào, chốn nào, giai cấp thống trị luôn luôn duy trì những luật lệ, đức tin, và sinh hoạt cổ truyền để gây quyền uy, thế lực, và tạo lập sự sống còn của họ trên khổ đau, bần cùng của đại đa số thường dân bị trị. Do đó, mục tiêu đầu tiên và chính yếu của phát triển cải cách xã hội đó là san bằng, hủy diệt guồng máy chính quyền, chứ không phải cách mạng chính trị, vì cách mạng chính trị chỉ thay thế vào

* Trang 104 *
device

chính quyền cũ một chính quyền mới đưọc gọi là lập hiến hay lập pháp hay dân cử hay bất cứ danh từ gì để gọi cho nó cũng không tốt đẹp gì hơn chính quyền phong kiến, quân chủ, cổ thời. Một khi chính quyền được hủy diệt và san bằng, lúc đó «bản tính sơ thiện» của con người được tái hiện. Những nhà chủ trương cải tiến xã hội theo hình thức này của thế kỷ 19 thường thường hô hào, kêu gọi đến những sức bạo động, hủy phá các tài sản của chính quyền và của những giai cấp nắm chính quyền. Vì họ cho rằng tài sản này chính là nền tảng trên đó luật pháp và chính trị được thiết lập, có sức cản trở sức mạnh tiến hóa cải cách xã hội.
Phong trào chủ trương vô chính quyền này thật ra có từ thời Trung cổở Âu châu, xuất hiện mạnh mẽ ở Pháp và Nga vào thế kỷ 19. Theo chủ trương này, chính quyền chỉ là một hình thức tội ác đã đánh mất bản tính sơ thiện của con người. Tôn giáo cũng chỉ là tổ chức để phù hộ chính quyền tội lỗi và giai cấp thống trị. Hủy diệt tôn giáo và chính quyền là sứ mạng chính để mang lại cho con người bản tính tốt đẹp nguyên thủy và một xã hội an lạc. Chủ nghĩa vô chính quyền này bị mai một dần dần, nhất là vì nó không được phát triển như một học thuyết tư tưởng vững mạnh và khoa học như chủ thuyết cách mạng xã hội của Karl Marx.
LÝ THUYẾT CÁCH MẠNG XÃ HỘI CỦA KARL MARX
Karl Marx (1818-1883) là một tư tưởng gia lớn đương thời với Comte và Spencer, ông vừa là nhà triết học, nhà kinh tế, nhà sáng lập xã hội học, nhà tuyên truyền chủ nghĩa cách mạng xã hội. Theo ông, xã hội là một toàn thể tương quan kinh tế, sản xuất. Mức độ phát triển năng lực sản xuất và tương quan sản xuất khác nhau tạo nên những hình thức sinh hoạt xã hội khác nhau trong lịch sử nhân loại. Qua lịch sử tiến triển xã hội, Marx trình bày đại cương những hình thức xã hội khác nhau dựa trên nền tảng sản xuất kinh tế. Ở thời tiền sử, xã hội con người đã có những sự phân chia quyền lợi, giai cấp một cách phức tạp. Ở thời Thượng cổ, cơ cấu xã hội, giai cấp

* Trang 105 *
device

xã hội càng được phân định thêm rõ rệt, chẳng hạn, vua chúa, đình thần, kỵ sĩ, nô bộc. Đến thời Trung cổ, giai cấp xã hội lại được phân chia theo những nhóm quân chủ, điền chủ, thương gia, chủ ngân, mãi dịch, và nô tỳ. Mãi đến thời hiện đại, xã hội tư sản được thành hình và thiết lập trên những đống tro tàu của xã hội phong kiến ở thời trước. Trong hình thức xã hội mới này, những giai cấp mới như giai cấp tư sản, tiểu tư sản, độc tài thống trị được thành hình mạnh mẽ. Trong những hình thức xã hội trên, sự bốc lột, áp bức, và xung khích giữa giai cấp thống trị, tư sản và giai cấp bị trị, vô sản càng lúc càng gia tăng.
Do đó, theo Marx, quá trình tiến hóa xã hội là một quá trình lịch sử đấu tranh giữa các giai cấp về năng lực và tương quan sản xuất kinh tế. Nguyên tắc của sự biến chuyển xã hội là nguyên tắc biện chứng lịch sử. Theo đó, hình thức xã hội cộng đồng, vơ tư sản, vô giai cấp, an lạc, không tranh chấp là hình thức xã hội tổng hợp lý tưởng cuối cùng của quá trình biện chứng tiến hóa. Xung khích, tranh chấp về tài sản, kinh tế vật chất là đặc tính chính của những xã hội phong kiến quân chủ thời Trung cổ, của xã hội tư bản của thời hiện đại. Khả năng và tương quan sản xuất kinh tế là nền tảng cho mọi sự tranh chấp và thành hình các cơ cấu chính trong xã hội, như Marx đã tóm tắt trong The Communist Manifest, như sau :
« Những kết luận tổng quát mà tôi đưa ra đây luôn luôn được dùng như khuôn thức căn bản trong mọi nghiên cứu của tôi, được tóm lược như sau : Chính sự sản xuất của con người trong xã hội đã dẩn dắt họ vào trong những tương quan sản xuất rõ rệt, chính yếu và độc lập khỏi ý chí của họ ; những tương quan sản xuất này liên hệ đến một giai đoạn phát triển năng lực sản xuất vật chất của con người. Toàn thể mối tương quan sản xuất nầy tạo nên cơ cấu kinh tế của xã hội một nền tảng chính thức trên đócơ cấu luật pháp và chính trị được thiết lập và liên hệ đến những hình thức rõ rệt của ý thức xã hội. Thể thức sản xuất trong đời sống vật chất quyết định sắc

* Trang 106 *
device

thái chung của quá trình phát triển đời sống xã hội, chính trị, và tâm linh của con người. Nó không phải làý thức (Bewusstsein) của con người quyết định sự hiện hữu (Sein) của họ, nhưng, ngược lại, sự hiện hữu của xã hội quyết định ý thức của họ. Ở một giai đoạn nào đó trong quá trinh phát triển năng lực sản xuất của con người, năng lực sản xuất nào xung đột với những tương quan sản xuất hiện hữu khác hay nói theo danh từ pháp luật với các tương quan tài sản khác mà năng lực sản xuất đã tạo ra. Tương quan sản xuất phát hiện từ những hình thức phát triển năng lực sản xuất của con người trở lại ràng buộc họ vào trong tương quan sản xuất đó. Cũng chính từ đấy, thời kỳ cách mạng xã hội bắt đầu. Chỉ cần có sự thay đổi cơ cấu kinh tế, toàn thể cơ cấu thượng tầng rộng rãi khác gồm có luật pháp, chính trị, thẩm mỹ, tôn giáo, triết học cũng được biến đổi theo. Khi đề cập đến sự biến đổi cơ cấu xã hội này, chúng ta nên phân biệt sự biến đổi vật chất (biến đổi khách quan) của những điều kiện sản xuất kinh tế mà người ta có thể xác định được một cách rõ ràng theo khoa học thực nghiệm, và sự biến đổi ở những hình thức luật pháp, chính trị, tôn giáo, thẩm mỹ, triết học, nói tóm lại, ý thức hệ biến đổi chủ quan trong đó con ngườiý thức được sự xung đột gây nên các thay đổi trên và tranh đấu để tìm cách chấm dứt sự xung đột này. Khi chúng ta có ý kiến nhận xét về một cá nhân nào đó, chúng ta không thể dựa vào điều mà người đó tự cho về họ ; cũng như vậy, chúng ta không thể phán đoán về một giai đoạn biến chuyển xã hội qua ý thức chủ quan của chính nó ; ngược lại ý thức này phải được giải thích từ những sự mâu thuẫn của đời sống vật chất, từ những xung đột khách quan hiện tại giữa năng lực sản xuất và tương quan sản xuất trong xã hội. Trật tự xã hội luôn luôn được tồn tại trước khi mọi năng lực sản xuất được phát triển, vì trật tự xã hội chính nó bao hàm những khả năng sản xuất này ; và những tương quan sản xuất mới, ở trình độ cao hơn không bao giờ xuất hiện trước khi các điều kiện vật chất của tương quan sản xuất này được nảy nở, trưởng thành trong bào thai của xã hội trước xưa.

* Trang 107 *
device

Do đó, con người chỉ cần lựa chọn những vấn đề mà họ có thể tìm cách giải quyết được, vì, nếu nhìn kỹ hơn vào điều này, chúng ta luôn luôn thấy rằng vấn đề khó khăn chỉ xuất hiện khi những điều kiện vật chất ắt có cho mọi giải quyết vấn đề đã xuất hiện hay ít ra cũng đang được thành lập. Qua vài nét đại cương, chúng ta có thể trình bày các cách thức sản xuất khác nhau trong xã hội Đông phương ngày xưa, xã hội Thượng cổ, xã hội quân chủ phong kiến thời Trung cổ, và xã hội tư bản thời hiện đại qua các giai đoạn thành hình kinh tế của những xã hội trên. Những tương quan sản xuất thuộc xã hội tư bản là hình thức tranh chấp cuối cùng trong quá trình phát triển sản xuất của xã hội sự tranh chấp này không có nghĩa là sự tranh chấp cá nhân, nhưng có nghĩa là sự tranh chấp xuất hiện từ những điều kiện đời sống của vô số cá nhân trong xã hội. Chính cũng ngay khi ấy, năng lực sản xuất phát triển dần dần trong bào thai của xã hội tư sản, tạo nên những điều kiện vật chất để giải quyết mọi tranh chấp trên. Do đó, chính sự tiến hóa xã hội theo quá trình này chấm dứt chương tiền sử của xã hội con người.
Theo đó, Marx giải thích quá trình biến chuyển xã hội dựa trên những giai đoạn phát triển khả năng và tương quan sản xuất, kinh tế qua sức mâu thuẫn, xung khích và đấu tranh giữa giai cấp thống trị, hữu sản và giai cấp bị trị, vô sản. Sức mạnh chống đối và đấu tranh của đại đa số giai cấp vô sản sẽ đưa đến sự hủy diệt giai cấp thống trị, tư bản để tạo lập một xã hội mới, một xã hội cộng đồng, bình đẳng, và do đó mọi hình thức đấu tranh không còn. Nhưng sức mạnh đấu tranh của giai cấp vô sản chống giai cấp thống trị, tư bản phải được khích động, gây ý thức, và hướng dẫn thành một phong trào cách mạng toàn diện. Bản Tuyên ngôn Cộng sản (Manifest der Kommunistischen Partei, 1848) và nhiều bài viết hô hào của Marx là những nỗ lực nhằm gây ý thức đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội.
Dựa trên lý thuyết cách mạng tiến hóa của Marx, chúng ta có thể tóm tắt những điểm chính yếu của lý thuyết của ông

* Trang 108 *
device

như sau : 1) toàn thể cơ cấu trong hệ thống xã hội đều dựa trên nền tảng kinh tế hay sức mạnh và tương quan sản xuất; 2) động lực của mọi biến chuyển xã hội là xung khích và đấu tranh giữa các giai cấp theo quá trình biện chứng lịch sử; do đó, khi phân tích quá trình biến chuyển xã hội là phải phân tích những tương quan tranh chấp về sản xuất kinh tế giữa các nhóm giai cấp ; 3) sự thay đổi điều kiện về thể thức sản xuất, hay nói chung là nền tảng kinh tế sẽ đưa đến mọi sự thay đổi ở cơ cấu chính trị, luật pháp, thẩm mỹ, tôn giáo, triết học ; và 4) biến chuyển xã hội hay cải cách xã hội phải áp dụng bằng hành động ý chí và chủ hướng theo luật biện chứng lịch sử. Dù thuyết biến chuyển xã hội của Marx có nhiều điểm đáng chỉ trích và không thể chứng minh bằng phương pháp thực nghiệm vì quá tổng quát, trừu tượng và mơ hồ, lý thuyết này gây ảnh hưởng trên nhiều triết gia, xã hội học gia, và chính trị gia cách mạng xã hội ở thế kỷ 19 và hiện thời.
VÀI NHÀ XÃ HỘI HỌC CHỊU ẢNH HƯỞNG TƯ TƯỞNG CỦA MARX.
Vài nhà xã hội học chịu ảnh hưởng tư tưởng tiến hóa và cách mạng xã hội của Marx đáng kể như Veblen, Gerth, C. Wright Mills, Dasirendorf. Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả chỉ muốn đề cập đến Veblen thôi, vì các nhà xã hội học khác thuộc vào giai đoạn xã hội học hiện đại, sẽ được bàn đến trong bài viết tiếp.
Thorstein Veblen (1857-1929) là một nhà kinh tế xã hội của Mỹ có phần chịu ảnh hưởng tư tưởng của Marx và cho rằng các tổ chức kinh tế và hoạt động sản xuất liên hệ ảnh hưởng đến quá trình xã hội hóa nhân cách của con người trong xã hội. Tuy nhiên Veblen có vài điểm căn bản khác biệt với Marx, chẳng hạn như: 1) Cơ cấu kinh tế liên hệ trực tiếp đến đời sống tập quán và tư tưởng nhờ quá trình xã hội hóa của con người. Kỹ thuật sản xuất tạo nên mối tương quan xã hội và văn hóa của xã hội. Kỹ thuật sản xuất đã biến đổi hình thức xã hội từ một

* Trang 109 *
device

xã hội phong kiến, quân chủ trong đó nhân lực hoàn toàn lệ thuộc vào giai cấp thống trị đến một xã hội kỹ nghệ hiện đại trong đó sức mạnh máy móc thay thế sức mạnh cần lao của con người và mối tương quan lệ thuộc của giai cấp lao động, bị trị vào giai cấp tư bản, thống trị giảm dần, 2) sự thay đổi trong đời sống xã hội chính yếu do ở sự thay đổi sức mạnh kinh tế. Sự thay đổi sức mạnh kinh tế không phải do các đấu tranh giai cấp mà do sự thay đổi kỹ thuật sản xuất, dân số, và tổ chức kỹ nghệ. 3) Sự đấu tranh kinh tế là sự đấu tranh về hữu sản giữa cá nhân trong xã hội. Tài sản là tiêu chuẩn định giá trị, địa vị, uy lực của một cá nhân. Và 4) quá trình xã hội hóa thiết yếu là một quá trình thích ứng của cá nhân với mọi thể thức tập quán mới của hoàn cảnh mới do chính họ tạo ra. Cá nhân nào hay giai cấp nào không chịu thích ứng với hoàn cảnh mới sẽ cản trở đà cải tiến xã hội. Giai cấp quý phái, nhàn cư, ăn không ngồi rồi là thành phần chính cản trở mọi biến chuyển, cải tiến xã hội.
Tóm lại, Veblen nhấn mạnh vai trò phát triển của kỹ thuật sản xuất tương quan các tổ chức kinh tế, và quá trình xã hội hóa trong sự biến chuyển xã hội. Veblen hoàn toàn khác hẳn với Marx ở chổông ta đóng vai trò của một nhà tuyên truyền cách mạng xã hội.
THEO QUAN ĐIỀM CỦA LÝ THUYẾT BIẾN CHUYỂN TUẦN HOÀN.
Lý thuyết biến chuyển xã hội theo chiều hướng chu kỳ hay tuần hoàn (cyclical theories of change) là một trong những trào lưu tư tưởng lớn giải thích quá trình biến chuyển xã hội. Lý thuyết này được xiển dương do nhiều nhà tư tưởng từ thời xưa ờ Hy lạp, Ấn độ, Trung hoa và vẫn còn tồn tại đến bây giờ. Lý thuyết này hoàn toàn khác hẳn với thuyết biến chuyển xã hội theo chiều hướng đổi hóa (theories of regress). Lý thuyết thứ hai này được đề cao do nhiều nhà luân lý và tôn giáo ở Tây phương cũng như ở Đông phương. Điển hình nhất đó là St. Augustine với tin tưởng rằng con người đã đánh mất « thời

* Trang 110 *
device

vàng son » (Golden Age) và lạc lối ra khỏi chốn Thiên đàng (the City of God) để sống trong một xã hội trần gian mạt pháp. Lý thuyết này đã chết lịm hẳn trong lịch sử tư tưởng nhân loại, nói chung và không gây một tí ảnh hưởng nào trong xã hội học cổđiển cũng như hiện đại, nói riêng.
Lý thuyết giải thích biến chuyển theo chiều hướng tuần hoàn qua các chu kỳ được đề xướng do nhiều nhà tư tưởng, triết học như Plato, Pythagore, Rousseau, Nietzsche và các nhà xã hội học như Pareto Sorokin, Chapin, và Kroeber.
Pitirim A. Sorokin là một đại diện trong nhóm xã hội học gia (gồm Chapin và Krober) chịu ảnh hưởng phần nào của các sử gia Spengler và Toynbee. Nhưng các nhà xã hội học của tiền bán thế kỷ 20 không đề cập đến ý niệm văn minh mà chỉ đề cập đến ý niệm văn hóa và xã hội. Sorokin nghiên cứu và so sánh nhiều hệ thống văn hóa xã hội khác nhau trên thế giới như Hy lạp, La mã, Ai cập, Ấn dộ, và Trung hoa. Theo ông, xã hội biến dịch giữa hai hệ thống văn hóa chính, như : hệ thống văn hóa thuần tín (the «. ideational» system), hệ thống văn hóa cảm thức (the « sensate » system), và hệ thống văn hóa lý tưởng (the «idealistic » system). Hệ thống đầu gồm những phần tử dựa trên đức tin thiêng liêng (sacred), hệ thống thứ hai gồm những yếu tố dựa trên khoa học thực nghiệm và lý trí (secular), hệ thống cuối cùng là một hình thức phối hợp giữa hai hệ thống trước và trong hệ thống tổng hợp này vai trò hoạt động sáng tạo của trí tuệ của con người trong lãnh vực nghệ thuật, văn chương, khoa học, kinh tế, kỹ thuật, phát minh, triết học, và luân lý là chủ động. Sorokin diễn tả chiều hướng biến chuyển tuần hoàn của các hệ thống văn hóa bằng nhữngđồ thị rõ ràng và chuyển biến từ hệ thống thuần tín, tốt đẹp đến hệ thống văn hóa lý tưởng và cuối cùng đến hệ thống văn hóa cảm giác, trần gian, và sa đọa. Mỗi hệ thống văn hóa chính nó có khả năng tự biến chuyển và tự định hướng hợp nhất do các phần tử biến dịch không ngừng.

* Trang 111 *
device

Theo quan điểm của Chapin và Krocber. Theo Francis Stuart Chapin, quá trình biến chuyển văn hóa trải qua ba thể thức trật tự : trật tự của nền văn hóa vật chất, trật tự của nền văn hóa tinh thần,và trật tự của nền văn hóa tổng hợp rộng lớn hơn. Mỗi thể thức trật tự bao gồm nhiều chu kỳ lớn, nhỏ khác nhau. Chapin nêu lên vài mệnh đề giả thuyết chính như : 1) Mỗi hình thức văn hóa có một định luật biến chuyển riêng biệt ; nhiều nhóm hiện tượng xã hội có thể có chung một định luật biến chuyển căn bản. 2) Định luật biến chuyển của mỗi hình thức văn hóa có thể là theo chu kỳ hay định kỳ. 3) Người ta có thể khám phá và diễn tả bằng con số cụ thể định luật sinh hoạt văn hóa theo chu kỳ hay chức vụ của các định kỳ. 4) Khi những chu kỳ hay những định kỳ biến chuyển của những hình thức văn hóa trong thể thức trật tự thứ nhất và thứ hai xuất hiện cùng lúc, nền văn hóa đó đến lúc trưởng thành và trong đó người ta có thể tìm thấy nhiều nét đặc biệt của văn hóa.
Alfred L. Kroeber là một nhà nhân chủng học Mỹ nghiên cứu các lãnh vực chuyên biệt như triết học, khoa học, ngôn ngữ học, điêu khắc, hội họa, kịch nghệ, văn chương và âm nhạc. Ông tin rằng những nhà tư tưởng và những sáng tạo tài ba tiêu biểu trong văn minh nhân loại là những người tượng trưng và kết động tinh hoa văn hóa. Họ có khả năng tạo văn hóa làm văn hóa đạt đến mức độ tuyệt đỉnh cho mỗi giai đoạn khác nhau và những giai đoạn này xác định chiều hướng sinh hoạt hay cơ hội văn hóa.
Nhìn chung, các lý thuyết trên giải thích sự biến chuyển văn hóa và xã hội đều được dựa trên nền tảng lịch sử rộng rãi cua thế giới. Và chiều hướng biến chuyển được xem như là một phối hợp khả hữu giữa hai chiều hướng căn bản của sự thăng và trầm văn hóa. Tuy nhiên, những lý thuyết trên vẫn còn là hình thức suy tư nội quan và chưa được chứng minh qua mọi phương pháp thực nghiệm hiện đại

* Trang 112 *
device

TỒNG QUAN VÀ KẾT LUẬN
 
Các nhà chủ xướng những thuyết biến chuyển xã hội như đã được trình bày ở trên đều có cùng một tin tưởng ở động lực biến dịch của văn hóa, xã hội (sociocultural dynamics), hoặc theo nguyên lý biến dịch của vũ trụ (the principle of cosmogeny), hoặc theo nguyên lý biến dịch của nhân loại (the principle of anthropogeny). Theo họ, động lực biến địch này được thể hiện theo sức quân bình hòa hợp (moving equilibrium) giữa các thành phần và hệ thống xãhội( như Comte, Ratzenhofer, Ward, Giddings, và Durkheim), hoặc theo xung khích và tranh chấp cho sự sinh tồn thích ứng, cho quyền lợi kinh tế, sản xuất (như Darwin, Spencer, Marx, Gumplowicz, Bagehot, Novicow, và Sumner), về sự kiện nguyên nhân của biến chuyển xã hội và văn hóa, họ đề xướng khác nhau. Có nhóm cho rằng nguyên nhân chính mọi biến chuyển xã hội và văn hóa là những nguyên nhân văn hóa, hoặc do lý trí (như Comte, Weber), hoặc do tôn giáo (Kidd, Weber), hoặc do luân lý (Hobhouse và Ginsberg), hoặc do phong tục, tập quán (Tönnies), hoặc do sức mạnh sản xuất kinh tế và kỹ thuật (Marx, Spencer, Tylor, và Veblen), hoặc do sự phân phối cần lao trong xã hội (Dürkheim). Có nhóm chủ trương khác hẳn lại rằng chính sức mạnh ngoại tại của thiên nhiên, địa lý quyết định toàn thể văn hóa và xã hội là yếu tố nguyên nhân. Có nhóm lại cho rằng nguyên nhân chính là yếu tố sinh lý, hoặc do bản năng tranh đấu sinh tồn (Spencer, Gump- lowicz, Sumner, và Novicow), hoặc do giống máu chủng tộc (de Gobineau và Chamberlain), hoặc do mức độ dân số (Comte và Dürkheim), hoặc do động lực tâm lý (Ward, Small, Tarde, Giddings, và Wiese).
Chiều hướng biến chuyển xã hội và văn hóa được phát biểu rõ ràng. Tựu trung có bốn chiều hướng : chiều hướng tiệm tiến thiện mỹ ; chiều hướng tiệm tiến đồi hóa ; chiều hướng biến dịch tuần hoàn; và chiều hướng không nhất định này, tuy không được đề xướng trong xã hội học cổ điển, trở nên sắc thái chính của các lý thuyết biến chuyển xã hội học hiện tại.

* Trang 113 *
device

Comte, Marx, Spencer, và nhiều nhà xã hội học cổ điển có lẽ cho rằng nếu có một định luật phổ quát về trọng lực (hay định luật vật rơi) được Newton khám phá và nếu có những định luật tiến hóa sinh lý của con người được Darwin nêu lên, thì tất nhiên phải có những định luật tương tợ giải thích biến chuyển của xã hội và văn hóa toàn diện. Do đó, phần lớn họ đã tận tâm nhiều đến việc thiết lập lên những lý thuyết lớn về biến chuyển xã hội toàn diện. Lý thuyết của họ, chung ra, được họ phát biểu trong bốn hình thức chính : 1) các lý thuyết lớn này xem như là những khuôn khổ căn bản cho mọi chương trình cải cách xã hội ; 2) các lý thuyết trên dùng như những định luật căn bản để tiên đoán các quá trình biến chuyển của vũ trụ và xã hội về một cứu cánh nào đó ; 3) các lý thuyết lớn này được dùng như những kiến trúc tri thức căn bản để người ta dựa vào đó để giải thích các chiều hướng biến chuyển xã hội ; 4) các lý thuyết lớn này được xem như là nguồn tư tưởng phong phú gồm nhiều mệnh đề lý thuyết mà người ta có thể rứt ra để chứng nghiệm qua các sự kiện xã hội.
Tuy nhiên, phần lớn các nhà xã hội học hiện đại tìm cách lãng quên các lý thuyết trên và xem đó như là những huyền thoại hay những khảo luận thấm nhuần tư tưởng siêu hình, không thể nghiệm chứng. Sự lãng quên này chính vì các lý thuyết biến chuyến xã hội của xã hội học cổ điển chỉ đề xướng sự biến chuyển toàn diện xã hội theo một nguyên nhân tất định nào đó và dựa trên nền tảng lịch sử và luân lý chủ quan. Để thành lập lên một hệ thống lý thuyết mới và thực nghiệm để giải thích từng thành phần, tổ chức định chế trong toàn thể hệ thống xã hội, các nhà xã hội học hiện đại nhằm nghiên cứu sự biến chuyển các thành phần, hay các sắc thái văn hóa của một xã hội dựa trên dữ kiện cơ cấu và chức vụ hơn là lịch sử. Sự biến chuyển của một thành phần, một cơ cấu trong hệ thống xã hội được khảo sát và minh chứng qua nhiều nguyên nhân, dưới nhiều chiều hướng khác nhau. Thiết lập lên những mệnh đề giả thuyết, chứng minh mệnh đề giả thuyết đó, và cuối cùng đúc kết thành những phần lý thuyết liên hợp trong toàn thể một hệ

* Trang 114 *
device

thống lý thuyết để giải thích mọi biến chuyển xã hội, đó là công việc chính yếu, quan trọng của các nhà xã hội học hiện thời để thay thế dần dần, mặc dù chậm chạp, các lý thuyết lớn, siêu hình, chủ quan, thiếu thực nghiệm của các nhà xã hội học thế kỷ 19 và tiền bán thế kỷ 20.
LÊ VĂN HÒA
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
 
August Comte, Cours de Philosophic Positive (Paris, 1877), Tập I.
Raymond Aron, Main Currents in Sociological Thought, dịch và xuất bản do Richard Howard và Helen Weaver, (New York: Basic Book Inc., 1965), Tập I,
Herbert Spencer, Principles of Sociology, xuất bản lần I, 1876-1893, (New York : Tập I, Phần I và 2. trong C. Wright Mills (ed). «Militaristic and Industrial Societies» The Images of Men (Chicago, 1965).
Albion w. Small, General Sociology, (Chicago, 1905), tr. .3-17, 25 và 26.
Lester F. Ward, Outlines of Sociology Pure Sociology (New York, 1898), tr. 144, 148-149; và Pure Sociology (New York, 1903), tr. 183- 184, 205-216.
William Graham Sumner, Folkways (Boston : Gin, Inc., 1906), tr. 1-54.
Nicholas s. Timasheff, Sociological Theory : Its Nature and Growth (New York: Random House, 1963), tr. 80-87.
Leonard T. Hobhouse, Morals in Evolution (London : Chapman & Hall, 1951).
Morris Ginsberg, The Idea of Progress : A Revaluation (London: Methuen & Co., Ltd, 1953) và Reason and Unreason in Society (Cambridge : Havard University Press, 1948).
Georg Simmel, Sociologie, được dịch và xuất bản do K.H. Wolff, The Sociology of Georg Simmel (Chicago: Glencoe, 1950).

* Trang 115 *
device

Max Weber, The Theory of Social and Economic Organization, dịch và xuất bản do A. M. Henderson và Talcott Parsons (New York» 1947), tr. 88-103, «3-133 ; The Protestant Ethic and the Spirit of Capitalism (New York : Charles Scribner’s Sons, 1958) ; và From Max Weber : Essays in Sociology, dịch và xuất bàn do Hans H. Gerth và C. Wright Mills (New York : A Galaxy Book, 1958).
Karl Marx and F. Engels, Manifest der Kommunistischen Partei (London, 1848).
Thorstein Veblen, The Theory of the Leisure Class (New York, Macmillan, 1917).
Pitirim A. Sorokin, Social and Cultural Dynamics (New York : American Book, 1937) Tập IV, tr. 73,186, 732, và Society, Culture, and Personality : Their Structure and Dynamics (New York: Harper, 1947, ch. 45.
Francis Stuart Chapin, Cultural Change (New Yortk : Century, 1928)

* Trang 116 *
device

 
Tư Tưởng Số 1 (Năm 1974)