LOGO VNBET
MỘT VÀI NHẬN ĐỊNH
MỚI VỀ NGUỒN GỐC
DÂN TỘC VIỆT NAM

 
• Trương Đình

NGƯỜI Việt nam ta thường tự hào với quá khứ 4.000 năm văn hiến, nhưng một điều đáng buồn là chính ngay cả cỗi gốc của dân tộc, đến nay vẫn chưa được biết một cách rõ rệt.
Trong bài nầy, dựa vào một số tài liệu mới tìm thêm được gần đây, chúng tôi xin góp thêm một vài nhận định về nguồn gốc dân tộc Việt nam ta.
I.—  NHỮNG KHÁM PHÁ VỀ KHẢO CỔ HỌC VÀ NHÂN CHỦNG HỌC
Từ đầu thế kỷ thứ 20, nhiều nhà khảo cổ học đã tổchức khai quật các di tích tiền sử ở Bắc Sơn, Hòa bình, Đông sơn... Kết quả cho thấy là đã có 5 giống người khác nhau sinh sống tại Bắc việt, suốt trong thời kỷ tiền sử, đó là các giống : Mélanisien, Indonésien , Négrito, Australoide, Mongoloide .

* Trang 79 *
device

Giống Mélanisien là thổ dân, đãcó mặt tại Bắc việt từ thời đại đồ đá cũ, các giống sau mới di cư đến từ đầu thời đại đồ đá mới.
Theo Henry Mansuy, thì người Mélanisien đã sống cùng thời với người Indonésien và chính giống Indonésien đã góp phần lớn trong sự cấu tạo nên các giống người ở vùng Đông Nam Á. Giống Négrito, Australoide đến sau, rồi cuối cùng mới đến giống Mongoloide, nhưng giống Mongoloide có một ảnh hưởng đáng kể trong thành phần nhân chủng của dân cư Đông dương.
Với sự pha trộn của 3 giống người Mélanisien, Indonésien, Mongoloide và một phần nhỏ của giống Australoide, Négrito đã tạo thành giống Nam-á bao gồm các dân tộc Diến điện, Khmer, Thái lan, Lào, Mã lai á, Nam dương, Phi luật tân... và người Việt nam ta ngày nay.
Theo ông Hoàng Hưng, một sử gia mới nổi tiếng tại Bắc việt thì « những sọ người thuộc thời đại Hùng Vương mới phát hiện gần đây đều có những đặc điểm của tiểu chủng Australoide pha trộn với những đặc điểm Mongoloide, càng về sau những đặc điềm nam Mông gôn cộng chiếm địa vị ưu thắng đưa đến việc hình thành nhóm Nam á, nhóm nầy góp phần rất quan trọng trong thành phần nhân chủng của cư dân thời Hùng Vương. »
Nhậnxét nầy phù hợp với các cuộc nghiên cứu về nhân chủng học của các giáo sư ở Trường Viễn đông Bác cổ (Hà nội) thời tiền chiến. Theo hai Giáo sư P.Huart và Bigot cho thấy ít nhất có 2 giống người đã tạo nên người Việt nam : một thành phần bé nhỏcó lẽ là của giống Mélanisien và Indonésien, một

* Trang 80 *
device

thành phần cao lớncó lẽ là giống Mongoloide. Về tập đoàn huyết hệ theo cuộc nghiên cứu của Bezacier và Marneffe thì huyết hệ của người Việt nam thuộc về loại Phi châu và Nam á cùng chung với các giống Bahnard, Rhadé, Chàm, Mường, Thái, Ainu (ở Nhật), người Mã lai ở Sumatra Java và người Malgache ở Madagascar.
Người Mường về huyết hệ gần giống với người Mã lai và Nam dương hơn người Việt, chứng tỏ là người Việt đãcó sự pha máu với một giống người khác, nhưng dẫu sao người Việt cũng gần với người Mường hơn người Trung hoa. Vì thế, về phương diện nhân chủng, Marneffe và Bezacier đãđề nghị lược đồ sau đây để trình bày nguồn gốc dân tộc Việt nam :
 
Dấu hỏi trong lược đồ, để chỉ một giống người đã sinh ra người Việt nam và người Thái, nhưng chưa biết đích xác là giống nào, nhiều học giả đã cho là giống Nam á, nhiều học giả khác lại cho là giống Indonésien.
Bây giờ ta hãy xét đến những điểm tương đồng về nghệ thuật cấu tạo của các di vật đã tìm thấy được tại các di tích đào được ở cuối thời đại đồ đá mới, tại Phùng nguyên, Lũng

* Trang 81 *
device

hòa, Vịnh Hạ long... và nhất là trong thời đại đồ đồng, mà các loại trống đồng Kiểu I (theo Héger) đã tìm thấy trong một diện tích khá rộng rãi không những ở Bắc việt, Thái lan, Tứ xuyên, Vân nam, Lưỡng Quãng, mà còn đến tận Nam dương, Phi luật tân, Hawai, Équateur (Nam Mỹ). Những cảnh điêu khắc trên các di vật như cảnh tang lễ, cảnh giã gạo, cảnh người chèo thuyền hóa trang thành chim ... và các nét hoa văn khác làm cho ta phải ngạc nhiên hết sức về sự giống nhau của những người đã tạo ra trống đồng; phải chăng đây là do sự mậu dịch giữa các dân tộc, hay do sự di tản của một giống người trước hiểm họa xâm lăng?
Những dụng cụ bằng đồng tìm được trong các cuộc khai quật mới đây tại Đào thịnh, Lũng hòa, Làng vạc (Nghệ an)-... cho thấy là thời đại đồ đồng tại Việt nam đã có từ 2.000 năm TTL. Người ta cũng tìm được tại di chỉ Gò chiền, Đường mây những dụng cụ bằng sắt có vào khoảng thế kỷ thứ 4 TTL.
Những khám phá nay rất quan trọng, đã làm đảo ngược tất cả tin tưởng của nhiều người từ trước đến nay vào sử sách của Tàu, vì theo các sử sách nầy thì chính người Hán trong thời kỳ Bắc thuộc đã dạy cho dân ta cách dùng cày bừa bằng kim khí, bán cho dân ta trâu bò, dạy dân ta lễ nghĩa, lấy vợ gã chồng...
Sự thực đã trái lại. Khoa khảo cổ học, đã cho thấy là tại Trung hoa, thời đại đồ đồng mớicó từ đời nhà Thương, tức là sau ta hàng ngàn năm. Chính nhờ mang những đạo quân đông đảo, thiện chiến đến đổ hộ nước ta, mà người Hán đã học của chúng ta các kỹ thuật luyện kim, trồng tỉa... (cũng như người Mông cổ nhờ tài thiện chiến đã đô hộ được Trung hoa) rồi đem về truyền bá lại cho giống Hán. Nhưng với 1.000

* Trang 82 *
device

* Trang 83 *
device

rải rác ở Trung hoa;ở Bắc việt, ở quần đảo Hải nam, những nơi mà ngôn ngữ được biểu hiện trong cùng một nhómngôn ngữ mà Benedict gọi là Kadai.
Nhóm ngôn ngữ Kadai mới được nhận ra gồm có:
  • Nhóm Lidialects của dần đảo Hải nam,
  • Nhóm ngôn ngữ líêhlao của Nam trung Trung hoa.
  • Nhóm ngôn ngữ Laqua và Lali ờ biên giới của Trung hoa và Bắc việt. Ngôn ngữ Thái và ngôn ngữ Kadai, Indonésien rất giống nhau về cú pháp, nhất là trong việc đặt các chữ phụ nghĩa sau, nhiều hơn là trước những chữ được phụ nghĩa Về ngữ căn, ngôn ngữ Thái có sự tương ứng với ngôn ngữ Indonésien được phối hợp với một đơn âm thể hiện trong tiếng Thái bởi một âm trung vị (mid-level).
Về tự vựng, văn phạm, cũng cónhiềuđiểm tương đồng trong ngôn ngữ Thái, Thổ, Li (ở biên giới Trung hoa, Bắc việt), Ahom. Lối làm thơ lục bát trước đây ta tưởng là của người Việt thuần túy, thì ngày nay người ta thấy cóở Thái lan, người Chàm từ lâu.
Khi nghiên cứu về tên của 2 con sông lớn ở vùng Đông nam Á là Dương tử giang và Cửu long giang, ta thấy cách phát âm của nhiều dân tộc rất giống nhau :
  • Tên cổ của sông Dương tử là Giang. Từ Giang đọc theo Hán cổ là Khang. Cách phát âm nầy hiện được giữ lại trong các tiếng địa phương Quảng đông và Thượng hải.
Tên sông Mékong cũng cónhiều cách gọi khác nhau tùy theo tiếng nói của mỗi dân tộc. Người Việt gọi là Cửu long, Lào gọi là Nậm không (Nậm khoỏng), Khmer gọi là Mékong; người Tàu gọi là Khung giang ... là những dạng tương tự về mặt ngữ âm.

* Trang 84 *
device

Để chỉ những vùng cư trú, tên nôm cổ của ta dùng chữ « Kẻ» (thay vì Làng) mà ngày nay ta còn thấy một vài vùng dùng đến như Kẻ noi (Cổ nhuế), người Mường cũng dùng chữ Kuelđể chỉ Làng. Sau này, bị ảnh hưởng của chữ Hán, chữ Kẻ đã được phiên âm thành Cổ, sự phiên dịch này dần dần trở nên thông dụng không những ởnước ta mà còn thấy trong địa danh ở những vùng Cam túc, Tứ xuyên, Quý châu, Vân nam, nhất là ở vùng Lưỡng Quảng.
Tiến sĩ Benedict đã đề nghị sự phân loại sau đây về ngôn ngữ Đông nam Á :
 
Ngôn ngữ đã có một sự tương đồng từ miền Cam túc, xuống Tứ xuyên, Vân nam, Lưỡng Quảng qua Lào, Thái lan ra đến đảo Hải nam làm cho ta nghĩ đến sự di tản của một giống người nào đó từ miền Tây bắc Trung hoa về Nam ?
III.— NHNG KHÁM PHÁ THEO SỬ LIỆU TRUNG HOA
Theo Sử gia Đào Duy Anh, thì từ đời Tháicổ, trong lúc giống Hán quanh quẩn ở lưu vực sông Hoàng hà (ứng vào các triều đại Nghiêu, Thuấn, Hạ, Thương) thì ờ miền Nam sông Dương tử, sông Hoài đã có những giống người văn hóakháchẳn với người phương Bắc, mà người Trung hoa gọi chung là Man Di, trong đócó người Giao chỉ là thường giao thiệp với người Trung hoa

* Trang 85 *
device

Sách xưa nhất nói đến Việt nam ta viết vào thời Xuân thu Chiến quốc (thế kỷ thứ 5-3 TTL), trong đócónóiđến những sự việc ở vùng Lưỡng Quãng, rồi đến bộ Nhị thấp Tứ s (Sử ký của Tư Mã Thiên, Tiền Hán thư của Ban Cố, Hậu Hán thư của Phạm Việp...)
Arousseau khai thác tài liệu cổ của Trung hoa nói trên, đã cho rằng người Việt nam trước ở Trung hoa rồi mới sang Bắc việt. Theo sử Trung hoa, thì từ thế kỷ thứ XI-TTL đã thấy nói đến nước Sởở hai tỉnh Hồ nam và Hồ bắc. Đến thế kỷ thứ IX- TTL, một ngành của vương quốc Sở di cư dọc theo Dương tử giang và định cư ở Triết giang, thành lập một vương quốc lấy tên là VIỆT vào thế kỷ thứ VI -TTL. Năm 333-TTL, nướcSở đánh bại nước Việt, người Việt phải chạy về Nam chia thành nhiềunhóm :
  1. Đôngâu hay là Việt Đông hải thuộc miền Ôn châu (Chiết giang)
  2. Mân việt (Phúc kiến)
  3. Nam việt (Quãng đông, và Bắc Quãng tây)
  4. Lạc việt hay Tây âu việt ở Nam Quãng tây và Bắc việt
Sau nầy ba nhóm trên bị người Hán đồng hóa chỉ còn lại nhóm Lạc việt.
Vậy theo sử sách của Tàu thì người Việt nam chính là do người Lạc việt, trước ở miền Nam Trung hoa sau di cư đến Bắc việt, hợp với thổ dân tại đấy thành người Việt nam ngày nay.
Theo truyền thuyết thì dưới thời Hùng Vương thứ I, nước ta có địa giới kéo dài đến Dương tử giang, những đến cuối đời vua Hùng Vương thứ 18 thì địa giới chỉ còn bao gồm vùng

* Trang 86 *
device

Bắc Việt và 3 tỉnh Thanh, Nghệ, Tĩnh. Phải chăng địa giới nầy đã bao gồm cả các nước Sở Việt mà người Trung hoa gọi là Man Di ? Còn về số đời vua chỉ có 18 đời lại ứng với thời gian 2.621 năm thì giải thích thế nào? Phải chăng là « một con số tùy tiện thêm vào, » « bắt đầu từ thời Lê sơ » hay là thời gian đóđã có 18 dòng họ khác nhau nối ngôi ? Theo tác giả Việt sử lược thì đời Hùng Vương mới xuất hiện vào thế kỷ thứ VII-TTL. Trong Việt sử lược của Vũ Quýnh chép rằng : «Năm 690-TTL ở bộ Gia ninh có người dị thường dùng thuật huyền bí khuất phục các bộ lạc, tự xưng là HùngVương, đặt tên nước là Văn lang, thắt nút giây đề ghi nhớ ».
Trong bộ Tiền Hán thư của Ban Cố soạn, đã nêu một vài con số về hộ khẩu ở các quận Giao chỉ, Cửu chân, Nhật nam làm cho ta suy nghĩ. Sách đó cho biết vào thế kỷ thứ I-STL miền Giao chỉ có 92.440 hộ, tức là 746.237 nhânkhẩunhiều gấp đôi tổngsổ dân của quận Hợp phố, Nam hải, Uất lâm, Thương ngô (tương đương với Lưỡng Quảng ngày nay), cả 4 quận này chỉ có 71.805 hộ với 390.555 khẩu. Phải chăng vì dân Lạc việt bị giống Hán xâm lăng, nên đã bỏ miền Lưỡng Quảng vào Bắc việt, khiến cho Bắc việt sau mấy thế kỷ đã trở nên đông đúc, còn miền Lưỡng Quảng chưa được phát triển mấy với số chủ nhân mới ?
Nhà sử học Từ Tùng Thạch cũng nhận xét: « Nhân khẩu của quận Giao chỉ so với quận Nam hải nhiều gấp 8 lần ». Xem thế thì miền Giao chỉ rất thích hợp với sự cư trú của loài người nên văn hóa tất nhiên phải phát triển nhanh và trước văn hóa của Lưỡng Quảng ?

* Trang 87 *
device

IV.- TỔNG KẾT
Qua các tài liệu đã trình bày trên, chúng tôi có một nhận định như sau về nguồn gốc dân tộc ta :
Dân tộc ta là một nhóm trong giống người, mà sử sách Trung quốc gọi là MAN DI, các nhà cổ nhân loại học gọi là INDONÉSIEN. Giống người này có lẽ phát xuất từ Tâybắc sông Hoàng hà. Họ đã định cư tại miền này suốt trong thời đại đồ đá cũ, cách đây ít nhất hơn 10,000 năm, đồng thời với người Hán.
Sự va chạm ngày càng lớn, khi nhânkhẩu mỗi ngày một tăng giữa nòi Hán (Mongoloide) và Indonésien, có khi Hán thắng, có khi Indonésien thắng.
Sau đó người Hán đã thắng (ghi dấu bằng trận đánh giữa Hoàng Đế và Suy Vưu) và giống Indonésien đã phải bỏ lưu vực Tây bắc Hoàng hà để di cư theo hai đường :
1.— Một theo đường bể đổ bộ lên Bắc việt, rồi từ đó sang ; Phi luật tân, Nam dương, Mã lai. Sự di cư nầy bằng đường bể ; nhanh chóng, nên ngày nay giống Indonésien ở những vùng nầy nguyên giống hơn.
2.— Một theo đường bộ di tản trên lục địa Trung hoa rồi đi dần về phía miền Dương tử giang. Nhóm nầy chia thành nhóm nhỏ :
  • Nhóm người Miêu, Man đi về miền Tây nam định cư ở miền Vân nam, Quý châu, Tứ xuyên, Cam túc.
Nhóm người Thái bành trướng rộng rãi nhất. Họ di cư đến Diến điện, Ấn độ nhưng sau lại bị giống Aryen đánh đuổi phải quay ngược trở về Bắc lập nên các nước Thái, Lào và định cư ở miền Bắc việt, Vân nam, Quý châu, Quảng đông, Quảng tây, ra đến tận đảo Hải nam

* Trang 88 *
device

Nhóm người Việt theo bờ bể định cư ở Triết giang, Phúc kiến, Quàng đông, Quảng tây rồi đến Bắc việt hợp thổ dân Mélanisien và giống Thái đã đến trước thành người Việt ngày nay.
Trong nhóm người Thái di cư đến Ấn độ, có một số đã hợp với thổdân Dravidien để thành lập các nước Phù nam, Khmer, và có lẽ cả một số bộ lạc ở cao nguyên Trung phần hiện nay như Bahnar, Sédang.
Để tóm lược nhận định này, chúng tôi đề nghị một lược đồ sau đây để trình bày nguồn gốc dântộc Việt nam.
Lớp người Nam thiên đợt I vì đi đường biên nên đã tới định cư tại Bắc Việt nam và Lưỡng Quảng trước, lớp người Nam thiên đợt II theo đường lục dịa. Thời gian chính thức của đợt Nam thiên I phải đợi những khai quật của khoa Khảo cổ học để xác định. Nhưng dựa vào những khai quật gần đây của các sử gia miền Bắc và của ông Solheim ở Thái lan thì tại địa bàn sông Nhị và miến Bắc Thái lan đã có một nền văn minh định cư nông nghiệp lâu ít nhất 5, 6 nghìn năm hay hơn nữa. Dựa vào những khai quật này những sử gia trên đã đưa ra thuyết « nguồn gốc tại chỗ » để bác thuyết nguồn gốc từ phương Bắc. Tuy nhiên, theo thiển ý việc khám phá ra một nền văn minh tối cổở địa bàn Bắc Việt nam và Bắc Thái lan chưa đủ để bác thuyết Nam thiên, trái lại còn làm cho thuyết này có thêm luận cứ vững chắc. Chính vì tới Bắc Việt nam trước bằng đường biển nên lớp người Cổ Việt đãcó thể định cư ở Bắc Việt nam và tạo ra tại đây một nền văn minh độc đáo sớm hơn cổ Việt, Nam thiên bằng đường bộ. Hơn nữa những khai quật tại địa bàn sông Nhị và Bắc Thái lan phải được cắt nghĩa trong toàn bộ những khám phákhác như ngôn ngữ tỷ giảo, đo

* Trang 89 *
device

sọ, sử liệu cổ Trung hoa, phong tục học, truyền thuyết dân tộc v.v... Mà xét như thế thì những khai quật của khảo cổ học tại Bắc Việt nam và Bắc Thái lan vừa ăn khớpvới toàn bộ cuộc nghiên cứu về nguồn gốc dân tộc ta lại vừa rọi sáng được nhiều nghi vấnlớn lao củacổ sử Việt, như huyền thoại Lạc Long Quân « tuần thú phương Nam », vấn đề kết hợp Âu việt và Lạc việt, kết hợp Đại việt về Chàm.
Để tóm lược nhận định này, chúng tôi đề nghị một lược đồ sau đâyđể trình bày nguồn gốc dân tộc Việt nam.
 
Chúng tôi xin minh xác lược đồ nầy, chỉ là ý kiến riêng của chúng tôi, dựa vào những điều đã và mới khám phá được của các tài liệu khảo cổ, nhân chủng, sử học và ngôn ngữ học. Chúng tôi hy vọng rằng chẳng bao lâu nữa ý kiến nầy sẽ được

* Trang 90 *
device

các khám phá mới của khoa học chứng minh với đầy đủ dữ kiện hơn.
Trong lúc chờ đợi, chúng tôi thành tâm mong mỏi rằng, dân tộc của cả vùng Đông nam Á sớm tìm thấy được cỗi gốc chủng tộc và văn hóa của mình mà thống nhất thành một khối, Liên bang, để quân bình lực lượng với các dân tộc thuộc khối Anglo-Saxon, Bạch Nga, nhất là của nòi Hán để ngăn chận manh tâm bành trướng của bất cứ khối nào nhất là của nòi Hản.
Dân tộc Do thái sau 3.000 năm linh lạc, đã từ khắp 4 phương trời trở về miếng đất xưa lập quốc, rồi chỉ 20 năm sau đã chiếm lại một phần những vùng đất trù phú của tiền nhân, làm cho cả thế giới khâm phục, thì giống INDONÉSIEN ta, với địa giới còn khá rộng rãi, lại chẳng biết đoàn kết đề thống nhất đất đai, xây dựng lại cái quá khứ oai hùng hay sao ? Tất cả chỉ là do sự trưởng thành về ý thức chủng tộc mà chúng tôi nghĩ rằng người Việt nam ta phải dẫn đầu trong nhiệm vụ phát triển và trau dồi cho ngày thêm lớn mạnh.
TRƯƠNG ĐÌNH
 
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1) Nguồn gốc Mã lai Á của người Việt nam (Bình Nguyên Lộc)
2) Thời đại Hùng Vương (Hà nội) của (Vân Tân, Nguyễn Linh, Hoàng Hưng).
3) Nguồn gốc dân tộc Việt nam (Đào Duy Anh)
4) The Thai’s Peoples (Erik Seidenfaden)
5) Connaissance du Vietnam (P.Huard).

* Trang 91 *
device

Đã phát hành :
 
HẢI TRIỀU ÂM
Số Đặc Biệt Phật Đản 2518
Chủ Nhiệm, Chủ Bút :
  •  
T.T. THÍCH MÃN GIÁC
 
một nội dung phong phú :
TÔN GIÁO CHÍNH LÀ NỀN VĂN MINH NHÂN LOẠI * LŨY TRE LÀNG * SUY TƯ VỀ BẠO LỰC NHÂN THỜI XUÂN THU CHIẾN QUỐC * MIỀN NAM ĐÀNG CỰU * LIÊN HỆ VĂN HÓA ẤN – VIỆT TRƯỚC THỜI TRIỆU ĐÀ * HOÀN CẢN LỊCH SỬ HUẾ - THỪA THIÊN * GIÁO LÍ CỦA ĐỨC THẾ TÔN SOI SÁNG VỊ TRÍ VÀ LẬP TRƯỜNG HIỆN TẠI PHẬT GIÁO NHƯ THẾ NÀO ? * SỰ THỰC HÀNH CỦA THIỀN TÔNG VIỆT NAM …
 
với những cây bút giá trị :
Thích Mãn GiácToan ÁnhThạch Trung GiảNgô Văn PhátBình Nguyên LộcTô Hữu QuỵTrần Ngọc NinhTuệ Sỹ
 
một hình thức trang nhã

* Trang 92 *
device

 
Tư Tưởng Số Đặc Biệt (Năm 1974)