LOGO VNBET
VAI TRÒ CA
ĐẠI HỌC CỘNG Đ
NG
TẠI VIỆT NAM

 
Đỗ Bá Khê
Bài thuyết trình của tôi hôm nay bàn về vai trò của đại học cộng đồng tại Việt nam. Để vấn đề được sáng tỏ, tôi sẽ phác họa hình ảnh một đại học cộng đồng theo quan niệm tại Việt nam, lịch sử thành lập định chế này tại nước ta và các nhiệm vụ ấn định cho nó. Từ đó tôi sẽ bàn về vai trò của đại học cộng đồng, tầm quan trọng và tính cách thiết yếu của định chế này trong việc phát triển giáo dục, kinh tế và xã hội Việt nam.
ĐẠI HỌC CỘNG ĐỒNG LÀ GÌ ?
Đại học cộng đồng là tên gọi một định chế giáo dục được nhắc nhở rất nhiều từ năm 1970 tại Việt nam và chính thức thành lập vào mùa thu năm 1971, một công thức giáo dục mới
_____________________
Bài thuyết trình tại Khóa hội thảo về Đại học Cộng đồng, tổchứctại Saigon ngày 27-29 tháng 3 năm 1974.

 

* Trang 31 *
device

lạ, đã rất thành công tại Hoa kỳ và các nước Á châu như Nhựt bổn, Đại hàn, Trung hoa Dân quốc, Phi luật tân, một số nướcở Nam mỹ như Chili, Colombie, Pérou, Brézil. Đại học cộng đồng cũng đã bắt đầu được thành lập tại Gia nã đại, Jordanie, Iran, Sri Lanka, Ấn độ, Na uy và cả Anh quốc nữa. (1)
Các quốc gia Âu châu hội viên của tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD), trong một đại hội tại Grenoble, Pháp quốc, năm 1972, cũng kiểm điểm thành tích các định chế giáo dục tương tự như đại học cộng đồng và hoạch định chương trình phát triển theo chiều hướng cộng đồng. Riêng tại Việt nam, theo như Sắc lệnh thành lập ấn định, đại học cộng đồng là một loại trường đại học hai năm, có những chương trình phổ thông và chuyên nghiệp, cộng thêm những dịch vụ cho sinh viên và cộng đồng. Một đại học cộng đồng được thành lập cho một cộng đồng nhứt dịnh, như đại học cộng đồng Tiền Giang được thành lập cho Định tường, Mỹ tho, Kiến phong, Kiến tường, Gò công, Long an, Kiến hòa và Viện Đại học Cộng đồng Duyên Hải cho Khánh hòa, Ninh thuận, Phú yên, Nha trang và Cam ranh. Do đócó thể nói đại học cộng đồng là một đại học địa phương, ra đời vì nhu cầu giáo dục của địa phương đểgóp phần phát triển địa phương.
Nếu những nhiệm vụ của một tổ chức là dấu chỉ để xác định bản thể của tổ chức đó, thì theo sắc lệnh 503-TT/SL ngày 15-8-1971, đại học cộng đồng là một cơ sở giáo dục để :
1. Đào tạo chuyên viên trung cấp để hổ trợ sự phát triển kinh tế của cộng đồng ;
2. Chuẩn bị và hướng dẫn sinh viên để sau hai năm học chương trình đại học căn bản sẽ chuyển sang một viện

* Trang 32 *
device

đại học quốc gia tiếp tục học chương trình sơ cấp đại học chuyên khoa ;
3. Giúp cựu quân nhân, công chức, và tráng niên trong cộng đồng nâng cao trình độ giáo dục của họ ;
4. Trắc nghiệm và hướng dẫn sinh viên chọn ngành học thích hợp với khả năng mình sau này ;
5. Phát huy sự sinh hoạt văn hóa và giáo dục xã hội nhằm bồi bổ cho đời sống của nhân dân trong cộng đồng ;
6. Hướng dẫn sự hỗ tương phát triển giáo dục giữa tiểu, trung và đại học trong các tỉnh thuộc phạm vi phục vụ của Viện đại học cộng đồng liên hệ. (2)
Nói cách khác viện đại học cộng đồng là một định chế có tính cách tông hợp, đa năng, đa diện. Đại học cộng đồng là một trường dạy học đồng thời là một trường dạy nghề cho sinh viên mới xong trung học cũng như cho mọi từng lớp khác trong dân chúng. Đối với sinh viên thuần túy, đại học cộng đồng có tác dụng của một dụng cụ đãi lọc và chọn lựa, và đối với dân chúng, đại học cộng đồng là một trung tâm văn hóa, học thuật. Đối với khu vực địa lý phục vụ, đại học cộng đồng là chất liệu xúc tác và tiền phong trong việc phát triển mọi ngành hoạt dộng nhứt là giáo dục và kinh tế.
Đại học cộng đồng Việt nam do đó dựa trên căn bản triết lý giáo dục thực tiễn và đại chúng : thực tiễn trong chương trình và phương pháp giáo dục, và đại chúng trong thái độ dấn thân của đại học, lấy vấn đề của cộng đồng làm vấn đề của đại học, và đến gần quần chúng thay vì khép kín trong tháp ngà tri thức.

* Trang 33 *
device

Đại học cộng đồng ở Việt nam vì thế không phải là một thứ trung học nối dài, và lại càng không phải là một thứ đại học dự bị hạng nhì. Nó là một thứ đại học nhân dân (3), tông hợp, đa năng. Khi công thức đại học này bắt đầu phôi thai tại Hoa kỳ, người ta gọi nó là « đại học sơ cấp » (junior college) và danh xưng này còn dùng để chỉ những trường đại học hai năm tư thục tại Hoa kỳ. Gia nã đại thì gọi là « đại học vùng » (regional college) hay « trường chuyên biệt » (specialized school). Các nước Nam Mỹ thì gọi là « học viện đại học » (institutos universitarios) hay «đại học quận lỵ» (universidad distrital). Các nước Á châu lại gọi bằng những tên khác như « đại học đoãn kỳ » tại Nhựt, « đại học sơ cấp » tại Đại hàn, « đoãn kỳ học hiệu » tụi Đài loan. Riêng tại Việt nam, định chế này được gọi là đại học cộng đng, bao hàm một khuynh hưng cộng đồng vềnguồn gốc sáng lập, phương thức quản trị, và chương trình giáo dục và hoạt động như lịch sử thành lập đại học cộng đồng tại Việt nam sẽ cho ta thấy rõ.
LỊCH SỬ THÀNH LẬP ĐẠI HỌC CỘNG ĐỒNG TẠI VIỆT NAM
Nhìn lại quá trình thành lập đại học cộng đồng tại Việt nam, người ta không khỏi ngạc nhiên nhận thấy rằng đại học cộng đồng đã ra đời bằng những cuộc vận động của tất cả mọi giới : qun chúng, trí thức va chính quyn giáo dục.
Nói đến những sự canh tân trong các nước chậm tiến, người ta nghĩ ngay đến vai trò của người trí thức, bất cứ về lãnh vực nào. Vai trò này, trong trường hợp thành lập đại học cộng đồng sẽ không đóng trọn vẹn được nếu không được tăng cường bằng sức mạnh quần chúng và sự hỗ trợ của nhà cầm quyền giáo dục. Edward Shils trong bài « Vai trò người trí

* Trang 34 *
device

thức trong việc phát triển chánh tri tại các tân quốc gia », cho rằng :
Việc thai nghén, sản sinh, và mệnh hệ của các tân quốc gia Á châu và Phi châu, qua tất cảthăng trăm, đều là phần lớn công việc của người trí thức. Trong suốt dòng lịch sử nhân loại chưa bao giờ người trí thức đóng vai trò quan trọng trong công tác quốc gia bằng trong thế kỷ này. (4)
Shils định nghĩa người trí thức là « tất cả những người có một căn bản học thức cao cấp, và có những ưu lo và khả năng trí thức do học thức mà có » (5) và thường ở trong những nghề như : công chức, nhà báo, luật gia, dạy học (nhứt là đại học, một sốở trung học), và bác sĩ. Họ chính là những người đòi hỏi thay đổi và cũng chính họ thực hiện công cuộc canh tân. Trong lãnh vực giáo dục, điều hiển nhiên là những nhà giáo « có một căn bản học thức cao cấp » là những nhà canh tân.
Không thỏa mãn vì hệ thống giáo dục xa rời nhu cầu thực tế của xã hội, sáu mươi giáo chức đại học gồm đủcác đẳng trật kể cả quí vị khoa trưởng và viện trưởng đã họp tại Nha trang trong một khóa hội thảo Liên Viện từ 1-9-1968 đến 9-9-1968 để duyệt xét toàn bộ hệ thống giáo dục đại học, và đã kết thúc bằng một số các khuyến cáo, trong đócó câu :
Để đáp ứng với nhu cầu hiện tại của xứ sở và thích ứng vời thời buổi hiện tại, giáo dục đại học phải : 1) nặng về chuyên nghiệp, 2) có tính cách đại chúng. (6)
Đó là lần đầu tiên các giới chức đại học Việt nam có dịp gặp gỡ để cùng khảo sát những vấn đề mà từ lâu họ đã ưu tư

* Trang 35 *
device

nhưng chưa có cơ hội nói lên bằng tiếng nói tập thể. Sau đó hằng năm một khóa hội thảo đại học được tổ chức tại một địa điểm khác nhau trong nước. Kết quả của những kỳ họp mặt này, như ta có thể dự đoán với những thành phần tham dự cùng ước nguyện như thế, là những đề nghị, khuyến cáo tiếp theo để cải tổ đạihọc. Chẳng hạn trong khóa hội thảo gần đây, vào tháng 3 năm 1972, bốn khuyến cáo đã được nghị quyết : 1) thành lập một ủy ban thiết kế đại học quốc gia; 2) thực hiện hướng dẫn và khải đạo sinh viên, và khuyến khích sự tham gia của tư nhân và đoàn thể vào việc phát triểngiáo dục đại học ; 3) thiết kế cơ sở đại học : 4) phát huy giáo dục thường xuyên. (7)
Năm 1969, trong Thông điệp đọc trước Quốc hội Lưỡng viện, Tông thống Việt nam Cộng hòa khẳng định rằng giáo dục Việt nam phải « đại chúng và thực tiễn ».
Đại học cộng đồng được nhắc nhở rất nhiều tại Việt nam vào khoảng cuối năm 1969, đầu năm 1970, nhứt là sau chuyến công du của phái đoàn giáo dục Việt nam để quan sát chương trình tổ chức đại học cộng đồng tại Hạ uy di, Phi luật tân, Đại hàn. Nhật bản, và Đài loan. Trước những đóng góp hữu hiệu của đại học cộng đồng được thăm viếng, phái đoàn đã đề nghị với chính phủ thành lập ngay một đại học cộng đồng thí điểm, nhận thức rằng đại học cộng đồng « ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát triểnnhân lực trong nước », và sau khi đã dự liệu phải có « những điều kiện chuyển tiếp cho một số sinh viên đủ khả năng vào các năm thứ ba của chương trình cử nhân hay kỹ sư tại các đại học hoặc các trường cao đẳng kỹ thuật ». (8)
Do đó ta thấy rằng đại học cộng đồng tại Việt nam trước đại học khởi xướng, sau khi đã nhận định rằng nền

* Trang 36 *
device

giáo dục đại học xa rời thực tế và sau khi đã nhận thấy công thức đại học cộng đồng đã thành công ở các nước Á châu có điều kiện sinh hoạt tương tự Việt nam.
Bộ Giáo dục đã nhiều lần nhắc nhở, khuyến khích việc thành lập đại học cộng đồng ngay cả những trường tư lập và ghi đại học cộng đồng vào trong kế hoạch phát triển giáo dục đại học Việt nam.
Nhưng đại học cộng đồng đã không ra đời nếu dân chúng không chấp nhận.Ý dân là ý trời. Mặc dầu các nhà chính trị học xếp xã hội Việt nam vào loại xã hội « c truyền » với nghĩa là những phương thức dân chủ chưa ăn sâu vào lề lối sinh sống, suy nghĩ của dân chúng như những nước có một nền dân chủ lâu đời, nhưng tiếng nói dân chúng nhiều khi rất có ảnh hưởng. Về phương diện giáo dục, ý dân thường được bày tỏ bằng phương tiện báo chí. Cho tới năm 1964 với Đại hội Giáo dục Quốc gia, coi như móc nối giữa chánh quyền và dân chúng, gồm đại diện các tầng lớp nhân dân và giáo chức, tiếng nói dân chúng mới bắt đầu chính thức được đạo đạt lên chính quyền. Nhưng ngoài ra dân chúng vẫn tiếp tục bày tỏ ước vọng bằng những phương thức khác. Như trong trường hợp đại học cộng đồng, nguyện vọng dân chúng được bày tỏ thẳng với vị nguyên thủquốc gia bằng hình thức một thỉnh nguyện thư. Dân chúng sáu tỉnh Tiền giang thỉnh nguyện :
Tông thống chấp nhận cho thiết lập tại tỉnh Định tường một Viện Đại học lấy tên là Viện Đại học Tiền giang để con em chúng tôi có thể tiếp tục học tập sau khi rời trung học. (9)
Ngoài ra còn có thỉnh nguyện thư của dân chúng vùng Nha trang, vùng Cao nguyên, và vùng Đà nẵng yêu cầu thiết lập đại

* Trang 37 *
device

học cộng đồng tại các địa phương này. Mặc dầu một vài nơi chưa đích xác dùng danh từ « đại học cộng đồng » dân chúng thật sự muốn thiết lập một kiểu đại học loại này, như các luận cứ nêu ra trong thỉnh nguyện cho thấy : Cơ sở đại học gần nhà, tiết kiệm ngân quỹ gia đình, chương trình giáo dục thích ứng với những hoạt động kinh tế địa phương, cộng đồng sẵn sàng đóng góp về tài chánh, vân vân... đích thực là những đặc tính của công thức đại học cộng đồng. (10 và 11)
Đối với riêng tôi, sau một thời gian để tâm nghiên cứu sự thích ứng của ý niệm đại học cộng đồng trong việc phát triển hậu chiến tại Việt nam, tôi rất lấy làm vui mừng và khích lệ khi thấy việc sưu tầm đơn phương của mình lại phù hợp với đường lối của chính phủ và nguyện vọng dân chúng. Và tôi cũng rất lấy làm hân hạnh được làm việc bên cạnh ông Tông trưởng Giáo dục đương kim trong thời gian ông quyết định đệ trình Tôngthống ký sắc lệnh thiết lập hệ thống đại học cộng đồng tại Việt nam.
Sau đây tôi xin nhắc lại sơ lược những diễn tiến trong việc thiết lập hai viện đại học cộng đồng đầu tiên tại Việt nam : Tiền giang và Duyên hải. Tôi sẽ chọn ngày 15-8-1971 làm ranh giới để chia phong trào vận động thành lập đại học cộng đồng tại Việt nam ra làm hai thời kỳ : trước 15-8-71 và sau 15-8-71. Đó là ngày ban hành ba Sắc lệnh của Tông thống : thiết lập hệ thống đại học cộng đồng, và thiết lập Viện Đại học Cộng đồng Tiền giang và Viện Đại học Cộng đồng Duyên hải. (12)
Trước 15-8-1971 : Nhu cu trông thấy
Giai doạn mà tôi gọi là Trước 15-8-1971 kéo dài vào khoảng giữa năm 1970 tới ngày ban hành sắc lệnh thành lập Đại học cộng đồng. Trong giai đoạn này tất cả mọi thành phần trí thức

* Trang 38 *
device

chánh quyền, dân chúng đều cảm thấy nhu cầuphải thiết lập đại học cộng đồng. Các nhà giáo dục nhiều lần lên tiếng đòi duyệt xét lại toàn bộ giáodục đại học để phù hợp với thực trạng xứ sở. Biên bản của khóa Hội thảo Liên Viện năm 1968 và các khóa hội thảo đại học tiếp theo cho thấy mối ưu tư này. Về phía Bộ Giáo dục,có những sự thay đổi chính sách giáo dục để phục vụ đại chúng. Nhưng quan trọng hơn cả là những thỉnh nguyện thư của dân chúng. Các ủy ban Vận động Thành lâp Đại học được thiết lập ởnhiều nơi, gồm các thân bào, nhân sĩ địa phương, tình nguyện phuc vụ cho ủy ban, và có nơi còn sẵn sàng cho mượn cơ sở tư hữu để Viện đại học có thể bắt đầu. Cũng cần ghi chú thêm là một số kiến trúc sư Việt nam tình nguyện đóng góp vào việc thiết lập đồ án cho Viện đại học Cộng đồng Tiền giang. (13)
Sau 15-8-1971 : Nhu cầu được đáp ứng
Sau ngày 15 - 8 - 1971 ước vọng của dân chúng được thỏa mãn với sự thành lập hai Viện Đại học Cộng đồng Tiền giang tại Mỹ tho và Duyên Hải tại Nha trang.
Công việc đầu tiên là phải tìm người để hoạt động cho các cơ sở tân lập. Năm giáo sư được chọn trong số 24 ứng viên để gởi đi tu nghiệp về quản trị đại học. Thời gian tu nghiệp đòi hỏi tối thiểu hai năm. Trong thời gian đó các chuyên viên đại học cộng đồng được mời sang để thiết lập căn bản cho những hoạt động sau này. Bộ Giáo dục ban hành Nghị định tổ chức đại học cộng đồng vào cuối tháng 2 năm 1972 làm nền tảng sinh hoạt của đại học cộng đồng. Giáo sư Nguyễn Đăng Long, chuyên viên về nông nghiệp, và giáo sư Trần Ngọc Lợi, chuyên viên hải dương học, được đề cử làm Viện trưởng đầu tiên cho

* Trang 39 *
device

hai Viện Đại học Cộng đồng Tiền giang và Duyên hải. Việc lựa chọn Viện trưởng căn cứ trên nhu cầu phát triển của mỗi cộng đồng.
Từ ấy đến nay viện đại học cộng đồng đã hoạt động, thâu nhận sinh viên và nhân viên, và đã tiến triển khả quan, mặc dầu vô số những khó khăn từ đủ mọi phía cho tới tình trạng như ngày hôm nay mà quí vị sẽ được nghe trình bày trong các bài thuyết trình sau này.
Nói tóm lại, đại học cộng đồng đã được thành lập tại Việt nam vì nguyện vọng của dân chúng đòi hỏi, vì những nguyện vọng này phù hợp với đường lối giáo dục của chính phủ, và vì các giới chức đại học mong muốn và hỗ trợ cho những nguyện vọng ấy.
TÁC DỤNG CỦA MỘT ĐẠI HỌC CỘNG ĐỒNG.
Theo những văn kiện căn bản thiết lập đại học cộng đồng tại Việt nam, các tác dụng chính yếu của một đại học cộng đồng là : giáo dục căn bản chuyển tiếp, giáo dục chuyên nghiệp, giáo dục kiến thức tông quát, giáo dục bổ lúc, giáo dục tráng niên, hướng dẫn và khởi đạo, và phục vụ cộng đồng. Tôi xin nhắc lại cácđiều mà tôi đã trình bày cùng dân chúng địa phương cách dây ba năm.

1. Tác dụng chuyn tiếp : Tùy theo khả năng của mình, một số sinh viên mong được huấn luyện ở cấp đại học trong một thời gian khá dài 4 năm hoặc lâu hơn nữa. Đó là những sinh viên có khả năng phổ thông vững chắc, có phương tiện tài chánh đểcó thể tiến xa trên đường đại học. Đại học cộng đồng sẽ có chương trình gọi là chương trình chuyển tiếp giống hệt như chương trình hai năm đầu của các đại học khác. Sau khi

* Trang 40 *
device

tốt nghiệp chương trình chuyển tiếp nầy, sinh viên sẽ tiếp tục ghi tên ở cấp trên để tiến xa hơn.
2. Ngoài số sinh viên thiên về phổ thông, đa số sinh viên lại có khả năng về thực nghiệp và muốn học những nghề có liên hệ trực tiếp với nền kinh tế của cộng đồng. Như vậy đại học cộng đồng sẽ có những chương trình chuyên nghiệp để dạy những ngành thực tiễn.
Giáo dục tùy theo năng khiếu của mỗi người là một trong những nguyên tắc căn bản của đại học cộng đồng, như Edgar Faure đã nói :
Bảo đảm bình đẳng vận hội cho mọi người không phải là đối xử như nhau cho tất cả theo một công thức cứng rắn, trái lại là hiến cho mỗi cánhân một phương pháp, một nhịp độ và các hình thức giáo dục phù hợp với cá nhân ấy : (14)
3. Thứ ba là tác dụng ph thông, cả sinh viên chuyển tiếp lẫn sinh viên chuyên nghiệp cùng sinh viên trong các chương trình sau này đều cần cómột kiến thức bao quát để cho đời sống của mình cóý nghĩa hơn. Một chuyên viên có kiến thức hẹp hòi chỉ biết sử dụng và chăm sóc máy móc của mình sẽ hóa ra nô lệ cho máy móc. Nhà chuyên môn cũng phải biết nguồn cội của mình, phải biết thưởng thức thi  ca, văn nghệ, phải biết xử thế lịch duyệt để sống trong một xã hội dân chủ công bằng. Vì vậy đại học cộng đồng tổ chức những lớp giảng dạy có tính cách phổ thông có ích lợi cho mọi công dân. Các lớp phổ thông này sẽ bắt buộc cho cả sinh viên chuyển tiếp lẫn thực nghiệp.
4. Chương trình giáo dục bổ túc : có một số sinh viên khi bước vào ngưỡng cửa đại học thiếu căn bản vững chắc để theo các lớp đại học. Vả lại, chúng ta hy vọng rằng hòa bình thật sự

* Trang 41 *
device

sẽ đến trong một ngày gần đây, và khi đó sẽ có một số lớn cựu quân nhân giải ngũ. Các cựu quân nhân này vì chiến cuộc mà phải dở dang việc học hành nên cần phải bổ túc việc học vấn để trở lại đời sốngdân sự bình thường. Nhưng sau nhiều năm tại ngũ, các kiến thức của họ đã lỗi thời, còn một số khác thì muốn hoàn tất chương trình trung học để tiếp tục lên đại học nbưng không thể cắp sách đến một trường trung học như những học sinh trẻ tuổi. Như vậy viện đại học cộng đồng sẽ có chương trình giáo dục bổ túc để cho những sinh viên trong hoàn cảnh đặc biệt này thêm kiến thức trước khi theo những lớp dành chung cho tất cả sinh viên.
5. Tác dụng thứ năm là chương trình giáo dc tráng niên, cónhiều người vì hoàn cảnh gia đình phải bước sớm vào đời để tìm sinh kế, về sau nhận thấy rằng kiến thức của mình còn quá khiếm khuyết nên muốn trở lại học thêm để mở rộng kiến thức.
Cũng có những người đãcó một nghề và đang hành nghề nhưng vì kỹ thuật càng ngày càng tiến nên họ muốn trau dồi thêm chuyên môn để bắt kịp trào lưu hiện đại, và tiến lên trong nghề nghiệp của mình.
Đại học cộng đồng sẽ tổ chức những lớp học ngoài giờ làm việc thường là buổi chiều để đáp ứng nhu cầu hiếu học và cầu tiến của tráng niên. Đại học cộng đồng không giới hạn thời gian, mà trái lại uyển chuyển và linh động để phát huy giáo dục thường xuyên.
6. Chương trình hướng dẫn và khải đạo. Một sinh viên muốn ghi tên vào một đại học cộng đồng sẽ bỡ ngỡ nếu không có sự hướng dẫn để nhận thức khả năng của mình sẽ chọn những ngành học thích ứng với khả năng ấy. Như vậy, đại học

* Trang 42 *
device

cộng đồng phải có một ban hướng dẫn và khải đạo để chẳng những giúp sinh viên trong việc chọn ngành, chọn lớp mà còn cố vấn trong việc học hỏi, trong thời gian tại trường, và hướng về các ngành mà sau này sinh viên tốt nghiệp có thể tìm việc làm dễdàng trong cộng đồng của mình hoặc nơi khác.
Một trong những công việc khó khăn và tế nhị nhứt của giáo sư hướng dẫn là tác dụng mà tôi tạm gọi là «tác dụng làm nguội » (cooling out function), nghĩa là phải làm sao khuyên giảng các sinh viên không có đủ khả năng cần yếu mà cónhiều cao vọng để họ thấy rõ thực tế mà chọn một ngành khiêm tốn hơn và vừa khả năng hơn, hầu khỏi bị thất vọng.
Có nhìn cao mới đạt được việc lớn. Nhưng mỗi người có một vốn liếng khả năng khác nhau. Nếu nhắm quá cao, mà vớikhôngtới, rồi thất bại, thì rớt là tai hại không những cho chính mình mà luôn cả cộng đồng của mình; vì nếu thất bại rồi bất mãn là phí phạm nhân lực, và có thể gây xáo trộn cho cộng đồng.
Điều cần yếu là phải giải thích cho sinh viên biết là không phải ai cũng cóthể trở nên bác sĩ, kỹ sư, luật sư. Kinh nghiệm đã cho thấy rằng hiện nay rấtnhiều người có bằng cấp cao mà không chen chân được trên thị trường nhân dụng. Trái lại, nhiều người khác không có bằng cấp cao, nhưng chọn nghề đúng với khả năng và sở thích của mình nên thành công mỹ mãn trong nghề của mình và giúp ích xã hội rất nhiều.
7. Tác dụng phục vụ cộng đồng : Đại học cộng đồng không chỉ là nơi đến để học hỏi. Được thiết lập do nguyện vọng và sự đóng góp của cộng đồng, nó còn phải là nơi họp mặt của đại chúng, của tấ cả những phần tử trong cộng đồng. Nó phải

* Trang 43 *
device

* Trang 44 *
device

* Trang 45 *
device

* Trang 46 *
device

* Trang 47 *
device

* Trang 48 *
device

* Trang 49 *
device

tế»; « trợ giúp », và trong bài này tiếng « xã hội » cũng được dùng trong nghĩa đó. Tuy nhiên công tác « trợ giúp » và « cứu tế » ở đây được thực hiện theo một phương thức hữu hiệu hơn và có kết quả lâu dài hơn là phương thức « phát chẩn ».
Trước hết với vị trí của một cơ sở đại học được thiết lập gần nhà, người sinh viên, nhất là sinh viên nghèo, có thể đủ sức đi học mà không quá bận tâm vềvấn đề tài chính. Hiện nay một sinh viên ở tỉnh lên Saigon đi học phải tốn khoảng 24.000 đồng mỗi tháng chia ra như sau :
9.000$                     tiền cơm
3.000$                     tiền trọ
3.000$                     ăn sáng
3.000$                     quà vặt
6.000$                     di chuyển
Cộng : 24.000$
Đó là chưa kể tiền sách có thể lên đến 15.000$ một năm, vở 4.000$ một năm, quần áo, thuốc men, và những chi phí đóng góp lạc quyên bất thường khác.
Một vài cư xá tư dành cho sinh viên, mỗi tháng tiền trọ lên đến 5.000$ và tiền ăn khoảng 15.000$.
Ngoài vấnđề tài chánh còn một mối ưu tư khác quan trọng hơn của giới phụ huynh. Nhiều người sợ rằng sinh viên vừa 18 tuổi mà lên thành phố lớn như Saigon ắt phải bị lôi cuốn vào các cạm bẫy xã hội mà sa đọa.
Một công tác xã hội mà đại học cộng đồng có thể làm được là đi đến gần nhà sinh viên, đại chúng hóa giáo dục đại học, thay vì chỉ ởcác đô thị lớn, chỉ có con nhà giàu mới đủ sức đi học, làm sâu thêm hố ngăn cách giữa các giai cấp trong xã hội và thiếu hẳn sự lưu chuyển giai cấp trong một xã hội dân chủ.

* Trang 50 *
device

Những góa phụ, cựu quân nhân, cựu công chức, những người tàn phế vì chiến tranh — những con số này gộp lại, theo ước tính của các cơ quan từ thiện quốc tế hoạt động tại Việt nam lên đến hàng triệu người. Họ sẽ làm gì ? Dĩ nhiên là họ cầnhọcmột nghề thích hợp để sinhsống.Đại học cộng đồng làmộtnơi thích hợp để huấn luyện chuyên nghiệp cho những giới này nhờ vào cơ sở trang bị có sẵn cho những lớp thường xuyên và nhờ vào kỹ năng của nhân viên giảng huấn đại học.
Những rốiloạn xã hội có thể ngănchặn được nếudânchúng, nhứt lànhững thành phần thiệt thòi, được chămsócđúng mức. Trật tự xã hội sẽ được duy trì nếu các thành phần này được trang bị một khả năng chuyên nghiệp để tự mưu sinh trong niềm kiêu hãnh của cần lao. Đại học cộng đồng sẽ là dụng cụ hữu hiệu giải quyết những vấn đề xã hội dứt khoát, tránh tình trạng cứu tế dễ gây tinh thần ỷ lại và bất mãn khi sự cứu tế không còn nữa.
4. Vai trò kinh tế : Nhưng quan trọng hơn cả, đại học cộng đồng được thiết lập để nhận lãnh một vai trò kinh tế quyết định. Nước ta là một nước hậu tiến. Muốn mở mang, pháttriển cần phải cónhiều chuyên viên trong đủ mọi ngành hoạt động. Chẳng hạn, riêng trong lãnh vực kỹ thuật, theo tỷ lệ 1/5/25 về chuyên viên (1 kỹ sư, 5 chuyên viên, 25 thợ) thì nước ta còn phải đào tạo hằng năm 1.500 chuyên viên kỹ thuật trung cấp để tương ứng với số 300 kỹ sư dự trù được đào tạo hằng năm tại Học viện Quốc gia Kỹ thuật. Các chuyên viên trung cấp này từ năm 1947 cho tới năm 1965 tông cộng chỉ mới đào tạo được 1254 người (18), và cơ sở duy nhứt đào tạo chuyên viên kỹ thuật trung cấp hiện tại có một sĩ số chưa tới 1000 sinh viên.

* Trang 51 *
device

Chúng ta đang thiếu nhân lực, mà hình như chúng ta đang phí phạm lớp trẻ. Theo ước tính của Bộ Kế hoạch, cho tới niên khóa 1975-76, bậc đại học kể cả các ngành chuyên khoa, kỹ thuật, và nông lâm súc, sẽ thâu nhận khoảng 157.000 sinh viên chia ra :
  • chuyên khoa       154.000
  • kỹ thuật                1.460
  • nông lâm súc       1.430  (19)
Nhìn vào những con số này, chúng ta thấy rằng hai ngànhthiết yếu để phát triển kinh tế là kỹ thuật và nông lâm súc chưa được mở mang. Nếu giả sử tất cả khoảng gần 3.000 sinh viên của hai ngành này đều sẽ ra trường với cấp bằng kỹ sư, chúng ta sẽ cần 15.000 chuyên viên trung cấp để làm việc với họ, theo tỷ lệ 1/5 nói trên.
Vừa rồi đây, Hội đồng Văn hóaGiáo dục nhắc lại rằng phải tăng sĩ số học sinh, sinh viên ngành kỹ thuật và nông nghiệp.
Tại Đài loan sĩ số sinh viên học chuyên nghiệp đã lên tới 60% so với tông số sinh viên. Nhờ vậy mà Đài loan có một nền kinh tế vững chắc. Và dẫu cho có thoái bộ về ngoại giao đi nữa Trung hoa Dân quốc vẫn thạnh vượng.
Ngoài phin huấn luyện chuyên viên trung cấp, đại học cộng đồng, với những kiến thức và kỹ năng đại học, sẽ rất đầy đủ khả năng và thẩm quyền đểtổ chức những khóa dạy nghề ngắn hạn để bổ túc và chuẩn bị đổi nghề cho một số thợ chuyên môn, vì sự tiến bộ nhanh chóng của kỹ thuật, có thể bị lỗi thời và bị thất nghiệp nếu không học một nghề chuyên môn mới.
Làm sao đại học cộng đồng có thể thực hiện vai trò quan trọng này ? Trước nhứt phải có sự tham dự của cộng đồng trong việc đặt định chính sách và chương trình giáo dục. Việc

* Trang 52 *
device

tham dự này có thể được thực hiện qua Hội đồng Quản trị, vàcác Ban Cốvấn. Ngoài ra cần phải có sự hợp tác chặt chẽ ở cấp địa phương cũng như trung ương giữa những giới chức giáo dục, vàcác giới chức kinh tế, thương mại, kỹ nghệ, lao dộng, xã hội, để có thể hoạch định những chính sách, đường lối và chương trình thích hợp.
KẾT LUẬN
Trong phần trên tôi vừa trình bầy phác họa một định nghĩa đại học cộng đồng, sơ lược diễn tiến thành lập đại học cộng đồng tại Việt nam, các tác dụng của đại học cộng đồng, và từ đó suy diễn ra những vai trò mà đại học cộng đồng được dân chúng và quốc gia trao phó. Vai trò này bao gồm các mặt giáo dục, văn hóa, xã hội và kinh tế. Để thực hiện các vai trò này, cần phải có một sự hợp tác, phối hợp giữa đại học cộng đồng và các Viện đại học quốc gia, các cơ quan chính phủ và các đoàn thể tư nhân.
Tôi đã không trình bày về các đại học đoản kỳ tư lập có mô thức tổ chức và hoạt động tương tự như đại học cộng đồng công lập. Tôi cũng không nói đến dự án thành lập những đại học cộng đồng tại Quảng đà, Qui nhơn, trong tài khóa 1974.
Tôikhông kể hết các thỉnh nguyện thành lập Viện đại học cộng đồng tại các tỉnh khác. Nhưng tôi muốn nói là đồng bào thiểu số cũng ước mong có 1 Viện đại học cộng đồng tại vùng Cao nguyên. Và hiện nay Hội Phụ nữ Việt nam Phụng sự Xã hội đang nghiên cứu thành lập 1 Viện đại học cộng đồng trong niên khóa 1974-75.
Qua dư luận báo chí thuận lợi và với những cuộc vận động thành lập đại học cộng đồng khắp nơi trong nước, tôi có cảm

* Trang 53 *
device

tưởng là vai trò của đại học cộng đồng rất được nhiềungười nhận biết và đặc biệt kỳ vọng, tin tưởng vào định chế này.
Vào cùng ngày hôm nay tháng trước, tôi được hân hạnh tham dự Đại hội Thường niên của Hiệp hội Đại học Cộng đồng Hoa kỳ tại Hoa thịnh đốn, trong đó có sự tham dự của nhiềunước trên thế giới cótổ chức đại học cộng đồng như Gia nã đại, Colombie, Indonesia, Mễ tây cơ, Pérou, Cộng hòa Dominique, Tanzanie, Venezuela, Đại hàn, Trung hoa Dân quốc, Thái lan và Việt nam. Về phía Âu châu, có đại diện của Cơ quan Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD, trụ sở tại Paris). (Đây không phải là tất cả những nước trên thế giới cótổ chức đại học cộng đồng. Nhiều nước khác ở Âu châu và Á châu cũng có định chế giáo dục này. Như Nhựt bổn, con số đại học cộng đồng tính đến năm 1972 là 486 trường).
Các nước có đại diện tại Hoa thịnh đốn trình bày những thành quả khích lệ mà đại học cộng đồng đã đạt được, và đã đi đến quyết nghị thành lập một hiệp hội đại học cộng đồng thế giới để hợp tác và trao dồi kinh nghiệm phát triển định chế này hầu có thể phát triển các nước hội viên.
Trong số các tác dụng của đại học cộng đồng cócái tương tự như các Viện đại học thông thường, nhưng lắm cái lại khác hẳn. Tuy rằng học trình của sinh viên ngắn hơn, nhưng trách nhiệm điều khiển của cấp lãnh đạo không kém phần tế nhị, nhứt là trong hiện tình đất nước. Vì tánh cách đại chúng nên có khách hàng phức tạp. Vì không giới hạn không gian nên cấp điều khiển phải chứng minh trực tiếp thành tích của mình với cộng đồng.
Một định chế đại học cần phải nhiều thập niên để sửa sai, điều chỉnh mới trưởng thành. Sau 2 năm hoạt động, 5 Viện

* Trang 54 *
device

đại học cộng đồng đầu tiên của Việt nam còn đang trong thời kỳ sơ sinh. Mặc dầu gặp phải nhiềukhó khăn đủ mọi mặt, 2 vị Viện trưởng và cộng tác viên tiền phong đã cố gắng và kiên nhẫn tột bực để khắc phục mọi chướng ngại. Tôi chia sẻ nỗi lo âu của quí vị ấy và cầu chúc cho quí vị thành công trong trách vụ mồ Chánh phủ đã giao phó trên con đường phục vụ cộng đồng và xứ sở.
ĐỖ BÁ KHÊ
 
 
CHÚ THÍCH
 
(1) Yarrington (cd.), International Development of the Communitg Junior College Idea, AAJC, Washington, DC : 1970.
(2) Sắc lệnh 503-TT/SL do Tông thống Nguyễn văn Thiệu ban hành ngày 15-8-1971.
(3) Yarrington (ed); sách đã dẫn, trang 14.
(4) Harvey G. Kebschull (ed.), Politics in Transitional Societies: The Challenge in Asia, and Latin America. New York : Appleton-Century- Crofts, 1968, trang 171.
(5) Sách đã dẫn, trang 173.
(6) Khuyến cáo của khóa Hội thảo Liên Viện tại Nha trang từ 1-9 đến 9-9-1969.
(7) Hội tho Kế hoạch Giáo dục Đại học, Sài gòn : Bộ Giáo dục, 1972.
(8) « Tường trình của Phái đoàn Giáo dục Việt nam quan sát chương trình tổ chức đại học cộng đồng. » Bộ Giáo dục: 1970.
(9)«Thỉnh nguyện thư gởi Tông thống Việt nam Cộng hòa về việc thành lập Viện Đại học Cộng đồng Tiền Giang ». Sài gòn, Bộ Giáo dục: 18.10.1970 (bản ronéo).
(10) Thái Can, Thư gởi Tông thống Việt nam Cộng hòa về việc thiết lập Đại học cộng đồng tại Đà nẵng. Sài gòn : Bộ Giáo dục : 8-1-1973 (bản ronéo).

* Trang 55 *
device

(11) Nguyễn Ngọc Liên, Thư gởi Tôngthống Việt nam Cộng hòa về việc thỉnh nguyện thư xin thiết lập đại học cộng đồng tại cao nguyên. Sài gòn : Bộ Giáo dục, 17-10-1972 (bản ronéo).
(12) Sắc lệnh 503-TT/SL, 504-TT/SL, 505-TT/SL ngày 15 8-1971.
(13) « Đại học Cộng đồng Tiền Giang », Nhựt báo Điện Tín, Saigon : 14-4-1971, trang 3.
(14) Edgar Faure, Apprendre à être. Unesco Fayard, 1972, trang 87.
(15) Vladimir Kourganoff, La Face Cachée de L'Unioersi. Presses Universitaires de France, 1972, trang 11, 12.
(16) Edgar Faure, sách đã dẫn, trang 178.
(17) Edgar Faure. Như trên trang 212, 228.
(18) Wesley L. Or, et. al., « Survey oil Engineering Education in Viet nam », Saigon : USAID/Vietnam, August 28, 1965.
(19) Hội Quán trị Xí nghiệp Việt nam. Vai trò của các định chế giáo dục trong việc huấn luyện quản trị để phát trin quốc gia. Saigon : 1973.

 
TƯ TƯỞNG Số 2 :
 
Đặc biệt về :
 
 
ĐẠI LỄ PHẬT ĐẢN 2518
VÀ KỶ NIỆM 10 NĂM THÀNH LẬP
VIỆN ĐẠI HỌC VẠN HẠNH

* Trang 56 *
device

 
Tư Tưởng Số Đặc Biệt (Năm 1974)