LOGO VNBET
MỘT VÀI LỄ NGHI
TRONG LỚP HỌC

« TIÊN học Lễ, Hậu học Văn ». Đó là câu châm ngônvề lòng ởcác trường Tiểu học. « Gọi dạ, bảo vâng », gặp người lớntuổi, biết cung kính, gặp kẻ khó biết giúp đỡ tận tình... phải học cách ăn nói, đi đứng, cư xử... trước đã, rồi mới học những điều khác. Nhưng lần lần người ta không nói đến Lễ nữa ; bắt đầu lớp sáu, Lễ chỉ còn là một dư âm, để chỗ lại cho Văn chương, Khoa học. Trong thời đại của Khoa học và Kỹ thuật, cái dạy phải hướng về các Khoa học căn bản và nhân văn là hẳn nhiên rồi. Cho nên, giờ đây nói Lễ nghi cóthể là không phải lúc. Vả lại, trong thời gạo châu củi quế nầy, chạy vắt giò lên cổ mới đủ ăn là may rồi, nói chi đến những hình thức bên ngoài, đôi khi trói buộc, đôi khi làm con người khô khan, làm xã hội cô đọng, không pháttriển. Thế nhưng, lớp học có lắm nghi thức và hôm nay, tôi phải bàn về những nghi thức ấy. Thật khó thay !
 
*
   *               *

 

* Trang 115 *
device

1.— Chiêu hồn l. Nghi thức đầu tiên của lớp học có lẽ là : đến lớp học đúng giờ.
Giờ học là buổi hẹn của những người cùng trách nhiệm, trách nhiệm đóng góp một phần của mình cho cuộc sống chung để xây dựng linh hồn của lớp học. Học sinh trễ hẹn, gặp lắm chuyện bực mình : xin giấy vào lớp, có khi bị hạch hỏi đủ điều có khi bị cánh cáo, phải có đơn xin của cha mẹ... Ông thầy trễ hẹn thì... chẳng có gì bực mình cả vì không mấy khi được ai hỏi đến : Ông giám học, ông hiệu trưởng, thường thì công vụ đa đoan nên đã chia nhau đi trễ, về sớm. Thôi thì việc ai nấy lo, miễn là phụ huynh không thưa, không kiện là được ; đa số phụ huynh lại thông cảm cáicảnh thanh bần cũng như những đa đoan của giáo chức hoặc không muốn đụng chạm : con học gần nhà, ít tốn kém, thế là phước rồi, rắc rối làm chi !
Cho nên, cónhiều ông giáo, bà giáo đã dành cho mình cái tự do đến trễ, về sớm. Trễ vài phút, sớm vài phút, không hại gì ai, có khi nhờ đó mà cái kiếp thầy giáo lại dễ chịu hơn : dễ chịu cho thầy và cũng thích cho trò vì trong những lúc « nhà vắng chủ » ấy, mặc sức ta thi đua phá quấy. Một đồng nghiệp tôi (nguyên là giáo sinh Trường Sư phạm chúng tôi) kểrằngở một trường nọ, giáo sư đến lớp trễ năm, ba phút là thường và mỗi ai rời phòng giáo sư ngay khi chuông reo vào lớp đều bị vài đồng nghiệp nhìn dưới những đôi mắt khó chịu hay trách cứ. Trong xứ tự do, cái tự do của giáo chức thật cùng tột!
Tuy nhiên, cái chế độ tự do ấy đã chia giáo chức thành hai hạng : hạng nhất, đến trễ về sớm đều đều ; hạng nhì, luôn luôn đúng hẹn, đúng giờ và chịu hậu quả khó chịu của những việc làm ấy. Một nước mà có hai loại công dân : loại một, nhiều

* Trang 116 *
device

đặc ân, ít trách nhiệm, loại hai, nhiều việc, ít quyền, và chịu mọi hậu quả của những khôn lanh của loại trước, là một nước sắp tan hay sắp loạn. Một lớp học mà có hai loại thầy dị biệt như nêu trên chỉ cóthể là môi trường của phân hóa ; đó là một lớp bệnh hoạn : hồn của lớpđang chuẩn bị lìa xa khỏi xác.
Hơn nữa, thầy trò cốt ở tình. Như mọi thứ tình, tình sư đệ phải được đặt trên sự mến trọng lẫn nhau. Chúng quí tôi ; hẳn nhiên rồi vì tôi là thầy của chúng, vì với tâm hồn trong sạch và ngây thơ của chúng, chúng đến tôi với sẵn cái lòng kính trọng bên trong. Đáp lại, tôi cũng quí chúng vì chính chúng đã dạy tôi làm thầy giáo, vì với chúng, tôi xây dựng sự nghiệp của tôi. Tôi mến chúng vì chúng là hoài vọng của tôi: cái vốn của tôi là «thầy giáo » và trong trường hợp phát triển tốt đẹp nhứt thì « một ông giáo giỏi » là cái trở thành cùng tột của tôi ; còn chúng hiện thì ăn tiêu, vô tích sự, hiện là cái lo âu, phiền toái cho mọi người, nhưng tương lai chúng chưa định và chính vì yếu tố chưa định nầy, chúng đã thành niềm hi vọng thiết tha nhất của mọi người. Chúng thuộc lương lai, còn tôi thì đang chuẩn bị qua dĩ vãng. Chúng vượt qua thế hệ của tôi, đó là phước lớn của nước nhà, là cái may chung cho nhân loại.
Tôi đúng hẹn vì mến cái tình chúng dành cho tôi và cũng vì những hoài vọng mà tôi đặt nơi chúng.
Tôicó dịp hướng dẫn một số giáo sinh thực tập tại các trường trung học ở Đô thành. Chúng tôi đến lớp đúng giờ nhưng đôi khi, ở lớp kế bên, ông thầy trễ hẹn. Thật ra, ông còn bận hàn huyên ở phòng giáo sư, chưa đến kịp hoặc còn đang trên đường đến lớp, với bước chân nặng nhọc của con người

* Trang 117 *
device

nhiều năm trong nghề, hoặc ông còn đang vui vẻ đấu láo với thầy giám thị ngoài hành lang. Theo đó, lớpông đã biến thành chợ : kẻ hét, người la, kẻ đập bàn người khua ghế, thật đủ trò (có lẽ một phần vì học sinh củaông biết có khách bên cạnh). Không cách chi dạy được với cái ồn ào, hỗn độn đó. Thật khó chịu và hẳn các lớp của dãy lầu ấy đồng số phận với chúng tôi. Là một nhà giáo, con người ấy đã xem thường lớp học, xem thường đồng nghiệp ; như thế, họ đã phủ nhận môi trường sốngcủa họ và theo đó, phủ nhận chính bản thân họ. Vô tâm đến thế là cùng !
Tóm lại, vì tự trọng, vì cảm thông nỗi khó khăn của các đồng nghiệp có thể bị quấy rầy, vì quí trọng những con người mai hậu trong đứa trẻ, vì muốn dưỡng nuôi linh hồn của lớp học... biết bao lý do để ta khẳng định rằnggiáo chức chỉ có một tự do trong việc nầy là : đúng giờ, đúng hẹn.
Đúng hẹn không đồng nghĩa với hấp tấp, vội vã hay trịnh trọng đến trướcđể chờ, để đợi. Đúng hẹn, ông giáo đến lớp học với trang nghiêm, tề chỉnh, chứng tỏ ông đã sẵn sàng. Vậy ông không đến với quần áo sốc sếch, dép đi lẹp xẹp, tóc rối bùi nhùi, trong một trạng thái buông trôi, thả lỏng. Đó là nghi lễ thứ hai củalớp học.
Nghe tôi nói, một anh bạn cố tri của tôi hỏi : « Lúc anh cònở Huế, hình như mỗi ngày, anh đến trường với áo bỏ ra ngoài, dép đi lẹp xẹp và lúc ấy, hơn cả thầy giáo, anh giữ trách nhiệm học vụ của một trường đào tạo thầy giáo. Trong mấy năm liền, chẳng ai nói gì anh cả, anh nghĩ sao ? » Tôi đáp : « Cũng ở Huế, lúc Tết Mậu thân, có một chàng trai đi dưới làn súng, suốt con đường dài ngang Bến Vân lâu mà không sao cả. Hỏi

* Trang 118 *
device

ra : anh ta điếc. Có lần tôi mang bệnh điếc, tôi đi dưới làn đạn suốt hàng giờ mà không hay biết ; nhưng may, không sao cả, anh có muốn thử như tôikhông ?»
Tôiđược nghe ở Đài bắc, trước mỗi lớp học, có một gương soi khổ lớn đểgiáo chức soi mình trước khi vào lớp. Tôi bỗng nhớ đến câu chuyện hi hữu sau đây : Lúc còn đi học, tôicó dịp làm giám thị trong một trường trung học ở Pháp. Một buổi sáng nọ, một giáo sư trẻ vào điểm tâm với chúng tôi, hấp tấp, vội vàng, mang một vết son nơi cổáo. Thế là anh đã trở thành trọng tâm của những mẫu chuyện tếu của phòng ăn hôm ấy. Sau cùng, anh đã phải nhờ chúng tôi xin phép nghỉ giờ đầu. Ở Pháp không có gương trước mỗi lớp học như ở Đài bắc ; dầu có, phỏng anh đã nhớ soi trước khi vào lớp học anh ? Không bữa điểm tâm ấy, có thể anh đã phơi bày những chuyện tình lặt vặt riêng tư của anh cho chúng trẻ, có thể anh đã biến thành đề tài của những mẫu chuyện vui của chúng trong ngày : cái uy tín cần thiết cho mọi giáo chức đã tan biến nơi anh.
Không buông thả, nhà giáo cũng không trang sức lố lăng, lập dị. Các thầy không nên để tóc « hippy », mặc quần áo vượt thời trang... Vào lớp học. Các cô không nên đi dạy với minijupe, quần ống voi, áo quá hở hang, như vừa chưng bày, vừa che đậy. Mặc áo tràng, tay lần chuỗi hột, không hẳn đã là bậc chơn tu, cũng như khi hành Thánh lễ tại Thánh đường, trong một bối cảnh bình thường, nếu không mặc đại lễ, tối thiểu, vị linh mục phải có một phục sức trang nghiêm.
Sách Lễ ký, thiên Đàn Cung Hạ có chép : « Ở chỗ mồ mả. chưa dạy dân phải thương mà tự nhiên dân có lòng thương ; ở chỗ xã tắc tông miếu, chưa dạy dân phải kính mà dân tự nhiên

* Trang 119 *
device

có lòng kính. » Cụ Trần Trọng Kim chú giải : « Ở chỗ mồ mả thì cócái không khí bi ai, ở chỗ tông miếu thì cócái không khí tôn kính, ai đã hô hấp được cái không khi ấy thì rồi tự hóa theo mà không biết….. » (1)
Cũng tương tự, tôi muốn lớp học tôi có một không khí trang nghiêm mà không khe khắt, cởi mở mà không phóng túng buông lơi, khả dĩ lôi cuốn được trẻ con vào sự tìm tòi, học hỏi.
Chuông vừa reo, học sinh phải bỏ cuộc chơi, đếu ngay nơi hẹn, lắm khi vội vã : áo quần sốc sếch, mình đẫm mồ hôi. Dấu vết của cuộc chơi còn trên khuông mặt chúng, trong nhịp thở không đều của chúng. Đứng trước mặt tôi, đa số chúng còn gởi hồn ở sân chơi. Trong vài phút nữa đây, chúng phải học, hoạt động của chúng bị giới hạn vì tối đa là chúng được hỏi, được đối đáp và trong cái đối đápcó khi cũng dè dặt, suy tư. Dầu không khí cócòn mở, cái học vẫn khô khan, lớp học vẫn không hấp dẫn bằng sân chơi mà chúng được tự do chạy nhảy, gào thét. Tôi phải kéo chúng ra khỏi sân chơi, chuyển chúng về cho lớp học ; cho nên, phải buộc chúng sắp hàng nghiêm chỉnh, đôi khi còn bảo một trò cài lại một nút áo bỏ hở hay lau lại mồ hôi trên mặt ..
Giờ thì thầy trò đã chỉnh tề, yên lặng. Tôi mời và trông chúng vào lớp. Tôi vào lớp sau cùng. Trên bục, tôi nhìn chúng như chờ đợi. Khi dứt tiếng khua bàn ghế, khi cả lớp vừa yên lặng, tôi mời chúng ngồi. Đó là nghi cách chào hỏi hằng ngày của thầy trò tôi. Thật lắm chuyện, nhưng chỉ một hồi chuông, chỉ một phương thức sắp hàng nghiêm chỉnh trong một giây, cótài thánh tôi cũng không chiêu hồn về cho lớp học. Cho nên, phải theo dõi, quan sát, giữ sự yên lặng cho đến lúc tất cả cùng ngồi.

* Trang 120 *
device

Có trường tổ chức cho học sinh tự xếp hàng vào lớp và khi giáo sư vừa đến thì với một tiếng « nghiêm » rất nhà binh lớp học chào trọng lệnh. Tôi vốn không thích binh nghiệp vì đó là hình ảnh của giết chóc, của nghèo đói và là cái ngu xuẩn điên rồ nhất của loài người. Nhưng tiếng « nghiêm » lạnh người của anh trưởng lớp, hình như chỉ có lợi cho tôi trong việc tạo nên một không khí trang nghiêm học tập.
Tôi còn có thể lợi dụng một hai phút vào lớp ấy, để nhận ra những phần tử mà hồn còn vơ vẩn luyến tiếc sân chơi (để khi có dịp, săn sóc một cách thích đáng) và ước định một thái độ nhứt thời cho lớp học hôm nay : nghiêm khắc, hiền hòa, cởi mở... Hôm nay chúng có vẻ hiếu động, đa số muốn làm việc bằng tay chân hơn trí não, có lẽ phải thử một thái độ lạnh nhạt hay khắt khe ? Trái lại, nếu chúng tỏ ra nhu mì ; trầm lặng, có lẽ nên cởimở hơn, bằng không, chúng sẽ rút vào cái vỏ khô khan của nhút nhát, e sợ... Tôi phải kiểm nghiệm những dự đoán của mình và mỗi giờ dạy của tôi có thể tóm lượt thành một chuỗi dài dự đoán, kiêm nghiệm, kết luận kế tiếp.
Bây giờ, có lẽ chỉ còn một nghi lễ cuối cùng để thật sự bước sang việc dạy : kiểm soát hiện diện.
Có một luật lệ hành chánh buộc giáo chức phải đúng giờ nhưng vẫn cónhiềuônggiáokhông đúng giờ, điều nầykhông thiệt gì cho ông cả ; chỉ phiền cho người giám thị, phải chờ đợi để chuyển giao học sinh hay phiền cho các lớp học kế cận vì bị ồn. Nếu chẳng may, ông giám thị lại bỏ về (điều này cũng rất thường xảy ra) và sau đócó một tai nạn (thí dụ học sinh gây gổ nhau rồi lấy viết đâm nhau hay lấn nhau té lầu) thì trách nhiệm vẫn thuộc ông giám thị, ông giáo cũng không thiệt gi. Nhưng nếu đứa trẻ trốn giờ học ông và sau đó gặp một tai

* Trang 121 *
device

nạn mà ông không hay biết, trách nhiệm hẳn về ông. Sau đây một thí dụ nghe đâu có thật:
« Một nữ sinh của một trường tại Đô thành, đã thi đỗ Tú tài II. Kỳ thi ấy lại có chuyện thưa gởi vàcó người thưa rằng em không thi thể dục mà vẫn có 18 điểm thểdục. Theo hồ sơ, em thi thể dục tại Bình dương. Nhà trường lại xác nhận ngày thi ấy, em có mặt tại lớp học. Thế thì cùng một lúc em ấy có mặt ở hai nơi ? Tôi không rõ những gì xảy ra kế đó, tôi chỉ ghi: nếu các giáo sư hôm ấy ghi nhầm hiện diện thì cả một oan uổng và rủi ro cho em ấy. »
Thế nhưng việc kiểm soát hiện diện thường được giao cho trưởng lớp và ít khi được nghiêm chỉnh thi hành. Đành rằng ta muốn tập học sinh tự điều khiển, tự tổ chức, tự kiểm soát và thi hành một số kỷ luật chung, muốn chúng nhờ đó mà ý thức được trách nhiệm của chúng trong cộng đồng; nhưng thực thi cái ý muốn tốt đẹp ấy không trùng nghĩa với « chuyển giao trách nhiệm» hay «làm nhẹ gánh cho ta ». Có người, trái lại, quá chu đáo, điểm danh vào mỗi giờ dạy. Như thế, phải mất thêm đôi ba phúgt; đó là những phút chết không lợi ích gì cho thầy và cho trò, ngoài cái việc thi hành đúng mức một nhiệm vụ hành chánh khô khan, vô vị.
Thiết tưởng, dạy là giáo dục. Đã nhiều lần, chúng ta khẳng định : mỗi thầygiáo, mỗi cô giáo, bất kỳ thuộc một bộ môn nào, phải là một nhà giáo dục. Giáo dục cũng khôngđồng nghĩa với dạy chữ, bán kiến thức, một thứ kiến thức lắm khi cằn cỗi ngu người. Với chúng ta, giáo dục là «nhuộm mây, nẩy trăng », vẽ mây chỉ vì trăng, là dùng kiến thức để đạt dến con người. Muốn thế, phải biết trẻ, không chỉ dưới hình thức một lớp học nhất tâm, nhất trí — mà tôi đã mạo muội gọi là một

* Trang 122 *
device

lớp học có hồn — mà phải biết gần như từng cá nhơn một. Cho nên, nhìn qua lớp học, tối thiểu, tôi phải biết ngay những ai vắng mặt. Không phải tôi đã quá quan tâm về những luật lệ hành chánh, hay về những rủi ro mà trăm năm mớicó một lần. Tôi cũng hiểu, trong thời nhiễu loạn nầy, mạng người lắm khi còn rẻ, thì cái lỗi của ông thầy giáo cũng dễ được khoan dung. Nhưng đây thuộc nguyên tắc : tôi không thểnóigiáo dục một người mà không biết gì về người đó cả ; thậm chí, vắng mặt, tôi không biết, có mặt tôikhông hay và cả cái tên thân yêu của họ, có khi tôi cũng không nhớ nỗi. Vậy, tôi phải biết và nếu cần, tôi sẽ hỏi thăm về sự vắng mặt : không phải một thứ thăm hỏi tò mò về đời sống riêng tư của người khác mà là một sự chăm sóc của thầy dành cho trò.
Thật lắm chuyện, nhưng nào hết ; đây chỉmới là chiêu hồn lễ, cái lễ đầu giờ, ngắn ngủi nhưng cần thiết.
Giờ dạy là một buổi hẹn, như mọi hẹn hò, có lúc phải chia tay. Việc chia tay thầy trò sau giờ học, không lâm ly, không như «đưachàng lòng dặc dặc buồn» hay «cảnh biệt ly sao mà buồn vậy» với khăn lau nước mắt, tay vẫy tay chào... nhưng nó vẫn có những dấu hiệu của sự « hẹn ngày tao ngộ ». Thế nên phải dành năm ba phút cho cái lễ cuối giờ.
2.— Lễ nghi cuối giờ. Tôicó dịp dự nhiềubuổi họp của những người lớn, đa sự, đa vụ.Buổi họp thường được chuẩn bị kỹ càng, có chương trình nghị sự, tài liệu đính kèm, gởi cho các họp viên cả tuần lễ trước. Nhưng người đa sự, đa vụ không là người thường, nên có những người khác làm cái việc đọc và suy nghĩ cho họ và hầu hết họ chỉ đọc các tờ trình của những người nầy vài phút trước khi vào họp. Thế nên, lắm

* Trang 123 *
device

khi người đa sự, đa vụ, vào họp lại chẳng biết gì hoặc phải mất mươi lăm phút, mới rõ những yếu điểm của vấn đề nghị sự.
Ông giáo không là người lớn trong cái nghĩa ông có một địa vị xã hội rất khiêm tốn và cũng khôngđa sự, đa vụ. Hơn nữa, đối tượng của ông là con nít. Họp với con nít, hẳn phải khác với người lớn. Người lớn thường nhiều quyền nên có thể họp bàn những chuyện trọng đại, để... không làm. Con nít, thật thà, thơ dại, ít quyền nên ít biết nói đểkhông làm. Ông giáo cũng không muốn trẻ con mình trở thành những thứ đa ngôn, hành thiểu. Cho nên, ông không hẹn trổng, hẹn bông lông, hẹn gặp nhau hẳn hay ; ông phải chuẩn bị buổi hẹn từ hôm nay, ngay lúc nầy, đang sắp chia tay.
Biên bản buổi họp hôm nay thì đã có rồi ; đó là bản toát yếu ghi trong tập các em học sinh, là những điểm, những lời phê, lời ghi chú trong sổ của thầy... Nhưng, buổi gặp lại, mai mốt đây, chúng ta phải làm gì? Thầy sẽ bảo : « Các em, lấy sổ đầu bài và ghi : ngày. . . tháng . . . giờ ... bài học : . . . bài làm : . . . trang . .. số . . . sách. . . hay các em hãy xem lại bài .. . , cóthể thầy hỏi đến ...»
« Sổ đầu bài » một danh từ cũ mà có người không còn nhớ hay chưa biết. Thường mỗi lớp ; có một sổ đầu bài dành cho giáo sư ghi lại các đầu bài dạy cho quí vị hiệu trưởng, giám học, thanh tra theo dõi công việc hằng ngày của giáo chức. Tùy trường, tùy ban giám đốc, hình thức các sổ đầu bài khác biệt nhau, có số chia thành bộ môn, có số chia theo giáo sư phụ trách lớp học. Đó lại là những đặc chế khác của người lớn, có những lợi ích riêng cho người lớn, tôikhông dám lạm bàn

* Trang 124 *
device

« Sổ đầu bài », mà tôi muốn nói ở đây thuộc lãnh vực con nít. Đó là những tập 100 trang, thường được chia làm sáu phần dành cho sáu ngày học trong tuần lễ, để trẻ con tiện ghi công việc hằng ngày của chúng. Đó là một loại « agenda » cho trẻ con, rẻ tiền vả tiện dụng. Để tập trẻ con sử dụng thời gian, tự tổ chức cuộc sống. Về phương diện nầy, cóthể nó khôngcó chỗ trong các lớp lớn như lớp 11, 12 vì đa số học sinh tuổi ấy thường đã biết hoặc có cảm tưởng biết tự tổ chức lấy, nhưng ở các lớp nhỏ thì thật cần thiết.
Hơn nữa, tuy cùng một nhiệm vụ giáo dục, trong thực tế phụ huynh và giáo chức không mấy khi được biết nhau, giúp đỡ nhau trong gánh nặng chung ấy. Ngoại trừ những trường hợp ít ỏi như khen thưởng, cảnh cáo, hay đuổi (cho nên, thường phụ huynh chỉ được mời đến trường hoặc với niềm vui cao độ hoặc với thất vọng, lo âu) sự liên lạc gia đình học đường được tóm lược qua các thành tích biểu, học bạ của mỗi lục cá nguyệt hay mỗi tháng; sự chung lo thường xuyên gần như không có. Tập sổ đầu bài của học sinh là nhịp cầu liên lạc hằng ngày giữa phụ huynh và giáo chức. Nếu cần, ngoài những tiêu mục cổđiển, ta thêm những cột ghi điểm, ghi lời phê của thầy cô, lời khen, lời khuyến cáo, những nơi ký khán của phụ huynh... Mỗi tối, phụ huynh chỉ cần xem qua sổ đầu bài của con em mình đề có một ý niệm khái quát về sự diễn tiến của các cố gắng của chúng ở học đường và rõ được những công việc mà chúng phải thực hiện ở nhà cho ngày học hôm sau.
Thuở xưa tôi có biết sổ đầu bài với danh hiệu là « cahier de textes » ; hiện nay, nó còn có mặt trong một vài trường như Lasan Taberd với tên là « sổ bài học và bài làm ». Tên tuy có khác nhưng vai trò vẫn là một. Tiếc rằng nóđã vắng

* Trang 125 *
device

bóng trên hầu hết các trường công lập và đa số trường tư thục của ta, đề học đường như chấm dứt ngay sau giờ học, đểsự liên lạc gia đình-học đường đã lỏng lẻo, càng thêm lỏng lẻo.
Chúng đã chép đầu bài học, bài làm, ghi công việc phải thực hiện ở nhà, nhưng mấy khi ta đã yên tâm với bao nhiêu đó, phải chỉ dẫn thêm, mớm hơi để nhiệm vụ giao phó luôn luôn trong tầm tay của chúng. Thí dụ muốn ngày học cây đậu, mỗi học sinh đều mang theo một cây đậu con, thì phải chỉ dẫn loại đậu, cách gieo, cách chăm sóc và dự đoán từ lúc gieo đến ngày học, cây đậu phải ở vào cỡ nào để sự quan sát có thể xem là tốt nhứt... Thí dụ phải cho một bài tập toán làm ở nhà, nhưng bài ấy có vẻ hơi khó hoặc thuộc một loại mới hay đòi hỏi một lý luận mà đa số học sinh chưa quen thuộc... lắm khi phải chú giải hay đặt thêm vài câu hỏi dẫn đường... Cái chánh yếu là sao đừng quá khó đề chúng không chán nản, đừng quá dễ để chúng không xem thường và chịu khó tìm tòi.
Đứa con lần đầu phải đi xa ; nó được chọn đi học ở tỉnh hay nó phải đi làmở tận Saigon .. Cuộc viễn du ấy có thể là cái may vô cùng của đời nó và là cái mong đợi của toàn gia đình. Thế nhưng, người mẹ vẫn lo âu khổ sở; ngoài buổi cơm tối thịnh soạn, những chăm sóc nho nhỏ nhưng chu đáo : từ chiếc va li quần áo xếp kỹ cho đến gói tiền mọn phòng xa... những dặn dò chi tiết không bao giờ dứt. Đó là nghi lễ ra đi. Nghi lễ cuối giờ không khác mấy ; có khác chăng là người mẹ hoàn toàn bị động với hình ảnh một đứa con lúc nào cũng thơ dại, còn nhà giáo thì quyết định theo những ước đoán về mức độ trưởng thành và hiểu biết của học sinh mình. Thế nên những tình tiết của nghi lễ cuối giờ chỉ chấm dứt với tiếng chuông ra chơi như những dặn dò của người mẹ chỉ chấm dứt

* Trang 126 *
device

khi xe đã lăn bánh. Vậy, nhà giáo không rời lớp học trước tiếng chuông reo, vì như thế các lớp học kế cận có thể bị ồn, không học được. Nhà giáo cũng khôngđể học sinh ngồi đợi chuông vì như thế lớp học quen với thời gian chết. Nhà giáo cũng không kéo dài giờ học sau tiếng chuông reo vì nếu là giờ chơi thì lớp học bị chi phối bởi tiếng nô đùa kế cận : vả lại giờ chơi cũng lợi ích và cần thiết không kém giờ học. Trong thực tế, tiếng cười la bên ngoài lấn áp cả lời đối đáp bên trong : không nghe nhau được, không học được... Nếu là tiếng chuông đổi giờ thì có một lớp học khác đang chờ đợi mình hoặc một đồng nghiệp sắp đến và không một lý do nào đề buộc người đồng nghiệp phải đợi ngoài hành lang. Cho nên, kéo dài giờ học chỉ biện minh được một điều : người dạy chưa trù liệu đúng mức hoặc chưa nắm vững thời gian của lớp học mình.
Tóm lại, ông giáo đến đúng hẹn, đi đúng giờ Và nếu những lễ nghi đầu giờ nhằm tạo một không khí thích hợp cho việc học thì những lễ nghi cuối giờ nhằm chuẩn bị cho lúc thầy cô vắng bóng, để hình ảnh của lớp học còn như đâu đó, để những lời dặn, những ghi chép sau cùng vẫn còn rõ ràng, minh bạch, để sự hiện diện của thầy cô bên đứa trẻ gần như toàn diện.
Hẳn còn những nghi cách khác cho thầy, cho trò trong suốt giờ học. Tuy nhiên, giờ học không là một chuỗi dài nghi thức... Những tiểu xảo, những hình thức bên ngoài chỉ có thể là những việc « bất đắc dĩ, » « chẳng đặng đừng ». Đức Phật từ bỏ ngai vàng điện ngọc thì người đời lại xây chùa cao, đền đẹp. Chúa Ky Tô sanh ở mán cỏ, một đời khổ cực cho chúng sanh thì nhiều khu ồ chuột bao quanh những Vương cung Thánh đường đồ sộ, nguy nga. Đó là lễ nghi. Nào trầm, hương, đèn đuốc,... bao nhiêu tốn kém để tạo một không khi tôn nghiêm

* Trang 127 *
device

thích hợp cho lòng người mặc niệm, từ bỏ những bản năng, những nhu cầu nhỏ nhặt hằng ngày, để tâm hướng về thế giớicủa chân thiện mỹ : lễ nghi trở nên cần thiết. Nhưng rồi bỗng phát sinh ông từ giữ miếu mà với đa số, thì lễ nghi rất mực phải như thế, thần mới linh, người cúng mới đông, ông từ mới sống mạnh.Ông giáo cố tạo những điều kiện để hướng học trò ông về một phương trời chân thiện mỹ; ôngnói đạo làm người, ông khôngkhác những người khai đạo, ông bày lễ nghi, ông giữ lễ nghi ... nhưng ông không là hạng « từ giữ miếu » nêu trên vì lễ nghi không nhằm cho ông thêm chút xôi thịt hay lợi lộc nào. Cho nên, nếu ta đã lạm bàn về một vài nghi thức trong lớp học, nếu ta đã nghĩ « không lễ lấy gì mà đứng » thì kết luận có lẽ phải là những lời sau đâv của Đức Phật,
Phật dạy :
« Ớ các tì khưu ! Có người kia đi đến một vùng nước rộng thấy mé mình đứng rất nguy hiểm và ghê sợ, còn mé bên kia thì yên ổn hiền lành. Muốn sang qua đó thì lại không cầu. Anh ta bèn nghĩ : ta hãy bẻ cây làm tạm một chiếc đò để đưa ta qua sông. Sau khi đến mé bên kia rồi, anh ta bèn nghĩ : nhờ chiếc bè nầy mà ta qua được bên nầy như vậy, ta phải đội nó trên đầu ta hoặc vác nó trên vai ta luôn luôn bất cứ đi đâu. Ớ các tì khưu, các anh nghĩ thế nào về việc làm của anh đó ! Làm như thế có đối xử đúng với chiếc bè của anh ta không ?
—Thưa Thế Tôn, không ạ !
—Vậy thì, người ấy phải đối xử cách nào đối với chiếc bè cho phải lẽ ? Giờ đây, nhờ chiếc bè để qua được mé bên kia, đạt được ý muốn rồi, người ấy nghĩ : Nhờ nó mà ta qua được mé bên kia, vậy thì bây giờ ta không còn cần dùng đến nó nữa, hãy để yên nó lại đây bên mé sông, hay buông thả nó

* Trang 128 *
device

trôi tha hồ theo giòng nước mà đừng lưu luyến gì đến nó nữa. Người ấy nghĩ thế và làm thế, là sáng suốt, là đúng lẽ.
Ớ các tì khưu, giáo lý của Ta cũng chẳng khác nào chiếc bè trên đây : nó dùng để chở Ta qua sông, chứ không phải để mà đội trên đầu, mang trên vai mãi mãi...» (2) Thế nên có một lần, Đức Phật chỉ mặt trăng mà bảo các đệ tử : « Kia là mặt Trăng? Các con cứ theo ngón tay Ta chỉ thì thấy. Nhưng nhớ rằng ngón tay Ta không phải là mặt Trăng... cũng như những lời Ta giảng về Đạo. Các con có thể theo lời Ta giảng mà tìm thấy Đạo. Nhưng nhớ rằng lời giảng của Ta không phải là Đạo ». (3)
Một vài nghi thức cho lớp học hẳn không sánh được vớigiáo lý thâm sâu của Đức Phật. Tuy nhiên trong bối cảnh chung của việc học làm thầy có lẽ phải ghi : Hãy nhìn Trăng, và nhớrằng ngón tay của Phật không phải là Trăng. »
 
NGUYN VĂN TRƯNG
Giảng Sư Đ.H.S.P. — Saigon
 
 
  1. Trần Trọng Kim, Nho Giáo, quyển thượng, in lần thứ tư, Tân Việt xuất bản.
  2. Thu Giang Nguyễn Duy Cần, Phật học Tinh hoa, Khai Trí xuất bản.
  3. Trang Tử, Nam Hoa Kinh, bản dịch của Nhượng Tống, Tân Việt xuất bản, in lần thứ hai.

* Trang 129 *
device

 
Tư Tưởng Số Đặc Biệt (Năm 1974)