LOGO VNBET
ĐẠI HỌC TƯ LP
 
★ NGUYỄN ĐĂNG THỤC
 
PHONG trào Đại học tư lậpở miền Nam Cộng hòa là một phong trào rất mới mẻ. Muốn tìm hiểu xem ở đấy có ngụ một ý nghĩa tâm lý xã hội gì quan hệ đến nguyện vọng dân tộc, chúng ta cần phải tìm hiểutổng quát về Đại học nói chung và vấn đề Đại học công lập cùng tư lập nói riêng.
Đại học theo nghĩa nguyên tự cũng như theo cái quan niệm mà Cách mệnh Pháp 1789 đã rút ở phong trào «Bách khoa Toàn thư Pháp » là một học hội, bao gồm toàn thểnhững khoa học lý thuyết và thực hành, tất cả phạm vi trí thức, tất cả những đề tài học hỏi khảo cứu và giáo khoa để đi đến một hệ thống nhất quán thống nhất của sự hiểu biết nhân loại. Nhưng cái mộng nhất quán ấy của lý tưởng Cách mệnh Pháp, cái mộng « Bách khoa toàn thư » ấy khi thực hành đã sớm bị phân hóa ra các ngành chuyên biệt để trở nêncác Phân khoa (Faculté) hầu như biệt lập trong một Đại học (Université), nào là Phân khoa Văn học, Luật học, Khoa học, Y học v.v... Cái quan niệm Nhất quán chỉ còn là hình thức lỏng lẽo trêngiấy tờ, mà ý nghĩa nguyên thủy của chữ Đại học như xưa kia Khổng tử ở Á Đông từng mơ ước một nền học vấn « ngô đạo nhất dĩ quán chi » càng ngày càng bị lu mờ với sự tiến bộ của trí thức chuyên môn càng ngày càng phiền phức. Mặc dầu các phân khoa biệt lập có lợi cho cái biết chuyên môn, nhưng trong một nước tất cả sức mạnh

 

* Trang 14 *
device

của những cơquan giáo dục cũng như ngoài giáo dục ở tại trong sự nhất quán, thống nhất của chúng « một Phân khoa Luật học, — như Victor Cousin đã thuyết trình năm 1853, — không thể không ở gần một Phân khoa Văn học, và một Phân khoa Khoa học thì vừa là cơ bản vừa sự thành tựu của một Phân khoa Y học. Như thế đủ thấy rằng tất cả trí thức nhân loại có liên quan với nhau và nương tựa vào nhau để mang lại cho kẻ đi học một nền giáo dục vững vàng sâu rộng, những ánh sáng chân xác ».
Bởi vậy màcái học Nhất quán là ý nghĩa của Đại học không thể thiếu ở một Đại hoc bất cứ công lập hay tư lập, nhất là hiện nay ở các quốcgia đang phục hưng kiến thiết sau thời đổ nát vì chiến tranh, cần đào tạo những thành phần trí thức ưu tú có cái học rộng và hiểu biết chuyên môn nghề nghiệp, nghĩa là có một trình độ văn hóa khả quan để giữ nỗi vai trò chỉ huy điều khiểncông việc được giao phó. Một nhà tâm lý xã hội giáo dục viết về « Sự lựa chọn cán sự quốc gia » : «Này là những kinh doanh kỹ nghệ hay thương mại lớn thuộc về quốc gia hay tư nhân. Này là những đại cơ quan hành chính cai trị với tất cả sự phức tạp về công chức ở địa vị giám đốc, chủ sự. Này là những đội quân với các cấp chỉ huy xếp đặt trên dưới chặt chẽ. Đốc công, kỹ sư, giám đốc, sĩ quan, chủ sự nhân viên, bất cứ hạng người nào, hết thẩy đều phải chứng tỏ không những về tài năng kỹ thuật đặc thù, mà hơn bao giờ hết ở thế hệ hiện tại họ còn phải chứng tỏ các đức tính xã hội, những phẩm cách thâm thúy về nhân bản ».
Chính cái phẩm cách nhân bản ấy, tối cần thiết cho vai trò lãnh đạo chỉ huy ngày nay là thuộc về cái học Nhất quán của Đại học, Đại học công hay Đại học tư đều phải tôn trọng lấy làm mục đích tối cao của giáo dục, như Alfred Norrth Whitehead đã tuyên bố ở tại các đại học Cambridge, Haward v.v .. từ năm 1912-1928 như sau:
« Văn hóa là hoạt động của tư tưởng và khả năng cảm thụ cái đẹp và tình nhân loại. Những mẩu kiến văn không quan hệ

* Trang 15 *
device

gì với văn hóa. Một người có nhiều kiến văn là một sự bận bịu vô dụng nhất trên đời. Mục đích giáo dục là đào tạo nên hạng người vừa có trí thức chuyên môn, vừa có văn hóa. Trí thức chuyên môn của họ đem lại cho họ cơ bản để bước vào đời, và văn hóa sẽ đưa họ vào sâu đến triết học và vươn cao đến nghệ thuật. Chúng ta nên nhớ rằng sự mở mang trí thức quí giá nhất là sự tự mở mang chính con người mình vậy. »
Đấy cũng chính là mở đầu bộ sách Nho giáo điển hình, sách Đại học :
« Đại học chi đạo tại minh minh đức, tại thân dân, tại chí ư chí thiện. »
Nghĩa là : « Con đường đại học ở tại sự làm sáng đức sáng bản lai, ở tại thânái nhân dân, ở tại nhằm tới mục đích chí thiện. »
Đấy là tôn chỉ của Đại học ở Đông cũng như ở Tây, xưa cũng như nay là đào tạo lấy nhân cách lãnh đạo, kiểu mẩu bên cạnh trí thức chuyên môn mà quốc gia xã hội đòi hỏi.
Giáo dục tự do và giáo dục chỉ huy dưới chế độ dân chủ. Nhà nước với nhà trường.
Nhà nước Quốc gia có bổn phận giáo hóa quốc dân để mở mang ý thức dân tộc. Sự giáo dục tinh thần dân tộc là công việc của nhà trường. Ở các đoàn thểchính trị có tính cách tôn giáo hay quân chủ, Chính phủ quốc gia không cần đểý đến công việc giáo dục trẻ em, các tục lệ gia giáo còn hữu hiệu, giềng mối xã hội còn đơn sơ, tinh thần tập thể còn mạnh, ý thức cá nhân tự do chưa phát triển cho nên thanh thiếu niên còn dễ sáp nhập vào trong đoàn thể.
Ở các nước dân chủ ngày nay, gia đình giáo dục lỏng lèo, sự phân công trong công cuộc sản xuất đã sớm làm cho li khai cá nhân với gia đình, cho nên sự tham gia vào ý thức quốc gia dân tộc không còn tự nhiên bồng bột và trực tiếp nữa. Gia đình hay nghiệp đoàn cô lập hóa cá nhân vào từng khu vực nhỏ riêng biệt. Do đấy mà quốc gia hay nhà nước phải tự chứng minh trực

* Trang 16 *
device

tiếp đảm nhận lấy sự bảo vệ tinh thần quốc gia dân tộc của nhân dân.
Ở các nước dân tộc dân chủ hiện thời, nhà nước phải nhận lấy quyền kiểm soát nền giáo dục ở các trường học. Chính nhà nước cóbổn phận lập nên và trông nom các cơ quan giáo dục cần thiết. Nhà trường quốc gia hóa, xã hội hóa thanh thiếu niên bằng tất cả các môn khóa giảng dạy, và nhất là bằng khoa Sử, Địa, Văn nghệ, Luật học... Nhà trường có nhiệm vụ và công dụng làm sống lại cho con em trong một nước tất cả quá khứ của dân tộc, sự sinh hoạt thực tế và tinh thần thích ứng vào hoàn cảnh địa lý, tổ chức kinh tế, chính trị, phong tục, luật lệ, mục đích là dần dần làm cho thanh niên có được cái ý thức hệ về các biểu thị tập thể đã cấu tạo nên Quốc hồn quốc túy của một dân tộc.
Sứ mệnh giáo dục của bậc Đại học trong Quốc gia làtiếp tục công việc giáo huấn của nhà trường trung tiểu học nói chung, nhưng Đại học có sứ mệnh đặc biệt là đào tạo và cung ứng cho Quốc gia thành phần trí thức ưu túđể tham gia vào các chức vụ lãnh đạo chỉ huy. Bởi thế nên vấn đề ý thức hệ càng trở nên trọng tâm học vấn, thảo luận, tranh biện, tiêu biểu nhất là cuộc tranh biện cận đại giữa giáo sư Đại học ở nước Đức là triết gia Fichte với giáo sư Đại học ở nước Pháp là triết gia Renan về hai lý thuyết quốc gia dân tộc. Do đấy mà Nhà nước càng thắc mắc về vấn đề tự do giáo dục và hệ thống hóa Đại học.
ỞÂu Tây, sau thời Cách mệnh 1789, chính quyền ly khai với Giáo quyền, vấn đề giáo dục nhất là ở cấp bậc Đại học cùng nẩy ra vấn đề giáo dục công lập và tư lập. Đại học công lập bắt buộc phải hoàn toàn thể học hóa, không có mầu sắc thánh giáo theo chủ trương phản đối Giáo hội : « Anti cléricalisme của lập trường tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng. Nhưng Quốc gia hay Nhà nước lại đòi độc quyền Giáo dục cao đẳng như Napoléon Ier (Nã Phá Luân đệ nhất) đã quan niệm rằng nhiệm vụ chân chính của giáo dục là đào tạo nên những công dân theo như người chủ tể đại diện và bảo vệ thế lực chung xét định, cho nên Nã Phá Luân đã ban sắc lệnh độc quyền như sau : « Không có một trường

* Trang 17 *
device

học nào, khôngcó một tổ chức giáo dục nào cóthể thành lập ở ngoài Đại học và không do người chủ của nó cho phép » (Sắc lệnh 17-3-1808)-.
Như thế là Thế quyền Quốc gia đối lập hẳn với Giáo quyền Giáo hội dưới chế độ Hoàng đế Nã Phá Luân. Nhưng chẳng bao lâu, ở Pháp chế độ Hoàng đế sụp đổ chế độ Cộng hòa thay thế thì Nhà nước trả lại tất cả quyền tự do cho Giáo dục cao đẳng tư lập để phát triển song hành với Giáo dục cao đẳng công lập. Tư nhân với các hội tư nhân tha hồ mở các cơ sở Giáo dục cao đẳng với danh hiệu Đại học tư lập. Không những họ đòi quyền giáo dục mà còn đòi cả quyền được cấp phát cho sinh viên tốt nghiệp những bằng cấp để được bồ nhiệm vào chức vụ Nhà nước. Do đấy nổi lên các cuộc tranh luận sôi nổi trong Quốc hội cũng như ngoài công luận. Và chính quyền quốc gia bắt đầu ban hành các điều luật giới hạn quyền thế các Đại học tư lập. Đại học tư lập không được cấp phát văn bằng và cấp ngạch Quốc gia ví như Tiến sĩ Quốc gia chẳng hạn! Ngoài ra luật pháp có qui định tự do giáo dục cao đẳng với tất cả sáng kiến về vấn đề giáo dục chừng nào không phạm vào Hiến pháp, luật pháp và luân thường đạo lý quốc gia, Nhà nước để cho Giáo dục tư hoàn toàn làm chủ về chương trình giáo khoa, phương pháp và thời khóabiểu, nhưng thực tế, Nhà nước giữ độc quyền về bằng cấp và giá trị do đấy mà Giáo dục tư vẫn phải phỏng theo Giáo dục công. Ví dụ sự nhập học vào cấp Đại học đòi phải có bằng tú tài của giáo dục trung học do Nhà nước cấp phát sau kỳ thi tốt nghiệp. Như thế thì Đại học tư lập tuy làm chủ chương trình học khoa và phương pháp, nhưng đường hướng chung vẫn là theo sát với Đại học cônglập, trừ một điểm quan trọng này là Đại học tư lập có quyền dạy về tôn giáo tùy theo khuynh hứớng của mình.
Đây là hệ thống giáo dục cao đẳng đặc biệt của Pháp có tính cách tìm dung hòa giáo dục công với giáo dục tư, bổn phận đối với Quốc gia và tự do đối với các gia đình tinh thần, các giáo hội. Nhà nước cóbổn phận đối với công dân là phải mang lại cho mỗi công dân các phương tiện để học hỏi, để trau dồi

* Trang 18 *
device

mở mang trí thức cho nên nó có nhiệm vụ thiết lập và bảo trì các cơ quan giáo dục mở cửa cho tất cả mọi công dân. Nhưng không phải nó căn cứ vào cái bổn phận ấy để được độc quyền về giáo dục côngdân trong nước vì Nhà nước là do Dân, vìDân và cho Dân, bởi thế nó phải để quyền tự do cho các gia đình muốn gửi con em đến học tại các cơ quan tư lập mà nó phải giúp đỡ, mặc dầu các cơ quan giáo dục tư lập không bắt buộc tuân theo nhữngquy chế của các cơ quan công lập.
Sự thực là một điều đáng buồn thấy trong một xã hội, một Quốc gia mà cơ quan giáo dục công lập không có thể cung ứng nhu cầu học vấn cho tất cả con em trong nước đến nỗi phải để thành lập các cơ quan tư lập bên cạnh. Để bênh vực cho cái tình trạng phi lý trong một nước có hai hệ thống giáo dục thịnh hành đi đối với nhau ấy, người ta thường nêu lên sự xung khắc giữa quyền của Nhà nước, của Chính phủ quốc gia với quyền của Phụ huynh gia đình, quyền của tôn giáo và quyền của tự do tư tưởng. Nhưng đấy chẳng qua là vì ở các nước Âu Tây cận đại có sự phân biệt giữa thế quyền và giáo quyền mà các nước theo chủ nghĩa xã hội người ta đã hủy bỏ đồng thời các cơ quan tư lập cũng không còn tồn tại vì không có lý do để tồn tại nữa. Các nước theo chế độ độc tài hay chỉ huy toàn thể thì giáo dục cũng chỉ phải theo một chiều hướng chung của đảng trị hay gia đình trị, kết quả là giam hãm trí não con em vào các khuôn giáo điều hay chủ nghĩa cuồng tín.
Một chế độ cho một hệ thốnggiáo dục quốc gia có tính cách thực tế và nhân loại hơn cả là phải thiết lập trên cơ sở tôn trọng tất cả tín ngưỡng, tất cả khuynh hướng tư tưởng triết học hay chính trị. Nó phải có thể hòa hợp các tinh thần theo cái gì mà văn minh nhân loại đã xác nhận, vừa đại đồng vừa hoàn hảo. Nó chỉ công nhận và thực thi những nguyên tắc của Khoa học, của Lý trí và tôn trọng phẩm giá con người. Một hệ thống giáo dục như thế trong tư tưởng giáo dục Âu Tây hiện

* Trang 19 *
device

nay mới thực có tính cách quốc gia và nhân loại, cóthể là biện pháp để giải quyết tình trạng lưỡng tính giáo dục của xã hội Âu Tây sau Cách mệnh Pháp quen đối lập Thế quyềnvới Giáo quyền, Thế học ở Đại học công lập vớiThần học ởĐại học tư lập.
Ở Việt nam Cộng hòa hiện nay, chế độ giáo dục phỏng theo Âu Tây, nhất là chế độ của thực dân Pháp để lại ảnh hưởng sâu xa, người ta cũng thấy xuất hiện tình trạng lưỡng tính giáo dục ở hình thức Công lập và Tư thục, Đại học công và Đại học tư. Nhưng, cái lưỡng tính ấy không thuộc về truyền thống Thế quyền với Giáo quyền. Thế học và Thần học cho nên hệ thống công lập với hệ thống tư lập không có căn cứ vào sự đối lập Thế với Giáo, Đời với Đạo. Ở Đại học công lập cũng như Đại học tư lập người ta thấy trong hàng giáo chức trà trộn lẫn lộn người xuất gia, tu sĩ lẫn kẻ tại gia, cư sĩ. Và trong phương pháp giáo dục thường biên giới lý trí khoa học lẫn lộn với giáo điều thần học.
Ở Việt nam xưa, trong chế độ giáo dục quốc gia truyền thống, không có phân hóa giữa Thế quyền và Giáo quyền, cho nên không có lưỡng tính trong hệ thống giáo dục quốc gia. Ngoài các cơ quan giáo dục của quốc gia thiết lập từ quận huyện cho đến tỉnh và kinh đôcó Quốc tử giám, còn có các trường tự do lập nên, không phải xin phép do các thầy Đồ, thầy cử, hay là các quan hưu trí mở ra cho con em đến học, theo các lý tưởng cổ truyền của giới kẻ sĩ là «tiến vi quan đạt vi sư » nghĩa là đi ra trường đời dễ hành đạo đã học được, khi nào đã đạt đạo lý thì về làm thầy dạy học. Nhà nước chỉ kiểm soát bằng chế độ khoa cử, để tuyển lựa lấy phần tử ưu tú là nhân tài quốc gia, còn chương trình học thi ở thời Lý, Trần gồm cả ba truyền thống giáo lý chính Á Đông tức là khoa thi« Tam giáo chư khoa » Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo. Đến từ thời Lê Nguyễn về sau. Nhà nước mới giới hạn và độc tôn chương trình học khoa

* Trang 20 *
device

 
Tư Tưởng Số 48 (Năm 1975)