LOGO VNBET
THỬ TÌM HIU NGUỒN
G
C VÀ Ý NGHĨA
DANH XƯNG LẠC VIỆT

 
• Lê Kim Ngân
 
THEO hiện tượng sử liệu, thì danh xưng Lạc Việt hiện đầu tiên trong cuốnSử ký (thế kỷ I), mục Nam Việt Úy Đà truyện trong câu :
« Đà dĩ binh uy biên tài vật lộ dị, Mân Việt, Tây Âu, Lạc đầu thuộc yên. Chú : Hán thư âm nghĩa viết : Lạc Việt dã. » Nghĩa là : « Đà đem binh uy hiếp (các nước) ngoại biên để vơ vét tài vật của cải. Mân việt, Tây Âu và Lạc đều đầu hàng và qui thuộc. Chú thích: Sách Hán thư âm nghĩa viết rằng: đó là Lạc Việt vậy» (1)
Về câu « Lạc vụt dã »O越也của Hán thư Âm nghĩa, Giáo sư Trần Kính Hòa dịch là : « Lạc » tức là Việt » và cho ba chữ Tây Âu Lạc ở trên đi liền nhau, và dịch là : dân Lạc ở

 

* Trang 57 *
device

Tây Âu (Trần Kính Hòa, Khảo cứu về danh xưng Giao chỉ, Đại học Huế, số 15, trang 183).
Chúng tôi không đồng ý với cách dịch trên của giáo sư Hòa vì mấy lẽ sau :
1. Không cuốn tự điển nào của Trung hoa có ghi nghĩa Lạc là Việt cả. Nếu quả Lạc có nghĩa là Việt thì Khang Hi, Từ Nguyên hay Từ Hải đều phải ghi nghĩa đó và dẫn sách Hán thư Âm nghĩađể chứng thực về nghĩa này của chữ Lạc.
2. Chữ Lạc Việt vốn là chữ thông dụng trong các sách cổ Trung hoa, nhất là bộ Hán thư thường nhắc nhở đến danh xưng này (như dẫn chứng trong bài này), nên lời chú trong Sử ký mới dùng Hán thư Âm nghĩa để nhắc nhở chữ Lạc trong đoạn văn trên tức là chữ Lạc Việt ; vậy câu « Lạc Việt dã » phải dịch : « đó là Lạc Việt ».
  •    Ngoài ra, sách Hán thư, mục Giả Quyên Chi truyện, quyển 64 hạ, tờ 14a đã nói tới dân tộc Lạc Việt trong câu sau :
« Lạc Việt chi nhân phụ tử đồng xuyên nhi dục, tươngtập dĩ tị ẩm, cầm thú vô dị. »
Nghĩa : «Người Lạc Việt, cha con cùng tắm một sông, có tục uống nước bằng mũi, (so với) loài cầm thúkhông khác. »
Bộ Tứ khố Toàn thư, phần Bách Việt Tiên hinchí đề yếu cũng nói tới danh xưng Lạc Việt trong câu sau :
« Tang kha tây hạ, Ấp, Ung, Tuy, Kiến, cố Lạc Việt dã ». Nghĩa : « dưới phía Tây đất Tang kha, đất Ấp, đất Ung, đất Tuy, đất Kiến là đất Lạc Việt xưa, (dẫn theo Từ Hải).
Từ Hải thì xác định rằng :

* Trang 58 *
device

« Lạc Việt vi Bách Việt chi nhất ». Nghĩa : «Lạc Việt là một (nhánh) của Bách Việt.»
  • Những chứng cứ về sự hiện diện của danh xưng Lạc Việt trong sử sách Trung hoa mà chúng tôi vừa dẫn chứng đã quá hiển nhiên. Điều này đánh đổ hoàn toàn nhận định của Lê Văn Siêu trong Việt nam Văn minh sử lược khảo (2) khi ông cho rằng ông Đào Duy Anh đặt ra danh từ Lạc Việt, chứ « sử sách Trung hoa không hề gọi họ là Lạc Việt bao giờ cả ». (3)
Ông Lê Văn Siêu đã quả quyết : « Ngay những sách Giao châu Ngoại vực ký (Aurousseau luận là xuất hiện vào đời Tấn 205-420) mà Thủy kinh chú (thế kỷ thứ VI) lập lại, hay Quảng châu ký mà Tư Mã Trinh chú giải Sử kýcủa Tư Mã Thiên đã dẫn lời họ Đào, cũng chỉ thấy nói đến Lạc dân, Lạcvương, Lạc hầu, Lạc tướng, Lạc điền, không có chữ nào là « Lạc Việt cả » (4).
Sách Trung hoa có dùng chữ Lạc Việt hay không, thiết nghĩ với các chứng cứ trong sử sách Trung hoa chúng tôi nêu ở trên, ta chẳng cầnbàn luận thêm nữa.
Sau đây ta thử tìm hiểu cặn kẽ hai chữ Lạc và Việt.
BÀN V Ý NGHĨA VÀ NGUN GC CHỮ LẠC.
  • Theo ông Đào Duy Anh, trong Nguồn gốc dân tộc Việt nam, thì « chữ Lạchaylà họ, tức tên thị tộc của người Lạc Vit, chúng ta thấy chữ ấy chỉ một loài hậu điu Giang nam » (5).
Học giả họ Đào cho rằng dân ta thời tiền sử thờ chim lạc này, coi loài chim lạc là vật tổ, nên sau người ta mới gọi nhóm Việt tộc thờ chim lạc là nhóm Lạc Việt.Ông giải thích rằng sở dĩ tổtiên chúng ta thờ chim lạc làm vật tổ là vì hàng năm theo gió mùa, vào lúc gió bấc lạnh lẽo dân Lạc Việt vượt

* Trang 59 *
device

* Trang 60 *
device

* Trang 61 *
device

chim Lạc đ mong được sự bảo v trong những chuyến vượt bin đi mùa, thì tất nhiên phải tôn trọng vật t như một vị thần bất khả xâm phm. Trái lại, theo những hình vẽ trên trống đng, dân Lạc Việt đội mũ và quấn khố bằng lông chim mà ông Hồ Hữu Tường gọi là chim Lạc. Muốn có lông chim Lạc nhiều như vậy, đ cung cấp cho nhu cầu của toàn th dân tộc thường di chuyển đi mùa chc chắn là phải hy sinh bn và giết rất nhiu giống chim mà ông Đào Duy Anh đã ức đoán là vật t. Đim đó là một sự mâu thuẫn hin nhiên chứng tỏ rằng dân tộc hàng năm giết bao nhiêu chục vạn chim,đ ly lông không th nào lại thờ phụng giống chim này làm vật t» (9).
Ta thấy rõ ngay lập luận trên đây của giáo sư Vũ Văn Mẫu sụp đổ hoàn toàn, nếu ta đểý tới mấy điểm sau :
1) Theo các nhà xã hội học, diễn tiến của xã hội nhân loại tiến triển theo trình tự sau : hái lượm, săn bắn, và chài lưới, chăn nuôi và du mục, nông nghiệp định cư (10).
Sự diễn biến của xãhội Việt nam lẽ tất nhiên không qua khỏi trình tự tiến hóa ấy. Thị tộc Việt nam hàng năm di chuyển theo mùa gió mà ông Đào Duy Anh nói trong cuốn Nguồn gốc dân tộc Việt nam chính là đang ở trong giai đoạn du mục. Ở giai đoạn này, con người không hề có sản nghiệp, nhà cửa, mà thường di chuyn vì nhu cu sinh tn : đuổi theo các thúvật để săn bắn lấy thực phẩm nuôi sống họ (chứ không phải vì nhu cầu du lịch, đồi gió như giáo sư Mẫu tưởng). Nếu dân Việt có phải theo mùa gió bấc bỏ miền Giang nam xuống miền Nam sinh sống phần nhỏ vì cái lạnh ở phương Bắc (mà họ không có áo quần để chống lạnh), mà phần lớn vì thú vật có thể săn bắn vào mùa đông rất hiếm ; đến mùa gió nồm, tức vào mùa hạ, họ trở về miền Bắc vì ở miền duyên hải phía nam, vào mùa hạ

* Trang 62 *
device

nước ngập lụt hết, không săn băn được thú vật nữa, nên lại phải quay về đất cũ mà kiếm ăn.
Giai đoạn du mục của thị tộc Việtnày chắc chắn chấm dứt vào thời kỳ đồng thau vì vào thời đồng thau người ta tìm thấy khánhiều lưỡi cày bằng đồng (11), chứng tỏ dân Việt vào thời kỳ đồng thau đã bước qua giai đoạn nông nghiệp định cư. Mà theo sự ước định của các nhà khảo cổ miền Вắс thì thời đại văn hóa Phùng nguyên có thể coi là sơ kỳ của thời đồ đồng thau, thời này ở nửa cuối thiên niên kỷ thứ tư trước Công nguyên đến giữa thiên niên kỷ thứ ba (12).
Như thế thì tới đầu kỷ nguyên niên đại mà giáo sư Mẫu dựa đó để lập luận, dân Việt đã định cư có tới hơn 4.000 năm rồi !
2) Đầu kỷ nguyên, dân ta theo Hán thư Địa lý chí, có một triệu người thì ngược về trước hơn 4.000 năm, trong lúc dân Việt còn trong thời du mục có được bao nhiêu? nhiều lắm là khoảng 500, 1.000 người mà thôi (13). Nếu mỗi thuyền đi biển chứa được vài chục người thì thị tộc Việt thời du mục này chỉ cần chừng hơn 30 chiếc thuyền là đã có thể đi lại trong miền bể Nam hải một cách dễ dàng để tránh cái lạnh của phương Bắc và nhất là để tìm nơi thích hợp cho việc săn thú, đánh cá nuôi sống thị tộc họ.
Sau này, chậm lắm là vào khoảng nửa cuối thiên niên kỷ thứ 4, thị tộc Việt sau khi biết kỹ thuật canh tác ruộng đất trồng lúa, đã định cư ở miền Nam, miều Bắc việt ngày nay. Ở đó họ vẫn theo phong tục cũ : coi vậttổ là chim Lạc và vì vậy khi họ chế tạo các trống đồng dùng trong việc tế lễ, họ đã khắc trên mặt trống này hình vật tổ bay, đậu cùng hình chiếc thuyền biển đã từng đưa tổtiên họ đi về trong miền duyên

* Trang 63 *
device

Biển Nam hải (mà bấy giờ họ đã coi như chiếc thuyền linh thiêng chở linh hồn người chết về cõi thiên đàng) (14).
  1. Những người Lạc Việt không cần phải giết chim Lạc để lấy lông chim làm mũ và quấn khố như giáo sư Vũ Văn Mẫu đã tưởng. Thực ra họ chỉ «giả trạng » cho giống hình vật tổ, « họ lại trang sức thuyền của họ cho thành hình trạng vật t, và đeo khắp những huy hiệu vật t, tất cả những hành động ấy là cốt đ cu cho vật t hộ vệ được an toàn giữa biển khơi » (15).
Nhìn những người và thuyền khắc trên mặt và thân trống đồngNgọc lữ, ta thấy rõ sự giả trang trên thân hình họ và chiếc thuyền biển của họ cho giống hình chim (16). Những hình này càng minh chứng ý kiến cho rằng dân Việt lấy một giống chim mà cổ thư gọi là chim Lạc làm vật tổ.
★ Đến đây ta có thể đặt câu hỏi : Lạc trong chữ Lạc Việt có phải chỉ một giống chim theo nghĩa của chữ nàykhông ?
Trong cổ thư của ta và Tàu, ta thường thấy có ba chữ Lạc để chỉ dân tộc Lạc Việt là :
Lạc 雒(chữ các bên bộ chuy, chứ không phải chữ danh bên bộ chuy như ông Hoàng Thúc Trâm viết),
Lạc骆 (chữ trãi hay bộ trĩ bên chữ các),
Lạc О (chữ mã bên chữ các).
Chúng ta thử xét từng chữ Lạc một :
1- Chữ Lạc О (chữ mã bên chữ các) : theo Khang Hi tự điển thì chữ Lạc này có mấy nghĩa sau :
  • Nghĩa thứ nhất : Khang Hi dẫn sách Ngọc thiên ghi nghĩa chữ Lạc này là : ngựa trắng bờm đen (bạch mã hắc liệp).
  • Nghĩa thứ hai tên nước
  • Nghĩa thứ ba : tên huyện
Theo Từ Hải, chữ Lạc này có mấy nghĩa sau :

* Trang 64 *
device

  • Nghĩa thứ nhất : ngựa sắc trắng, lông bờm và đuôi đen (mã bạch sắc hắc liệp vĩ giả).
  • Nghĩa thứ hai: danh xưng xưa của một thị tộc (cổ xưng tộc danh).
  • Nghĩa thứ ba: họ (tính dã).
Vậy chữ Lạc này được sử dụng như tiếng để chỉ một họ, một thị tộc, một dân tộc chứ khôngcó ý nghĩa gì.
Tuy nhiên tưởng cũng cần ghi nhận rằng chữ Lạc O này, với chữ Lạc雒, theo Thích văn, vốn cùng một chữ với nhau (dẫn theo Trần Kính Hòa, « Khảo về Danh xưng Giao chỉ », tạp chí Đại Học Huế, số 16, trang 145).
Ta thấy chữ Lạc O này xuất hiện đầu tiên ở cổ thư Trung hoa là cuốn Sử ký (thế kỷ thứ nhất). Ở sử Việt, bộ Cương mục đã dùng chữ Lạc này để chỉ Lạc hầu, Lạc tướng.
2. Chữ Lạc 骆 (bộ trĩ bên chữ các) : Chữ Lạc này trong sử Việt thường thấy xuất hiện trong Lĩnh Nam chích quáiToàn thư (17).
Tuy nhiên, theo Khang Hi Tự điển thì chữ 骆không đọc là Lạc mà đọc theo một trong những âm sau :
  • Hạc nghĩa cũng là chim Hạc (hạt-các-thiết, âm hạc nghĩa đồng.) Khang Hi còn dẫn Chính tự thông để giải thích thêm về chữ hạc này như sau :
« Hạc tự li, duệ đầu tiêm tị ban sắc, mao thâm hâu, ôn vị khả vi cừu (Hạc tựa con li, đầu nhọn, mũi nhọn, lông loang lổ, rậm rạp mà mượt ấm, có thể dùng làm áo ốm).
— Hạc nghĩa là cạn hết (hạ-các-thiết, âm hạc, nghĩa đồng)

* Trang 65 *
device

  • Mạch là một giống mọi ở phương Bắc (mạc bách thiết, âm mạch, bắc phương trĩ chủng)
  • Mc nghĩa là tĩnh mịch (mạt-cát-thiết, âm mạc : tĩnh dã)
  • nghĩa là tế thần đất (mạc hạ thiết, đồng mã),
  • Tra Từ Hải, ta cũng chỉ thấy chữ骆đọc theo mấy âm như Khang Hi là Hạc, mạch.
  • Đào Duy Anh, trong Hán Việt Tự điển đọc là Lạc và ghi nghĩa là : một loài thú giống con Li.
Vậy thì chữ 骆 cũng có nghĩa là chim : chim hạc (một loại vạc bay rất mau) và cũng có nghĩa là loại thú bốn chân (li là loài chồn).
  • Theo giáo sư Kiyoshi Wada (18) thì chữ 骆 đồng âm đồng nghĩa với chữ 頟 (ngạch), chữ sau này dùng để chỉ các dân mọi ở phương Bắc từ thời Chu, Tần, Hán và đối với các cư dân Bắc Việt ở phương Nam Trung quốc khôngcó liên hệ gì. « Như vậy đủ biết Toàn thư chỉ mượn chữ y dùng đ ch dân Bc việt thôi » (19).
Theo thiển ý của chúng tôi, trước hết Trần Thế Pháp trong Lĩnh Nam chích quái, rồi sau đó Ngô Sĩ Liên trong Toàn thư đã thay chữ Lạc 雒 và Lạc O vẫn dùng trong cổ thư Trung quốc bằng chữ骆có lẽ là đểkị húy hoặc để kiêng cữ một điều gì đó mà ngày nay ta chưa khảo ra được. Trường hợp sửa đổi chữ này ta vẫn thường thấy ở Trung hoa và ở Việt nam. Chẳng hạn ngay như chữ Lạc 络là tên sông, nhưng đến nhà Hán, nhà Hán vốn thuộc hành hỏa trong ngũ hành (Kim, mộc, thủy, hỏa, thổ), nên sợ nước, do đấy vua Quang Vũ nhà Hán bèn ra lệnh bỏ bộ thủy trong chữ Lạc 络 thay bằng chữ giai

* Trang 66 *
device

佳 (sau viết thành bộ chuy佳) mà viết thành chữ Lạc雒(theo lời chú trong Hán thư Địa lý chí, dẫn theo Từ HảiKhang Hi).
Chữ Lạc 络 dùng để chỉ dân tộc Lạc, Lạc hầu, Lạc tướng chỉ thấy viết trong hai cuốn Lĩnh Nam chích quáiToàn thư (cả hai cuốn này đều được hoàn thành vào thế kỷ thứ XV), nên rất có thể vì kỵ húy hoặc vì một lẽ gì đó, các tác giả hai cuốn này đã đổi bộ mã 馬 chữ Lạc O thành bộ trãi 豸 (còn đọc trĩ) để viết thành chữ Lạc络.
3. Chữ Lạc雒(chữ các bên chữ chuy) : chữ Lạc này ta thấy xuất hiện ởGiao châu Ngoại vực kýđược Thy kinh chú dẫn lại (quyển 37, trang 458).
Khang Hi cũng đọc là Lạc. Khang Hi dẫn cách đọc theo Đường vận : lô-các-thiết, và dẫn thêm Tập vận, Vận hội, Chính vận để xác định thêm về cách đọc này : lịch-các-thiết, tùng âm lc ; và đưa ra mấy nghĩa sau :
  • Nghĩa thứ nhứt : Lạc là chim dục khi (dục khi dã)
  • Nghĩa th hai : Tên con ngựa thân đen bờm trắng (hựu mã danh). Khang Hi dẫn chữ Lạc này trong Kinh Thi thiên Lỗ tụng và phân truyn dẫn giải đó là con ngựa mình đen bờm trắng (Thi, Lỗ tụng : hữu lưu hữu lạc. Truyện : hắc thân bạch liệp viết lạc).
  • Nghĩa thứ ba : tên sông (hựu thủy danh)
  • Nghĩa thứ tư : tên huyện, tức huyện Lạc dương thuộc quận Hà nam (hựu Lạc dương huyện thuộc Hà nam quận)
  • Nghĩa thứ năm : Họ Lạc (hựu tính). Khang Hi dẫn sách Hậu Hán Thư, Nam Man truyện về họ Lạc này như sau :
Hậu hán, Nam Man truyện : Trưng Trắc giả Mê linh huyện Lạc tướng chi nữ (nghĩa là Trưng Trắc là con gái Lạc tưởng

* Trang 67 *
device

huyện Mê linh). Như thế Khang Hiđã lầm, tưởng chữ Lạc trong chữ Lạc tướng là họ (họ Lạc).
  • Nghĩa thứ sáu : Cùng nghĩa với chữ Lạc 络là quấn quanh, đạn lưới (hựu dữ lạc thông).
  • Nghĩa th bảy : cùng với chữ nghạch O ( trán, số ngạch) (hựu dữ ngạch đồng)
★Từ Hải cũng đọc là Lạc, nhưng chỉ ghi có 4 nghĩa sau :
  • Nghĩa thứ nhất : lạc là con ngựa mình đen bờm trắng (mã chi hắc thân bạch liệp dã)
  • Nghĩa th hai : lạc là khắc vào dồ vật gì (thông minh)
  • Nghĩa thứ ba : lạc là tên sông (thủy danh)
  • Nghĩa thứ tư : lạc để chỉ họ (họ Lạc) (tính dã)
★Như thế chữ Lạc 雒 cũng có nghĩa là chim (chim dục khi). Về chim dục khi, các từ điển Trung hoa ghi như sau :
  • Chim khi còn gọi là k khi O O, là loại chim mà ngày nay dân Giang đông dùng để gọi giống chim hưu lưu O O cũng còn gọi là Cù lạc O O( Từ Hải dẫn sách Nhĩ nhã Thích điu chép như sau : « Kim Giang đông hô lưu lưu vi kỵ khi, diệc vị chi Cù lạc ». Cù lạc này còn có thể gọi tắt là chim lạc (theo Khang Hi).
  • Chim dục cũng là loại chim cù như chim khi, mà ta gọi là cù dục О О (theo Từ Hải),
  • Vậy chim dục khi chính là loại chim cù, cónhiều loại, có loại gọi là cù lạc, có loại gọi là cù dục.
  • Ta thử xét giống cù lạc hay còn gọi là chim lạc O đồng âm với chữ lạc 雒:
Khang Hi Tự điển dẫn sách Thuyết văn, Nhĩ nhã thích điểuQuách chú về giống chim lạc này như sau : Lạc là chim ô

* Trang 68 *
device

bạo. Đó là loài chim nước, tựa như chim nghịch, nhưng cổ ngắn, bụng và cánh màu trắng tía, trên lưng màu xanh lục, Giang đông gọi là chim ô bạo (Quách chú . thủy điển giả, tự nghịch nhi đoản cảnh phúc si tử bạch, bối thượng lục sắc, Giang đông ô bạo).
Theo Từ Hải thì nghịch là loại chim nước, vẽ hình nó trên đu thuyn, (Từ Hải dẫn theo lời chú trong Hán thư, Tư Mã Tương Như truyện) (nghịch thủy điểu dã, họa kỳ tượng ư thuyền đầu).
Từ nguyên cũng viết về chim nghịch như sau : « Chim nghịch tựa chim cò mà lớn, lông sắc trắng tía, bay liệng giỏi mà không sợ gió, tức là giống chim vẽ hình trên đầu thuyền. »
Tóm lại chữ Lạc雒mà người Trung hoa dùng để chỉ giống dân sống ở Bắc việt hiện nay có nghĩa là chim lạc O (chữ các bên bộ điểu). Đó chính là loại chim cò, bay giỏi khỏe mạnh, không sợ gió. Loại chim này thường được vẽ hình lên đầu thuyền, rất phù hợp với các hình thuyền mà đầu thuyền trang trí như đầu chim ta nhìn thấy khắc trên trống đồng của dân Lạc việt.
Giống chim này có rất nhiều ở miền Bắc Việt nam. « Trong sinh hoạt trên sông trên biển của người Lạc Việt ở miền Bắc Việt nam, người Lạc Việt đã từng tiếp xúc với những đàn chim thuộc loài cò sếu cũng thường kiếm ăn ở miền sông biển. Đó là loài chim khỏe mạnh, không sợ gió, lại có thể tiên cảm được khí hậu tốt xấu dựa vào đó con người có thể gìn giữ được an toàn trong cuộc sống trên sông biển mênh mông. Do vậy loài chim có được linh hóa và chuyển thành Vật tổ. Người Lạc Việt thờ chim làm vật tổ, hóa trang theo chim để cầu được

* Trang 69 *
device

khe mạnh như chim, hóa trang thuyền theo hình chim đ mong thuyền bè được bảo vệ, che chở cho sóng êm bin lặng »(20).
★ Về ý nghĩa chữ Lạc ta cũng nên ghi nhận ý kiến của hai Giáo sư Trần Kính Hòa và Kim Định trước khi kết thúc về chữ Lạc :
  • Giáo sư Trần Kính Hòa.(21) cho rằng Lạc dù viết theo lối nào cũng là chữ dùng để chỉ ruộng. Giáo sư họ Trần viết : Tên Lạc có liên quan mật thiết với Lạc điền là tên ruộng nước của dân ấy cày cấy, và tên trước vẫn do tên sau mà đặt ra vậy. Âm đọc chữ Lạc 雒 theo Thích văn : « Lạc, âm Lạc 络, nguyên là chữ Lạc O », lại cứ cuốn phân tích tự điển của Karlgren, 3 chữ Lạc ấy, âm Quảng đông đọc là « Lok », âm Việt đọc là Lạc, âm xưa đọc là « Lâk ». Do những sự thực và thanh vận trên đây mà xét, chúng ta nên cho tên ấy là do tiếng Chàm « alauk » dịch ra. Theo ngữ pháp tiếng Chàm « alauk » là loại từ của ruộng đất (numéral des rizières) hay chỉ nghĩa một đám đất (pièce de terre). Tiếng ấy do mấy tiếng đồng nghĩa là lauk, lok, lokak mà ra, và những tiếng đồng nghĩa ấy lại ra từ Phạn ngữ (sanskrit) « loka » có nghĩa là « vũ tru », « thế giới », « loài người », v.v. Mặt khác, người Trung quốc từ xưa dùng chữ Lạc雒để chỉ sông Lạc络nghĩa là chữ雒 từ trước vẫn có liên quan với sông nước....
Dùng chữ Lạc, là tên của một con sông trứ danh ở Trung quốc để dịch ra tiếng Chàm « alauk », loại từ đất ruộng và dùng để chỉ ruộng của dân Lạc ở tam giác châu Bắc việt, chúng ta tin rằng nhận xét như thế ở trên âm vần và nghĩa đều thông cả và về phương diện áp dụng chữ và tiếng cũng hợp lý. »
Còn Giáo sư Kim Định thì cho tên Lạc có liên quan với tên sông Lạc. Giáo sư viết : « Vìsông Lạc cũng

* Trang 70 *
device

dài lắm, theo Địa Hán chí là 1970 dặm, nên rất có thể một số cha ông ta đã có mặt ở một miền nào đó trên bờ sông Lạc và vì thế ta phải lên đến bờ sông này mới tìm ra nơi cư trú đầu tiên và lúc ấy ta có đủ lý do để suy đoán ra rằng mỗi khi tiên tổ Việt tộc phải di cư thì quảy luôn cả tên cũ đi để đặt cho những miền đất mới định cư, y như cái trại Bùi chu, Phát diệm di cư cả tên vào Nam vậy » (22).
Đọc kỹ những lập luận trên của giáo sư Trần Kính Hòa và giáo sư Kim Định, ta cũng chỉ thấy đấy là những giả thuyết không dựa vào tài liệu lịch sử xác thực mà chỉ dựa vào những suy đoản không lấy gì làm bảo đảm.
Để kết luận về chữ Lạc, sau đây là thiển ý của chúng tôi :
  1. Cả 3 chữ Lạc 雒, O, 络trong các cổ thư đều để chỉ một nhánh của giống dân Việt đều có cùng một nghĩa và do người Trung hoa đặt ra đ gọi dân ta.
  2. Lạc đây nghĩa là chim Lạc, loài cò sếu rất nhiềuở Bắc Việt thời Tiền sử, mà dân ta suy tôn làm vật tổ. Chính vì thấy dân ta lấy chim Lạc làm vậttổ người Trung hoa mới gọi dân ta là dân Lạc, ruộng do dân Lạc cày là ruộng Lạc...
BÀN VỀ NGUỒN GC VÀ Ý NGHĨA CHỮ VIỆT.
Như chúng tôiđã nêu lên ở trên, chữ Việt越 đi với chữ Lạc (Việt) xuất hiện đầu tiên trong cổ thư Trung quốc là cuốn Sử ký, mục Nam Việt Úy Đà Truyện, quyển 113, tờ 2b.
Tuy nhiên, riêng về chữ Việt越, chữ này đã có từ lâu trong văn tự Trung quốc.
Theo Trần Quốc Vượng và Hà Văn Tấn thì tên « Việt có từ trước đời Xuân Thu. Theo lời sách Sử ký chép về người Di

* Trang 71 *
device

Việt thì Di Việt có từ đời Chu Thành vương (1027-1005 trước Công nguyên). Theo Thượng thư Đại truyện chép tên Việt thường (23) cũng ở đời Thành vương (24).
Theo Đào Duy Anh thì tên Việt thường là một tên vốn có từ xưa. « Nước Việt thường xuất hiện ở đầu đời Chu (có lẽ ở đời Thương đã cónước ấy rồi) ở trên địa bàn cũ của nước Tam miêu, ở khoảng hồ Động đình và hồ Phiên dương. Trung tâm điểm của nước ấy có lẽ là xứ Việt chương (Việt chương và Việt thường theo tiếng Tàu là đồng âm) (25).
Đến khi Câu Tiễn hưng khởi nước Việt và xưng bá ở đất Giang đông thì tên Việt bắt đầu được thông dụng trong ngôn ngữ, văn tự Trung quốc. Ngoài tên Việt để chỉ nước của Câu Tiễn, người Trung hoa còn dùng chữ Việt để chỉnhiều dân Việt khác nữa mà họ gọi chung các chủng tộc Việt này là Bách việt百越 (một trăm việt) (26).
Theo sách Thông khảo dữ địa khảo, mục C Nam Việt (do Từ Hải dẫn) thì từ Giao chỉ đến Cối kê (27) 78.000 dặm là địa bàn của giống Bách việt.
Tóm lại tên Việt là tên dùng « để chỉ cư dân phân bố trong một phạm vi rất rộng bao gồm miền lưu vực sông Dương tử từ Tứ xuyên đến biển, miền tây nam Trung quốc, đông nam Trung quốc và Bắc Việt nam » (28).
  • Về chữ Việt, cả Khang Hi lẫn Từ Hiđều cho biết chữViệt này có thể viết theo hai cách :越hay粵.
  • Ý nghĩa chữ Việt này ra sao ?
  1. Trước hết ta bàn về chữ Việt 越
Theo Vệ Tụ Hiền, trong Ngô Việt thích danh thuyết (29) thì chữ 越(Việt) tức là chữ 樾 (Việt) là chỉ cái rìu búa. Búa (rìu)

* Trang 72 *
device

trong các di chỉ thời đại đồ đá mới ở lưu vực Hoàng hà còn chưa phát hiện được, trong miền Chiết giang, Cổ đãng thuộc Hàng châu. Lương chử thuộc Hàng huyện, Tiền sơn dạng thuộc Hồ châu đều thấy xuất hiện búa (rìu) đá, vậy búa (rìu) là do dân tộc xưa ở Chiết giang phát minh ra ... chữ O (Việt) thời cổ là tượng hình cái búa (樾)... nước Việt vì sản xuất ra búa (rìu) (樾) nên lấy làm tên gọi. »
Trần Quốc Vượng và Hà Văn Tẩn (30) sau khi trích dẫn đoạn trên của Vệ Tụ Hiền trong «Ngô Việt thích danh thuyết, Ngô Vit văn hóa tùng luận » đã đồng ý với học giả họ Vệ và còn bổ túc thêm : «Trong Kim văn chữ越viết là O. trong giáp cốt cũng nhiều lần có chữ O, vì vậy ý kiến cho rằng tên Việt vốn là để chỉ công cụ, sau lấy tên đó chỉ tên đất đã sản xuất ra công cụ đó, là một giả thuyết rất đáng chú ý ».
  1.  Sau nữa ta thử bàn tới chữ Việt
Giáo sư Kim Định, trong Việt lý Tố nguyên, đưa giả thuyết « chữ Việt trong có bộ Mễ, mà Mễ nay ta quen đọc là Mị. Đó là họ rất lớn của dân Việt, như Mị Nương, Mị Châu. Và có lẽ vì đó nên chữ Việt viết với bộ Mễ (31).
Sau đó, giáo sư Kim Định lại còn nhấn mạnh vào bộ Mể米, theo tự nghĩa, là gạo, tức chỉ về nông nghiệp. Vìdân Việt có nền văn minh nông nghiệp trước Hoatộc nên người ta mới dùng chữ Việt trong có bộ Mễ để ghi dấu nền văn minh nông nghiệp này vào tự dạng, tên của chủng tộc. Giáo sư Kim Định viết : « Vì thế con cháu ThầnNông hay những người làm nghề nông đầu tiên gọi là Viêm tộc. Và khi sử viết rằng cháu ba đời vua Thần Nông là Đế Minh thì chỉ có ý nóỉ tới mối liên hệ nông nghiệp đó. Có lẽ người xưa đã muốn ghi mối liên hệ này vào

* Trang 73 *
device

dạng tự, vì chữ Việt 粵 ban đầu viết với bộ Mễ 米 là gạo, còn chữ Miêu 苗 viết với bộ thảo và chữ điền nói lên rõ tính chất nông nghiệp, nên trong Kinh Thư gọi họ là « Hữu Miêu » nghĩa là dân có ruộng. Vì mối liên hệ văn minh nông nghiệp này nên việc gì xảy tới cho Thần Nông cho Hữu Miêu thì cũng âm vang sang Bách Việt. Bởi cả hai đều là con cháu Thần Nông cùng là Viêm tộc, tức cùng chung một nền văn hóanông nghiệp và sự kiện lịch sử lớn lao hơn hết trong nền văn hóa này là việc chống lại nền văn minh du mục của Hoa tộc, tuy đến sau nhưng lại mạnh hơn » (32).
Tưởng ta cũng cần thêm rằng chữ Việt粵có thể coi như chữ tượng hình của một thứ trái (quả) 粵O tức là chỉ về trồng trọt, nông nghiệp.
Vào thời dân Việt đã định cư và bắt đầu sinh hoạt nông nghiệp thì dân Hoa tộc vẫn ở trong trạng thái du mục có lẽ vì đó người Hoa tộc mới dùng chữ Việt, tượng hình một thứ trái cây, để chỉ dân Việt là dân đã định cư, biết trồng cây và làm nghề nông trước họ.
Giả thuyết này rất đáng lưu ý, nếu như ta ghi nhận thêm rằng : do những công cuộc đào xới gần đây trong vùng Đông Nam á và nhất là ở Bắc Việt các nhà khảo cổ đã đưa ra ý kiếnrằng dân vùng Đông Nam á là dân đã biết trồng cây sớm nhất trên thế giới. Thực vậy, một nhà nhân chủng học Hoa kỳ, giáo sư Wilhelm G. Solheim II, trong bài New Light on a Forgotten Past, đăng trong tạp chíNational Geographicsố 3, tháng 3.1971 trang 331-332 đã viết :
« Từ những địa điểm khảo cổ tại Đông bắc và Tây bắc Thái lan, với những bằng chứng bổ túc từ các cuộc đào xới tại Đài

* Trang 74 *
device

loan, Nam và Bắc Việt Việt nam, nhiều miền khác ở Thái lan, Mã lai, Phi luật tân và cả Bắc Úc châu nữa, người ta đã tìm thấy cái bằng chứng hiển nhiên đó.
Những vật dụng đã được tìm thấy và được định tuổi bằng phương pháp Carbon 14 là những di chỉ văn hóa của các dân tộc mà tổ tiên họ rất có thể đã biết trồng trọt và chế tạo những dụng cụ bằng đá mài, đồ gốm sớm hơn các dân tộc miền Cận đông, Ấn độ và Trung hoa tới hàng mấy ngàn năm (The evidence comes from archeological sites in northeastern and north western Thailand, with support from excavations in Taiwan, North and South Vietnam, other areas in Thailand, Malaysia, Phippines, and even from northern Australia.
Materials uncovered and dated by carbon 14 are the cultural remain of people whose ancestors may have been growing plants and making polished stone tools and pottery thousands of years earlier than were the peoples of the Near East, India, or China).
Sau hết Giáo sư W. G. Solheim II đã đi tới kết luận : «Tôiđồng ý với ông Sauer rằng dân tộc thuộc nền văn hóa Hòa bình quanh quẩn đâu đó trong vùng Đông Nam á là những người biết trồng trọt đầu tiên trên thế giới. Nếu việc này đã bắt đầu từ 15.000 năm trước Tây lịch, thì tôi cũng không lấy gì làm ngạc nhiên » ( I agree with Sauer that the first domestication od plants in the world was done by people of the Hoabinhian culture, somewhere in Southeast Asia. It would not surprise me if this had begun as early as 15.000 BC) (33)
TR V CHỮ LẠC VIỆT.
Ta đã tìm hiểu cặn kẽ từng chữ Lạc và chữ Việt. Phối trí các nghĩa của từ ngữ và các sự kiện lịch sử, khảo cổ, ta có thể

* Trang 75 *
device

đi tới kết luận rằng : ở miền Nam sông Dương tử có một chủng tộc đã biết cách trồng cây, chế tạo đồ đá mài, đồ gốm rất sớm, trước cả chủng tộc Hán, mà người Hán gọi chung là chủng tộc Việt, chữ Việt này được dùng vớiý nghĩa dân này là dân có ruộng, trồng cây, khác với dân du mục ở phưoug Bắc. Chủng tộc Việt này cónhiều ngành nên người Trung hoa gọi họ là Bách việt, trong đócó một nhóm tôn thờ giống chim Lạc, lấy giống chim này làm vật tổ, nên người phương Bắc gọi họ là dân Lạc việt để phân biệt với các nhóm Việt khác như Mân việt, Tây âu ...
LÊ KIM NGÂN
(Những chỗ đ chữ O là những chỗ chữ Hán thiếu.)

 
CHÚ THÍCH
 
  1. Sử ký, quyển 113 tờ 2b.
  2. Lê Văn Siêu, Việt nam Văn minh sử lược khảo, tập thượng, trang 29.
  3. , (4) Lê Văn Siêu, sách đã dẫn, trang 34.
  1. Đào Duy Anh, Nguồn gốc dân tộc Việt nam, Hà nội 1957, trang83 (dẫn theo Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lịch sử chế độ Cộng sản nguyên thủy ở Việt nam, trang 187).
  2. Đào Duy Anh, Nguồn gcdântộc Việt nam, Hà nội 1946, bản Ronéo, trang 40.
  3. Hoàng Thúc Trâm, Lịch sử xã hội Việt nam. Đoạn trên được giáo sư Vũ Văn Mẫu dẫn lại trong bài Đi tìm ngun gc dân tộcđăng trong tạp chí Hóa Giải, số đầu, trang 35.
  4. Hóa Giải,số đầu, trang 35.
  5. Vũ Văn Mẫu, « Đi tim nguồn gốc dân tộc » Hóa Giải, số đầu trang 36-37.
(10) Trúc Chi, Xã hội học yếu lược, trang 97-130.

* Trang 76 *
device

(11) Lê Văn Lan, Phạm Văn Kỉnh, Nguyễn Linh, Những vết tích đầu tiên ca thời đại đồđồng thau ở Việt nam, trang 100.
(12) Hà Văn Tấn, Niên đại các văn hóa đồ đng miền Bắc Việt nam với vn đề ng Vương, trong Hùng Vương dựng nước, trang 62.
(13) Chúng tôi đã thử áp dụng định luật Malthus về dân số, lấy chuẩn là đầu kỷ nguyên dân Việt có một triệu người, đi ngược về trước 1.000 năm, thì dân Việt chỉ có chừng 2.000 (xem Lê Kim Ngân, « Tổ chức chính trị nước ta thời Hùng Vương, » Tư Tưởng số 2, 1973. trang 82).
(14) V. Golovbew, « L‘Age du Bronze au Tonkin et dans le Nord Annam,» BEFEO, tome XXIX, 1929, trang 37.
(15) Đào Duy Anh, Ngun gốc dân tộc Việt nam, bản Ronéo, trang 41.
(16) Xem H. Parmentier, Anciens Tambours de Bronze, BEFEO, tome XVIII, 1918.
(17) Toàn thư, quyển 1, Ngoại Kỷ, tờ 5a.
Cương mục lại thường dùng chữ O (quyển 1, tiền biên, tờ 5a).
Trần Thế Pháp, Lĩnh Nam chích quái, bản in của Lê Hữu Mục, quyển 1, trang 6 (phần chữ Hán).
(18) Kiyoshi Wađa, Shu dai no ban раku ni tsuite, Toyo - gakuho, quyển 29; trang 639-640 (trích dẫn theo Trần Kính Hòa, « Khảo về danh xưng Giao chỉ», tạp chí Đại Học Huế, số 16, trang 115).
(19) Trần Kính Hòa, « Khảo về danh xưng Giao Chỉ » Đại học Huế, số 16, trang 145.
(20) Hà Văn Tấn, Trở lại vấn đề tổtiên của người Việt, đăng trong tập san Nghiên cứu Lịch sử số 4 (tbáng 6.1959).
Trần Quốc Vượng, Hà Vấn Tấn, Lịch s chế độ Cộng sn ngun thy ở Việt nam trang 189,190.
(21) Trần Kính Hòa, sách đã dẫn, trang 145-146.
(22) Kim Định, Việt lýTố Nguyên, trang 367.
(23) TriềuHán thưdẫn lời Trương Yếu cho rằng xưa kia người Việt không biết làm quần áo (y thường) nhờ Trung quốc sai sứ giả tới thông dịch ngôn ngữ, từ đó mới khai hóa, mới biết làm quần áo mà mặc, nên mới gọi là Việt thường (Hán thư, Gi Quyên Chi truyện, quyển 64 tờ 12b).
(24) Lịch s chế độ Cộng sn nguyên thủy Việt nam, trang 192.
(25) Đào Duy Anh, Nguồn gốc dân tộc Việt nam, Hà-nội, 1946, bản ronéo, trang 13

* Trang 77 *
device

(26) Sách Lộ Sửở đời Tống chép rằng: « Việt thường, Lạc Việt, Âu Việt, Âu Khải, Âu nhân, ThảÂu, Cung Nhân, Hải Dương, Mục Thâm, Phù Xác, Cầm nhân, Thương ngô, Man dương, Dương Việt, Quế Quốc, Tây âu, Quyên Tử, Sản Lý, Hải Quỳ, Tây Khuẩn, Kê Từ, Bộc Cầu, Tỉ Đái, Khu Ngô, gọi là Bách Việt (dẫn theo Đào Duy Anh, Đất nước Việt nam qua các đời, trang 16)
(27) Cối Kê là kinh đô của Việt Vương Câu Tiễn, nay thuộc huyện Nhật chiếu tỉnh Sơn đông.
(28) Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lịch sử chế độCộng sản nguyên thủy ở VN, trang 192.
(29) Do Trần Quốc Vượng và Hà Văn Tấn, sách đã dẫn, dẫn lại nơi trang 193.
(30) Sách đã dẫn, trang 193.
(31) Kim Định, Việt lý Tố nguyên, trang 60-61.
(33) W.G. Solheim II, New Light on a Forgotten Past, National Geographic, Vol. 139, no 3, March 1971, p. 339

* Trang 78 *
device

 
Tư Tưởng Số Đặc Biệt (Năm 1974)