LOGO VNBET
NIÊN ĐẠI HÌNH THÀNH
KINH ĐI
N ĐẠI THA

 
Thích Viên Dung

PHẬT giáo Đại thừa đã có ảnh hưởng lớn tại Trung, Đông và Đông Nam châu Á. Đó là một sự thực lịch sử không thể phủ nhận. Nhưng Phật giáo Đại thừa đã bắt đầu từ lúc nào ? Do những nguyên nhân nào ? Và được phát triển theo một chiều hướng nào ? Đó là những vấn đề mà những người nghiên cứu Phật giáo đã và đang cónhiều bàn cãi.
Trước hết, Phật giáo Đại thừa xuất hiện vào lúc nào ? Qua kinh điển cũng như trong lịch sử Ấn độ, không cho thấy một câu trả lời nào thỏa đáng. Nhiều giả thiết được nêu lên, nhiều suy định dựa theo các công trình nghiên cứu được phát biểu. Và, một trong những phương pháp để truy tầm niên đại thành lập Phật giáo Đại thừa là truy tầm niên đại hình thành kinh điển Đại thừa.
Khi có kinh điển Đại thừa thì tư tưởng Đại thừa đãcó trước đó rồi. Đó là một nhận định rất được phổ cập. Cho đến nay, các nhà nghiên cứu Phật giáo đều đi đến một nhận

 

* Trang 93 *
device

định chung : có thể chia lịch sử Phật giáo làm ba thời kỳ. Từ khi Phật nhập Niết bàn cho đến lúc giáo đoàn chính thức bị chia đôi. Thời kỳ này kéo dài trên 100 năm (1), được gọi là Phật giáoNguyên thủy. Biến cố chia đôi giáo đoàn Nguyên thủy mở màn cho một thời kỳ tranh chấp và chia nhỏ thành nhiều bộ phái. Có đến 18 bộ phái trong vòng 5 thế kỷ đầu của lịch sử Phật giáo (2). Thời kỳ này được gọi là thời Phật giáo bộ phái. Trong thời bộ phái, có một bộ phái nổi bật hẳn lên và phát triển theo một con đường riêng biệt. Đó là Phật giáo Đại thừa. Chữ « Tiểu thừa » được bộ phái này dùng đề gọi những bộ phái còn lại,Phật giáo Nguyên thủy, Phật giáo bộ phái và Phật giáo Đại thừa; Đó là chữ dùng của hầu hết những người nghiên cứu Phật giáo. Cũng có người gọi Phật giáo Nguyên thủy, Phật giáo Tiểu thừa và Phật giáo Đại thừa. Thiết tưởng lối gọi thứ nhứt có tánh cách khách quan và thích hợp với phạm vi nghiên cứu hơn. Ngược lại, cũng có người chỉ gọi có 2. Phật giáo Nguyên thủy và Phật giáo phát triển (trong đó có bộ phái và Đại thừa). Và, đi xa hơn, còn có người ngầm ý cho rằng « Phật giáo phát triển » không còn tánh cách «chánh thống » ... Khỏi phải nóidông dài, lối phân chia và nhận định như trên không những khác xa với thực tế lịch sử mà còn thêm tánh cách cực đoan cục bộ.
Dĩ nhiên, trong hơn 100 năm Phật giáo Nguyên thủy, khôngphải là không có những sự khác biệt ý hướng. Phật giáo Đại thừa cũng không phải đoạn tuyệt hẳn những liên hệ với Bộ phái, cũng như lối phân chia niên đại trên đây không phải là không có nghi vấn. Nhưng tất cả chi tiết về các vấn đề trên vì chưa phải là muc tiêu của bài này, xin được phép gác lại, sẽ bàn đến trong những phần sau.

* Trang 94 *
device

Trở lại vấn đề, đó là niên đại hình thành kinh điển Đại thừa. Và từ đó có thể suy định ra niên đại thành lập Phật giáo Đại thừa.
Kinh điển Đại thừa hầu hết đều bị thất lạc, nhất là khi Hồi giáo xâm nhập vào Ấn độ vào thế kỷ II. Được coi như khá đầy đủ là kinh điển Đại thừa được dịch ra Hán văn. Ngoài ra, còncó những bản dịch ra tiếng Tây tạng. Và, ngày nay, người ta còn tìm lại được một ít kinh điển Đại thừa bằng nguyên ngữ chữ Phạn. Như thế, tài liệu văn học của Đại thừa còn lại hiện nay, phần lớn là những kinh được dịch ra chữ Hán. Do đó, vấn đề được đặt ra : những kinh điển Đại thừa được dịch ra Hán văn đầu tiên vào năm nào ? Vấn đề này sẽ kéo theo một vấn đề khác. Những ai là người phiên dịch đầu tiên tại Trung quốc ? Giải quyết được hai vấn đề này tức tìm được phần đầu cho câu giải đáp về niên đại hình thành kinh điển Đại thừa.
I.— NHỮNG NGƯỜI DỊCH KINH ĐẠI THỪA ĐU TIÊN TẠI TRUNG QUỐC.
Theo lịch sử Phật giáo Trung quốc, những người dịch kinh đầu tiên được kể đến là An Thế Cao, Chi Lâu Ca sấm, Trúc Phật Sóc, Nghiêm Phật Chu, An Huyền, Chi Diệu, Chi Khiêm... Nhưng những kinh do An Thế Cao dịch « đều là kinh Tiểu thừa » (3) vìkhông hợp với mục tiêu bài này, nên không bàn đến. Trong số những người còn lại, Chi Lâu Ca Sấm và Chi Khiêm được xem là những người dịch kinh Đại thừa nhiều nhất. Và hơn thế nữa, đã dịch những kinh trọng yếu của Đại thừa. Nếu Trúc Pháp Hộ và La Thập được kểlà những người phiên dịch quan cho thời kỳ sau khi Chi Lâu Ca Sấm và Chi Khiêm quả là

* Trang 95 *
device

những người quan trọng trong công việc phiên dịch kinh điển Đại thừa trong thời kỳ đầu tại Trung quốc.
Theo Cao tăng truyện. Chi Lâu Ca Sấm (Lokaraksa, còn gọi tắt là Chi Sấm) đến Lạc dương vào thời Linh đế (167-189) nhà Hậu Hán. Đến giữa niên hiệu Quang hòa và Trung bình (178- 189), mới phiên dịch kinh điển từ chữ Phạn ra. Và những kinh do Chi Sám dịch cũng được Cao tăng truyện ghi lại như sau:
« Khoảng giữa niên hiệu Quang hòa và Trung bình, phiên dịch từ chữ Phạn ra 3 bộ Bát nhã đạo hạnh, Bát châu tam muôi, Thủ lăng nghiêm tam muội. Lại dịch thêm 10 bộ nữa, trong đócó kinh A xà thế vương, kinh Bảo tích... (4)»
Các kinh lục Trung quốc đều thừa nhận việc phiên dịch của Chi Sấm. Chỉ có số kinh được dịch ra là mỗi người ghi mỗi khác. Chẳug hạn, trong Xuất Tam tạng ký tập (5), Tăng Hữu đã dựa vào Tống lý chúng kinh mục lục của Đạo An (6), mà ghi số kinh được Chi Sấm dịch là 14 bộ, 27 quyển (7). Sau Xuất Tam tạng ký tập, có Lịch đại Tam bảo ký của Phí Trường Phòng, tăng số kinh dịch của Chi Sấm lên 21 bộ, 63 quyển (8). Khai nguyên Thích giáo lục của Trí Thăng lại thêm 2 bộ nữa thành ra 23 bộ, 67 quyển (9).
Các học giả Nhựt bản hiện đại có nhiều nghiên cứu về các bản kinh dịch ra Hán văn và các kinh lục Trung quốc. Mặc dầu cónhiều ý kiến sai khác nhau, nhưng tất cả đều đồng ý là Chi Sấm có dịch và dịch những kinh trọng yếu của Đại thừa như kinh Bát nhã Đạo hạnh 10 quyển, kinh Bát châu tam muội 1 quyển, kinh Thủ lăng nghiêm 1 quyển, kinh A sơ Phật quốc 2 quyển, kinh A xà thế vương 2 quyển. . . Trong số này, các kinh Bát nhã Đạo hạnh, A xà thế, A sơ Phật quốc, theo giáo sư Tokiwa Daijo, là những bản hiện còn lưu hành. Kinh Thủ lăng

* Trang 96 *
device

nghiêm Tam muội do Chi Sấm dịch đã bị thất lạc. Kinh Bát châu Tam muội hiện còn hai bản dịch. Một bản 1 quyển (Đại Chánh Tạng qu.13 từ. tr. 897) và một bản 3 quyển (ĐCT qu. 3 từ tr.902), cả hai đều ghi Chi Sấm dịch. Nhưng theo giáo sư Tokiwa, bản một quyển do Chi Sấm dịch, còn bốn 3 quyển chưa được xác định (11). Đó là đại lược những điều có liên quan đến Chi Sấm.
Chi Khiêm là một cư sĩ người Nhục chi. Ông học với Chi Lượng là đệ tử của Chi Sấm (12). Theo Xuất Tam tạng ký tập của Tăng Hữu ghi rằng: đời Ngô, từ niên hiệu Hoàng Vũ (222- 228) đến giữa niên hiệu Kiến Hưng (252-253) (13) trong khoảng 30 năm, đã dịch tất cả 36 bộ 48 quyển, trong đó có những bộ quan trọng của Đại thừa như kinh Duy ma cật 2 quyển, kinh Đại A Di Đà 2 quyển, kinh Huệ ấn Tam muội 1 quyển, kinh Bổn nghiệp 1 quyển, kinh Minh độ 4 quyển, kinh Thủ lăng nghiêm 2 quyển... (14). Nhưng trong Cao tăng truyện của Huệ Hiệu lại ghi « đời Ngô từ niên hiệu Hoàng Vũ nguyên niên đến giữa niên hiệu Kiến Hưng, những kinh được dịch ra là Duy ma, Đại bát nê hoàn, Đoan ứng bổn khởi... 49 kinh » (15). Ở Lịch đại Tam bảo ký, tăng lên 129 bộ, 152 quyển (16). Trong Khai nguyên Thích giáo lục, Phí Trường Phòng từ 129 bộ giảm bớt 44 bộ, tăng thêm 3 bộ thành ra 88 bộ, 118 quyển (17).
Như trên, mặc dầu cónhiều ghi nhận sai khác, nhưng không ai có thể phủ nhận việc phiên dịch của Chi Khiêm. Và những kinh do ông dịch, phải nói là rất nhiều cả Đại thừa lẫn Tiểu thừa.
Các học giả Nhựt bản đều đồng ýđại cương như thế. Về chi tiết, giáosư Sakaino Koyo cho rằng kinh Đại A Di Đà do Chi Khiêm dịch có thể là bản « A Di Đà tam đa tam Phật tát

* Trang 97 *
device

đỏa Phật đàn quá độ nhân đạo kinh » hiện còn lưu hành (ĐCT qu. 12 từ tr. 300) (18). Các học giả Shiio, Tokiwa, Mochizuki (19) đều nói rằng kinh A Di Đà do Chi Khiêm dịch là bản dịch đầu tiên được lưu truyền ở Trung quốc. Còn kinh Duy ma cật hiện lưu hành, theo sự nghiên cứu về dịch ngữ trong bản này, giáo sư Tokiwa nóicónhiều chỗ cho thấy Trúc Pháp Hộ đã tu chỉnh lại bản dịch của Chi Khiêm (20). Kinh Bổn nghiệp được suy định là kinh Bồ tát bổn nghiệp hiện còn lưu hành (ĐCT qu. 10 từ tr. 446). Bộ này là bản dịch khác của phẩm Tịnh hạnh trong kinh Hoa nghiêm, nói về những sinh hoạt của Bồ tát vàđược coi như là một kinh trọng yếu. Kinh Minh độ được suy định là kinh Đại minh độ 4 quyển hiện còn (ĐCT qu. 8 từ tr. 478). Như thế, Chi khiêm đã dịch những kinh liên quan đến tín ngưỡng Phật A di đà như kinh Đại A di đà, liên quan đến kinh Bát nhã như kinh Minh độ, kinh Thủ lăng nghiêm, kinh Duy ma, liên quan đến kinh Hoa nghiêm như kinh Bổn nghiệp...
II.— NƯỚC NHỤC CHI
Những người dịch kinh trong thời kỳ đầu tại Trung quốc đều xuất thân từ nhiều xứ khác nhau. Theo thông lệ, những người có tên bắtđầu bằng chữ « An » như An Thế Cao xuất thân từ An tức (Parthia), bằng chữ « Trúc » xuất thân từ Ấn độ, bằng chữ « Khang », từ Khang cư (Kirgiz) và chữ « Chi », từ Nhục chi (Kusãna). Chi Sấm, Chi Khiêm người nước Nhục chi. Chi Sấm đến Lạc dương vào thời Linh đế (167-189) nhà Hậu Hán và bắt đầu dịch kinh giữa niêu hiệu Quang hòa Trung bình (178-189). Như vậy, cóthể Chi Sấm đã rời khỏi Nhục chi khoảng từ năm 150 sau tây lịch. Vậy Nhục chi là một xứ như thế nào, và vào thời kỳ trên, đã có những liên quan gì với Phật giáo Đại thừa ?          

* Trang 98 *
device

Gọi là Nhục chi là gọi theo các tài liệu Trung quốc. Theo Sử ký quyển 123, thiên Đại uyển liệt truyện hay theo Hậu Hán thư trong phần Tây vực truyện, nước Nhục chi, lúc đầu, được ghi nằm vào khoảng giữa Đôn-hoàng và Kỳliên. Sau bị Hung nô đánh thua phải chạy về phía tây vượt qua Đại uyển (Far- ghãna), đánh nước Đại hạ (Bactria) làm thần thuộc rồi kiến lập một quốc gia nằm phía bắc sông Quy thủy (Oxus). Theo sự khảo sát của các học giả hiện đại, cóthể nói sự việc trên xảy ra vào khoảng thế kỷ thứ 2 trước tây lịch (176-126) (21). Lúc bấy giờ, nước Nhục chi nằm vào phía bắc sông Quy thủy, nam có nước Đại hạ, tây cónước An tức, bắc giáp nước Khang cư. Ngày nay có thể suy định nằm vào địa phương Sa man căn.
Trương Khiên đi sứ Nhục chi vào thời Hán Vũ Đế niên hiệu Nguyên sóc nguyên niên (128 trước tây lịch) (22). Như vậy có thể hiểu vào thời này, nước Nhục chi khá mạnh được nhà Hán chú ý đến. Theo tôi liệu ở Hậu Hán thư (23), sau khi định cư, nước Nhục chi chấm dứt đời sống du mục sinh hoạt theo đời sốngđô thị. Tại đây, Nhục chi chia ra thành 5 chức tộc trưởng để cai trị dân chúng. Khoảng 100 năm sau, một trong 5 tộc trưởng là Quý sương Hấp hầu trởnên mạnh đổi tên là Kujula Kadphisès (Khưu Tựu Chước) diệt 4 tộc trưởng kia tự xưng làm vua đặt tên nước là Quý sương (Kusãna). Rồi đánh chiếm An tức phía tây, chiếm Cao phụ là cửa ngõ ăn thông vào phía bắc Ấn độ, diệt cácnước Kê đạt, Kế tân (Kasmira) mở rộng lãnh thổ. Đến đời con là Wina Kadphisès thôn tính luôn xứ Thiên trúc (lưu vực sông Indus) đặt người cai trị. Từ đónước Nhục chi trởnên giàu mạnh lừng lẫy ở miền bắc Ấn độ. Các xứ khác đều gọi là Kusãna, nhưng vào đời Hán, cứ quen theo danh xưng thời xưa mà gọi là nước Nhục chi hay Đại Nhục chi.

* Trang 99 *
device

Người nối ngôi vua Wina Kadphisès không ai xa lạ. Đó là vua Kaniska, một người thường nghe nói đến trong lịch sử Phật giáo. Niên đại của vua Kahiska, cho đến nay, chưa được xác định rõ ràng. Thuyết mạnh hơn hết cho rằng vua lên ngôi khoảng năm 78 sau tây lịch. Nhưng gần đây, căn cứ vào thành quả của các nhà khảo cổ mà cónhiều thuyết được nêu ra, trong đó có J. Marshall nóirằng triều đại vua Kaniska từ năm 128 đến năm 151 sau tây lịch và Sten Know nói từ năm 129 đến năm 152 (24).
VuaKaniska lập kinh đô ở Purusapura (nay là Peshawar), lấy bắc Ấn độ làm trung tâm để thiết lập một vương quốc đủ các chủng tộc, du nhập đủ thứ văn hóa Hy lạp, La mã, Trung hoa hợp với văn hóa Ấn độ thành một thứ văn hóa đặc biệt : văn hóa Gandhãra.
Vua Kaniska còn là một Phật tử hết lòng hộ trì và phát triển Phật giáo. Dưới thời vua trị vì, cótổ chức một cuộc kết tập kinh điển Phật giáo, về cuộc kết tập này cónhiều truyền thuyết khác nhau, có thuyết nói ở Kundalavana Vihãra (Hoàn lâm tịnh xá) thuộc vùngKasmira ; có thuyết nói ở Tăng viện Kuvana xứ Jalandhara thuộc vùng Punjab (25). Vua cũng cho xâynhiều tháp thờ Phật khắp nơi trong nước và một tháp tráng lệ được dựng lên tại thủ đô Purusapura. Tháp này ngày nay không còn. Nhưng những người chiêm bái Trung hoa vào thời sau có ghi chép. Và gần đây Spooner đã tìm thấy di tích ngôi tháp này trong một cuộc khai quật vào năm 1908-1909 (26). Trong những di tích này, người ta còn tìm được thêm một hộp dùng để đựng xá lợi, trong đó có khắc chữ và chạm trổ hình Phật, Phạm thiên, Đế thích. Phân tích những điều uày, người ta được biết vua Kaniska quy y với Nhứt thiết Hữu bộ. Và mặt

* Trang 100 *
device

khác người ta cũng kết luận rằng bên cạnh Phật giáo, các tín ngưỡng khác vẫn được tôn trọng và để cho tự do phát triển. Còn chứng minh cho điều này là những hình ảnh khắc trên đồng bạc phát hành dưới thời vua Kaniska. Có đồng khắc hình Phật, nhưng cũng có đồng khắc hình các vị thần gió, thần lửa (27). Sự kiện này làm cho một số người nghiên cứu ngạc nhiên. Một dân tộc, tính vốn hung bạo ở Trung Á như dân Kusãna mà lại chấp nhận nguyên tắc tự do tôn giáo. « Phải chăng hoàn cảnh xã hội tôn giáo Ấn độ đã thay đổi những người chinh phục họ » ? (28). Radhakrishnan trong quyển Indian Philosophy cũng đã xác nhận điều này. Ông nói những bộ lạc bán khai đã chiếm vùng Punjab và Kashmir. Những người ngoại quốc này đã chấp nhận và nuôi dưỡng tôn giáo ngôn ngữ, văn hóa của cácdân Phật giáo mà họ chinh phục ở vùng này. Kanaiska, một trong những ông hoàng mạnh nhất đã trở thành Phật tử (29). Chính vì những yếu tố trên mà dưới triều đại Kaniska, Phật giáo được triển khai rộng rãi không khác gì thời vua A dục ở Trung Ấn. Và phải chăng vào thời này, Phật giáo được truyền vào Trung hoa nhiều hơn và được phiên dịch ra ?
Sau khi vua Kaniska băng hà, nước Nhục chi trởnên yếu dần và chẳng bao lâu rơi vào tình trạng phân hóa, quân chủ địa phương trong khi ở Trung Ấn, vương triều Gupta được thiết lập. Một điều đáng chú ý là vùng bắc Ấn độ, trước khi bị người Nhục chi cai trị, đã có người An tức (Parthia) chi phối tại đó rồi. Trước người An tức là người Saka, trước người Saka là người Hy lạp. Và vị vua gốc Hy lạp nổi danh là vua Menadros (cũng gọi là Milinda hay Menander) đã trị vì ở đây khoảng lừ năm 160 trước tây lịch (30), đã thọ giáo với ngài Na Tiên tỳ kheo (Nãgasena) mà câu chuyện còn được nhiều người biết đến (kinh
Na Tiên tỳ kheo hay Milindapanha). Bởi thế, dầu có bị thay đổi người cai trị nhiều lần, nhưng văn hóa tôn giáo, nhất là Phật giáo Hữu bộ, từ lâu đãcó thế lực tại đây vẫn được duy trì và có khi còn được pháttriển mạnh mẽ hơn như dưới thời vua Kaniska.
Qua một phần dâng dài về nước Nhục chi, bắc Ấn độ và vua Kaniska, người ta có thể tìm ra được những gì có liên quan đến sự hình thành kinh điển Đại thừa ? Có thể nói ngay là không tìm được gì cả. Nhưng muốn phăng đến chỗ hình thành đầutiên của kinh điển Đại thừa, không thể không đi qua con đường này.
Câu chuyện lịch sử trên đã cho biết điều đó. Điểm thứ nhứt từ trước đến đây vùng bắc Ấn là vùng có thế lực của Hữu bộ. Cho đến ông vua cai trị nổi danh Kaniska còn

* Trang 101 *
device

phải quy y với Hữu bộ. Theo truyền thuyết, cuộc kết tập giáo lý dưới thời vua Kaniska là kết tập giáo lý của Hữu bộ. Truyền thuyết nói mỗi ngày vua thỉnh một vị sư vào cung nghe pháp. Nhưng vua nhận thấy có nhiều chỗ sai biệt trong giáo lý mà vua được nghe. Nhà vua bèn nêu nỗi thắc mắc này với ngài Hiếp tôn giả (Pãrsva) và được biết cónhiều khuynh hướng khác nhau ngay trong Hữu bộ. Do đó vua mới đề xướng một cuộc kết tập giáo lý, dĩ nhiên là giáo lý cho Hữu bộ. Một vùng như vậy chắc chắn không phải là đất xuất hiện những bộ kinh đầu tiên của Đại thừa.
Tuy nhiên, điểm thứ hai, chính nhờ vùng này mà kinh điển Đại thừa được pháttriển. Thật vậy, nhờ chánh sách rộng rãi đối với mọi khuynh hướng tín ngưỡng của vua Kaniska mà kinh điển Đại thừa được phát triển ở đây. Những kinh do An Thế Cao dịch ra tại Trung quốc được ghi nhận « toàn là kinh Tiểu thừa » như đã nói từ trước trong khi kinh do Chi Sấm, Chi Khiêm dịch cócả kinh Đại thừa lẫn Tiểu thừa. Phải chăng đó là phản ảnh

* Trang 102 *
device

phần nào chánh sách dung hợp mọi khuynh hướng của vua Kaniska. Một khi yếu tố khác không kém phần quan trọng, đó là chữ Phạn được dùng thay thế chữ Praprit (31). Dĩ nhiên, sự kiện này cónhiều hậu ý của người cai trị. Nhưng, riêng về phương diện phát huy giáo lý Đại thừa, thì quả là một yếu tố thuận lợi, thì kinh điển Đại thừa đều được ghi chép bằng chữ Phạn. Và cũng vì điểm này, mà cónhiều người đã cho những kinh điển về sau của Đại thừa có thể đã được ghi chép tại vùng này.
Từ những điểm trên có thể đi đến điểm thứ ba. Ở đây không có sự bắt đầu của kinh điển Đại thừa, chỉ lãnh phần tiếp nối và phát triển. Như vậy, sự bắt đầu phải có ở chỗ khác và phải có trước nữa. Một bằng chứng là kinh Bát nhã.Nền văn học Bát nhã này được xem như xuất hiện sớm nhứt trong văn học Đại thừa. Nhìn vào bộ kinh Bát nhã đồ sộ còn lại ngày nay, về lượng cũng như phẩm, thì đủ biết nền văn học này không thể hình thành một sớm một chiều được. Những kinh liên quan đến hệ thống Bát nhã được Chi sấm, Chi Khiêm dịch ra trước tiên tại Trung quốc là kinh Đạo hạnh Bát nhã, kinh Đại minh độ. Những bộ này thuộc về hệ thống Tiểu phẩm Bát nhã. Do đó ngưởi ta nghĩ rằng lúc bấy giờ những kinh thuộc hệ thống Đại phẩm lúc bấy giờ chưa được truyền đến Nhục chi. Điều này cho thấy giả thiết kinh Đại thừa đã có từ trước đó không đến nỗi là sai nhầm.
Mặt khác, trong bộ Tiểu phẩm Bát nhã có ghi câu này khiến cho nhiều người chú ý :
« Kinh Bát nhã ba la mật này, sau khi Phật niết bàn, bắt đầu ở phương nam. Từ phương nam tiến về phương tây, từ phương tây tiến về phương bắc... » (32)

* Trang 103 *
device

Phương nam là nơi chịu ảnh hưởng phái An đạt la (Andhra) thuộc Đại chúng bộ. Đó là nơi đầu tiên được suy định là trung tâm của Đại thừa phát sinh tư tưởng Bát nhã. Và nơi đây chính là trung tâm hoạt động của Long Thọ. Giáo sư Kimura Taiken cũng đồng ý với tác giả quyển Long Thọ Bồ tát truyện do Cưu Ma La Thập dịch, cho rằng LongThọ ra đời khoảng 700 năm sau Phật Niết bàn, tức cuối thế kỷ thứ 2 sau tây lịch. (33). Radhakrishnan cũng nói Long Thọ là người đồngthời với vua Kaniska (34). Qua các tác phẩm của Long Thọ, nhất là Luận Đại trí độ và luận Thập trụ Tỳ bà sa, người ta thấy có nói đến những kinh trọng yếu của Đại thừa rồi. Đó là những kinh Bát nhã, Hoa nghiêm, Duy ma, Lăng nghiêm, Pháp hoa... Chừng ấy kinh điển trọng yếu của Đại thừa không thể nào được hình thành trong một thời gian ngắn. Nếu vua Kaniska và Long Thọ là những con người có mặt vào hậu bán thế kỷ thứ hai sau tây lịch, thì những kinh điển Đạithừa vừa kể trên phải có trước đó lâu xa hơn, nghĩa là phải từ hậu bán thế kỷ thứ hai sau tây lịch tính ngược về trước. Đó là lý do khiến ta có thể hiểu tại sao hầu hết các học giả đềusuy định kinh điển Đại thừa được thành lập trước hay khoảng đầu kỷ nguyên tây lịch (35).
Nhưng vấn đề không phải đến đâylà chấm dứt. Nếu lấy niên đại của vua Kaniska và Long Thọ làm cái móc để phăng dần về phía trước, thì rõ ràng vấn đề chưa được ổn định, mà còn phải tiếp tục phăng đi xa hơn nữa. Trong những kinh điển Đại thừa có trước Long Thọ, kinh nào được hình thành sớm nhứt? Như trên đã nói, đa số những người nghiêu cứu đều đồng ý những kinh thuộc hệthống Bát nhã được hình thành trướctiên. Nhưng gần đây, kết luận trên xem chừng không đứng vững. Bởi lẽ xuyên qua những kinh Đại thừa được dịch

* Trang 104 *
device

ra đầu tiên tại Trung quốc, người ta đã tìm thấy vết tích của những bộ kinh có trước lâu xa hơn nữa. Bởi vậy mà vấn đề không dừng lại, phải bước sang phần kế tiếp.
III. — VT TÍCH NHỮNG KINH ĐI THỪA LÂU XƯA.
Trong kinh Di nhật ma di bảo, I quyển do Chi sấm dịch vào thời Hậu Hán (167-189), hiện còn trong Đại chánh tạng quyển 12, từ trang189 đến trang 194, người ta thấy đã nói đến những kinh có trước đó rồi :
« Bồ tát có 4 điều …..         
Thế nào là 4 điều ? Chỉ tìm cầu kinh pháp Lục ba la mật, kinh Bồ tát Tỳ la và Phật chư phẩm. Khử trừ tâm sân hận... » (36)
Thế là kinh Di nhật ma ni bảo hình thành, đã có các kinh Lục ba la mật, kinh Bồ tátTỳ la và Phật chư phẩm lưu hành rồi.
Trong kinh Pháp cảnh do An Huyền và Nghiêm Phật Chu dịch, cũng vào thời Linh đế nhà Hậu Hán (167-189), hiện còn trong Đại chánh tạng quyển 12 từ trang 15 đến trang 23, đã thấy nói đến kinh Tam phẩm, một kinh được dùng nhưpháp sám hối của Đại thừa :
« Đảnh lễ chư Phật mười phương ngày ba lần, đọc tụng kinh Tam phẩm, ăn năn vớitất cả những hành vi ác trong đời trước, hối cải việc đã qua, tu sửa điều sắp đến... » (37)
Kinh Phápcảnh còn có một bản dịch khác sau này là kinh Úc già la việt vấn Bồ tốt hạnh do Trúc pháp Hộ dịch cũng cónói về kinh Tam phẩm :
« Nên đọc tụng kinh pháp Tam phẩm, dứt bỏ tất cả hành vi xấu ác... » (38)

* Trang 105 *
device

Như thế, kinh Tam phẩm phải được lưu hành trướccó kinh Phápcảnh nên mới được đưa vào kinh này.
Trong kinh Đại A Di Đà do Chi Khiêm dịch vào đời Ngô giữa niên hiệu Hoàng vũ và Kiến hưng (222-253) cũng thấy đã nói đến kinh Lục ba la mật và kinh Đạo trí. Nơi thượng bối đoạn trong tam bối đoạn của kinh này có nói :
« Đó là những người lìa gia đình, bỏ vợ con, đoạn ái dục làm Sa môn theo con đường vô vi, thực thi Bồ tát đạo, phụng hành kinh Lục Ba la mật... » (39)
Điều này, trong kinh Bình đẳng giác, cũng được nói đến như sau :
« Nên thực thi Bồtát đạo, phụng hành kinh Lục Ba la mật... » (40)
Ngoài ra, còn nói đến một kinh khác, kinh Đạo trí :
« Phật dạy A Nan : Phật A Di Đà khi thuyết pháp cho hàng Bồ tát, A la hán, hội ở giảng đường. Bồ tát, A la hán, thiên, nhơn số lượng không thể tính được. Tất cả đều đến chỗ Phật A Di Đà, đảnh lễ xong ngồi xuống nghe pháp. Phật A Di Đà giảng thuyết kinh Đạo trí. Tất cả đều lãnh hội vui mừng, tâm hồn rộng mở... » (41)
Ở Kinh Bình đẳng giác, cũng nói tương tự :
« Đức Phật Vô Lượng Thanh Tịnh liền vì chư Tỳ kheo, chư Bồtát, A la hán, trời, người mà giảng thuyết kinh Đạo trí. Tất cả nghe rõ nghĩa kinh, đều vui mừng, tâm hồn rộng mở... » (42)
Như trên, những kinh do Chi Sấm, An Huyền, Chi Khiêm dịch ra đầu tiên tại Trung quốc, người ta đã tìm thấy vết tích những kinh có trước lâu xa hơn. Đó là kinh Lục Ba la mật,

* Trang 106 *
device

kinh Bồ tát Tỳ la, kinh Tam phẩm, kinh Đạo trí. Những kinh này không có bản dịch nào tại Trung quốc hay bất cứở đâu. Cũng không còn nguyên bản chữ Phạn. Chỉ còn một vài vết tích qua các kinh điển kể trên, cũng như qua các bản dịch khác về sau này. Đến đây người ta có thể đưa ra một kết luận sơ khởi rằng : Nếu các kinh Di nhựt ma ni bảo, Pháp cảnh do Chi Sấm, An Huyền vào thế kỷ thứ 2 sau tây lịch tại Trung quốc, thì các kinh này phải được hình thành ở Ấn độ, có muộn gì nữa, cũng phải vào thế kỷ thứ I sau tây lịch hay khoảng đầu kỷ nguyên như nhiều học giả đã suy định. Và như thế Lục Ba la mật, Tam phẩm... được kể lại, qua các kinh trên, phải dược lưu hành trước đó hơn nữa, nghĩa là phải ở vào những thời gian trước kỷ nguyên tây lịch.
Đi vào một vài chi tiết, kinh Tam phẩm, như trên đã nói, cóthể là một kinh được hình thành gồm ba chương, dùng làm phương pháp sám hối cho Bồtát trong thời kỳ đầu của Đại thừa. Trong những kinh được dịch về sau này, cũng cónói đến kinh Tam phẩm hay Tam phẩm pháp môn. Kinh Úc già trưởng giả hội, thuộc bộ Đại Bảo tích,quyển 82, do Khang Tăng Khải dịch vào đời Ngụy, gọi kinh này là Tam phẩm pháp (43). Trong bộ Siksã samuccaya (còn gọi là Đại thừa Bồ tát học luận), cũng có nói đến kinh Tam phẩm (44). Học Giả Sakaki (45) còn cho rằng kinh này tương đương với kinh Đại thừa Tam tụ sám hối (1 qu.) do Xà Na Quật Đa và Cấp Đa dịch vào đời Tùy khoảng năm Khai hoàng 15 (595). Đọc kinh này người ta thấy giống với phần kinh Tam phẩm được trích dẫn trong kinh Phápcảnh. Như thế, ảnh hưởng kinh Tam phẩm vẫn còn kéo dài mãi về sau này. Do đó, nếu tìm những kinh điển hình thành đầu tiên của Đại thừa hoặc nghiên cứu về

* Trang 107 *
device

phương pháp sám hối của Đại thừa trong thời kỳ đầukhôngthểkhông tính tới kinh Tam phẩm.
Kinh Bồ tát Tỳ la là thế nào ? Theo sự truy tầm của các học giả gần đây, Bồtát Tỳ la tức Bồ tát tạng. Giáo sư Ogihara nghiên cứu chữ « Tỳ lặc » trong luận Đại Trí độ, cho rằng chữ này trong tiếng Phạn là « pẹdã » có nghĩa là « khiếp tạng » (khiếp : cái hòm, cái tráp) (46). Và, vì chữ Tỳ la tương tự với chữ Tỳ lặc, nên có thể dịch Bồtát Tỳ la thành « Bồ tát khiếp tạng » hay «Bồ tát tạng ». Trong những kinh được địch về sau này, không thấy dùng chữ Bồ tát Tỳ la mà dùng chữ Bồtát tạng bên cạnh Lục Ba la mật. Có lẽ từ ngữ Bồ tát tạng đã dược phổthông rồi. Trong kinh Đại Ca Diếp vấn Đại Bảo Tích Chánh pháp do Thi Hộ dịch vào đời Tống, cónói «cầu Lục Ba la mật và Bồ tát tạng ». Trong kinh Đại Bảo Tích, qu. 112 ở phần Phổ Minh Bồtát hội, cũng cónói « xả bỏ tà pháp, cầu kinh điển chơn chánh Lục Ba la mật Bồ tát tạng» (47). Trong phẩm Ca Diếp (Kãsyapa-parivarta) cùng đãnói đến việc cầu Lục Ba la mật (sat pãramilã) và Bồtát tạng (Bodhisattva Pitaka) (48).
Như trên, qua các kinh được dịch vào đời sau, đều cónói đến Bồtát tạng bên cạnh Lục Ba la mật. Bồ tát tạng, theo nghĩa trên, là nhiều kinh điển hợp lại, có nghĩa là những kinh điển thuộc về Bồ tát thừa. Nhưng, mặt khác, Bồ tát tạng cũng còn là tên một bộ kinh, kinh Bồ tát tạng. Theo Xuất Tam tạng ký tập của Tăng Hữu, kinh Bồ tát tạng 3 quyển còn có tên là kinh Phú lâu na vấn hay là kinh Đại bi tâm (49). Kinh này đến đời Đường được Bồ Đề Lưu Chi sáp nhập vào kinh Đại Bảo Tích mà thành ra Phú lâu na hội. Hiện nay, liên quan đến kinh này có 4 bản dịch trongĐại Chánh tạng. Phú lâu na hội do La Thập

* Trang 108 *
device

dịch, 3 quyển, trong bộ Đại Bảo Tích (qu. 77-79, ĐCT qu. II tr. 434-457), kinh Bồ tát tạng 1 quyển do Tăng Già Ba La đời Lương dịch (ĐCT qu. 24 tr. 1086-1090), kinh Đại Bồ tát tạng, bản bịch của Huyền-Trang 20 quyển, trong bộ Đại Bảo Tích, Bồtát hội (qu. 35-54, ĐCT qu. II tr. 195-322). Ngoài ra, còn có một bản dịch nữa của Pháp Hộ đời Tống, kinh Phật thuyết Đại thừa Bồtát tạng Chánh pháp 40 quyển (ĐCT qu.II tr.781-886). Như thế, Bồtát tạng hay kinh Bồtát tạng đã được khai triển rộng rãi về sau này và đã đóng một vai trò hết sức trọng yếu trong Phật giáo Đại thừa. Nhưng kinh Bồ tát tạng này lúc đầu tiên như thế nào, thì chưa ai được biết. Có điều sự hiện diện của nó sớm nhất trong Phật giáo Đại thừa bên cạnh kinh Lục Ba la mật là điều không thể phủ nhận.
Sau cùng, đến kinh Lục Ba la mật. Kinh này được nói đến trong các kinh Di nhựt ma ni bảo (Chi Sấm dịch), kinh Đại A Di Đà, kinh Bình Đẳng giác (Chi Khiêm dịch) và trong các kinh khác được dịch về sau này như kinh Bồtát tạng (Phú lâu na hội) do La Thập dịch hay kinh Nguyệt đăng Tam muội do Na Liên Đề Da đời Tề dịch, như đã nóiở đoạn trên, bên cạnh kinh Bồtát tạng. Trong bộ kinh Đại Bồtát tạng 20 quyển do Huyền Trang dịch, quyển 13 của bộ này dùng để giải thích về Lục Ba la mật. LongThọ luôn luôn đề cập đến kinh này. Trong luận Đại Trí độ, khi giải thích về 12 bộ kinh, kinh này được đưa vào hàng đại biểu cho kinh Phương quảng :
« Kinh Phương quảng (Vaipulya) tức là Đại thừa (Mahãyana). Đó là những kinh Bát nhã, kinh Lục Ba la mật, kinh Hoa thủ, kinh Pháp hoa, kinh Phật bổn khởi nhơn duyên, kinh Vân, kinh Pháp vân, kinh Đại vân. Vô lượng a tăng kỳ các kinh như vậy chỉ vì mục đích

* Trang 109 *
device

làm cho đắc được Vô thượng chánh đẳng chánh giác mà thuyết ra. » (50)
Trong luận Thập trụ Tỳ Bà sa, khi nói về 4 pháp làm hư hỏng thiện căn và 4 pháp làm tăng trưởng thiện căn, Long Thọ cho việc nghe kinh Lục Ba la mật Bồ tát tạng là pháp thứ nhứt làm tăng trưởng thiện căn :
« Những gì là 4 pháp làm tăng trưởng thiện căn ?
Một là những kinh chưa nghe phải cầu được nghe không nhàm chán. Đó là Lục Ba la mật Bồ tát tạng. Hai là đối với chúng sanh, bỏ tâm kiêu mạn, có lòng khiêm tốn... » (51)
Mặc dầu vậy, trong những kinh hiện còn lưu hành, không tìm thấy đâu có kinh Lục Ba la mật cả. Có học giả cho rằng vìcó kinh Lục Ba la mật mới có kinh Bát nhã Ba la mật. Nhận định này dựa theo ý nghĩa một câu trong luận Đại Trí độ như sau :
« Nếu nói về Bát nhã Ba la mật tức là thống nhiếp tất cả Lục Ba la mật. Nếu nói về Lục Ba la mật, tức nói đầy đủ Bồtát đạo. » (52)
Theo ý nghĩa này, Bát nhã Ba la mật bao gồm được cả 5 Ba la mật kia. Bát nhã Ba la mật là ưu vị, là trên hết. có được Bát nhã (Trí huệ) là có tất có. Đó là lập trường căn bản của kinh Bát nhã. Cả hệ thống văn học Bát nhã được hình thành theo chiều hướng ấy cho đến mức cao tột. Và như thế, Lục Ba la mật, hay đúng hơn, năm Ba la mật kia trở nên lu mờ trước sự triển khai của Bát nhã Ba la mật. Từ đó người ta có thể suy luận ngược lại. Khi Bát nhã Ba la mật chưa đi vào con đường phát triển riêng biệt, còn là một trong Lục Ba la mật

* Trang 110 *
device

và được diễn tả bằng một vai trò bình đẳng với 5 Ba la một kia. Rồi dần dần về sau, Bát nhã Ba la một được chú trọng và được triển khai càng lúc càng rộng lớn hình thành một hệ thống văn học Bát nhã như còn lại hiện nay. Nếu sự suy luận này không sai lầm, thì kinh Lục Ba la mật được coi như con đường đưa đến nền văn học Bát nhã. Như thế, khi những kinh đầu tiên trong hệ thống Bát nhã được hình thành, kinh Lục Ba la mật phải được xuất hiện trước đó lâu xa hơn nữa.
E. Conze, khi nghiên cứu về kinh Bát nhã, có đưa ra một nhận định cho rằng những kinh thuộc hệ thống Bát nhã được hình thành trong khoảng từ năm 100 trước tây lịch đến năm 600 sau tây lịch. (53)Nếu nhận định này không bỏ xa sự thực mấy thì kinh Lục Ba la mật, Bồtát tạng phải được lưu hành trước đó, có muộn gì nữa, cũng phải vào khoảng thế kỷ thứ hai trước tây lịch. Và nếu như thế, tư tưởng Đại thừa cũng phải có mặt trước đó hơn nữa, tức tính từ thế kỷ thứ hai trước tây lịch ngược về trước. Nhưng ở đây,vì chỉ nhắm đến việc truy tầm niên đại hình thành kinh điển đầu tiên của Đại thừa, nên vấn đề hình thành tư tưởng Đại thừa sẽ được bàn đến trong những phần sau.
 
THÍCH VIÊN DUNG
CHÚ THÍCH
 
Chữ viết tắt ĐCT. tức Đại Chánh tạng : Đại Chánh tân tu Đại tạng kinh.
(1) Theo Dìpavamsa (Đảo sử) của Thượng Tọa bộ Tích lan và các bộ phái y cứ vào bộ sử này cho cuộc kết tập thứ2 là biến cố phân chia giáo đoàn nguyên thủy làm đôi xảy ra vào
 

 

* Trang 111 *
device

năm 100 sau Phật Niết bàn. Nhưng Hữu bộ và Căn bản hữu bộ lại ghi nhận vào năm thứ 110 sau Phật Niết bàn là niên đại của cuộc kết tập thứ hai tại Tỳ xá ly, chứ không coi là niên đạiphân chia giáo đoàn nguyên thủy (dị bộ tôn luân luận).
(2)       E, Conze: Buddhist thought in India p. 129.
Theo Dìpavamsa (Đảo sử) đã có tới 17 bộ phái tính đến năm 236 sau Phật Niết bàn, tức kỳ kết tập thứ 3 tại Pàtaliputra.
(3)       Sakaino Koyo : Chi na Phật giáo sử giảng thoại qu. I tr. 32, Chi na Phật giáo tinh sử tr, 65.
(4)       Cao tăng truyện qu. I BCT. qu. 50 tr. 324 b.
(5)       Xuất Tam tạng ký tập qu. I, ĐCT. 55-Ib.
(6)                   —nt—                        qu. 5, ĐCT. 55-40a.
(7)                   — nt—                       qu. 2, DCT. 55-ôb.
(8)       Lịch đại Tam bảo ký qu. 2, ĐCT. 49-52c, 53a.
(9)       Khai nguyên Thích giáo lục qu. I, ĐCT. 55-478c.
(10)     Sakaino Koyo : các sách đã dẫn trên, Tokiwa Daifo : «Kinh lục từ Hậu Hán đến Tống Tề », Mochizuki Shinko : « Phật giáo kinh điển thành lập sử luận », Shiío Benkyo : « Phật giáo kinh điển khái thuyết », Hayashiya Yujiro : « Kinh lục nghiên cứu » .
(11)     Tokiwa Daijo : Kinh lục từ Hậu Hán đến Tống Tề, tr. 493.
(12)     Cao tăng truyện qu. I, ĐCT. 50-325a.
(13)     Xuất Tam tạng ký tập qu. 2, ĐCT. 55-7a.
(14)                 —nt—                        ĐCT. 55-6c, 7a.
(15)     Cao tăng truyện qu. I, ĐCT. 50-325b.
(16)     Lịch đại Tam bảo ký qu. 5, ĐCT. 49-58C.
(17)     Khai nguyên Thích giáo lục qu. 2. ĐCT. 55-489b.
(18)     Chi na Phật giáo tinh sử tr. 146.
(19)     Shiio Benkyo : Phật giáo kinh điển khái thuyết tr. 377.
Tokiwa Daijo : Kinh lục từ Hậu Hán đến Tống Tề tr. 560. Mochizuki Shinko : Phật giáo kinh điển thành lập sử luận tr.200.

* Trang 112 *
device

(20)     Sakaino Koyo : Chi na Phật giáo tinh sử tr. 147.
(21)     Kanakura Ensho : Ấn độ Trung thế tinh thần sử qu. 2 từ tr. 72. Nakamura Hajime : « Nước Kusàna khi thành lập kinh điển Đại thừa » trong bộ « Nghiên cứu về sự thành lập Phật giáo Đại thừa » từ tr. 335.
(22)     Hirakawa Akira : « Nghiên cứu về Đại thừa Phật giáo thời kỳ đầu » tr. 21.
(23)     Hậu Hán thư qu. 118.
(24)     Hirakawa Akira sách dẫn trên tr. 96.
(25)     Nakamura Hajime               —nt—            tr. 360-361.
(26)                 —nt—                                                tr.360.
(27)                 —nt—                                                tr.361.
(28)                 —nt—                                                tr.362.
(29)     Radakrishnan : Indian Philosophy qu. I, tr. 591.
(30)                 —nt—                                                tr.345 lại nói từ năm125 đến năm 95 trước tây lịch. Hirakawa Akira : sách đã dẫn tr. 98.
(31)     Nakamura Hajime sách đã dẫn tr. 361.
Radakrishnan : sách đã dẫn tr. 591. cho rằng chữ Phạn thay thế chữ Pàli,tưởng không được đúng lắm.
(32)     Tiểu phẩm Bát nhã qu. 4, ĐCT. qu. 8-555a. Và ở các kinh khác thuộc hệ thống Bát nhã cũng cónói đến :
Đạo hạnh Bát nhã qu. 4, ĐCT. 8-446b.
Đại Minh độ qu. 3, BCT. 8-490a.
Phật mẫu Bát nhã qu. 10. ĐCT. 8-623b.
Phóng quang Bát nhã qu. 10, ĐCT. 8-72a.
Ma ha Bát nhã ba la mật đa kinh qu. 13, ĐCT. 8-3l7b.
Đại Bát nhã ba la mật đa kinh qu. 439, 508, 546, ĐCT. 7-213, 593, 594, 808.
(33)     Kimura Taiken : Đại thừa Phật giáo tư tưởng luận tr. 106.
(34)     Radakrishnan sđd tr. 583

* Trang 113 *
device

(35)     N. Dutt: 100 năm trước tây lịch (Aspects of Mahàyàna Buddhism and its relation to Hinayàna tr. 34).
Sir Charles Elliot: đầu kỷ nguyên tây lịch hay sớm hơn (Hinduism and Buddhism tr. 6).
S. Dagupta : I thế kỷ trước tây lịch (A history of Indian philosophy tr. 125).
Ui Hakuju : khoảng đầu kỷ nguyên tây lịch (Phật giáo kinh điển sử tr. 93).
(36)     ĐCT. 12-189c.
(37)     ĐCT. 12-18c.
(38)     ĐCT. 12-26c.
(39)     ĐCT. 12-309c.
(40)     ĐCT. 12-291c.
(41)     ĐCT. 12-307a.
(42)     ĐCT. 12-287b.
(43)     ĐCT. 11-475c.
(44)     C. Bendall : Siksà-Samuccaya tr. 171, 290.
(45)     Mahàvyutpatti N. 1384, ban của Sakaki tr. 106.
(46)     Văn tập Ogihara Uurai tr. 206.
(47)     ĐCT. 11-6323
(48)     Stael Holstein : Kàsyapa-parivarta tr. 13.
(49)     Xuất Tam tạng ký tập qu. 2, ĐCT. 55-11a.
(50)     Đại Trí độ luận qu. 33, ĐCT. 25-308a.
(51)     Thập trụ Tỳ Bà sa luận qu. 9, ĐCT. 26-66a.
(52)     Đại Trí độ luận qu. 46. ĐCT. 25-39lb.
(53)     E. Conze : Buddhist Wisdom Books, preface tr. 2.

* Trang 114 *
device

 
Tư Tưởng Số Đặc Biệt (Năm 1974)