LOGO VNBET
1.  Phiên âm:
ẨM THỦY
Phật quán nhứt bát thủy
Bát vạn tứ thiên trùng
Nhược bất trì thử chú
Như thực chúng sanh nhục
ÁN, PHẠ TẤT BA RA MA NI TÁ HA (3 lần)
2.   Dịch nghĩa:
UỐNG NƯỚC
Phật nhìn một bát nước
Chứa 84 ngàn vi trùng
Nếu không trì chú này
Như ăn thịt chúng sanh
ÁN, PHẠ TẤT BA RA MA NI TÁ HA (3 lần)

* Trang 98 *
device

3.   Yếu giải:
Uống:
Tức là chỉ nuốt mà không nhai bằng răng. Như những vị tu sĩ không ăn chiều (không nhai thức ăn). Các vị ấy thường uống sữa hoặc những chất đã xay nát để uống. Khi cơ thể có bệnh, cần có tinh chất trong bao tử mỗi khi uống thuốc buổi chiều tối, để khỏi bị xót đau dạ dày.
Nước:
Là chất kết hợp từ thiên nhiên do 2 phân tử Hydro (H2) và 1 phân tử Oxy(O) kết lại thành một phân tử nước (H2O).
Nước là một trong ngũ hành (Kim, Thủy, Mộc, Hỏa, Thổ), là món làm tươi nhuần vạn vật, làm sạch sẽ tất cả vậy.
Trong Ngũ Phần Luật có nói: Nước có dùng trong và dùng ngoài; dùng trong như việc ăn uống để biến thành chất nước trong cơ thể (máu, nước tiểu, nước mắt…), dùng ngoài như để tưới, xối, rửa, giặt...”. Bài kệ ‘Ẩm Thủy’ đây, là để dùng trong,

* Trang 99 *
device

 cho nên khi nào uống nước thì đọc kệ chú này.
Phật Quán:
Theo cái nhìn cuả Đức Phật, trong một bát nước có sinh linh rất nhiều, mắt thịt cuả người phàm tục không thể thấy được những vi sinh vật song trong đó, chỉ có Đức Phật, dùng Phật Nhãn, thấy suốt côn trùng li ti vi tế. Vì lòng từ bi, nên Ngài dạy chư đệ tử xuất gia phải trì niệm kệ chú mỗi khi uống nước để 84.000 vi trùng lánh xa hoặc hoá sinh.
Trong luận Tát Bà Đa kể rằng: Xưa kia ngài Xá Lợi Phất chứng quả A Lá Hán, dùng thiên nhãn nhìn vào hư không, thấy vô số vi trùng như cát sông Hằng, như luá nằm chằng chịt trong bồ, vô lượng vô biên, nên ngài trải ba ngày không dám ăn uống chi cả. Đức Phật biết vậy, bèn dạy ngài Xá Lợi Phất nên trì niệm kệ chú thì không phàm giới sát, và khi thấy nước có trùng, phải dùng cái lược nước để lọc vi trùng lớn (lăng quăng, sâu bọ) rồi đem

* Trang 100 *
device

thả vào ao nước cho nó sống, sau đó mới dùng nước để tắm, nấu thức ản, rửa uống...
Chúng Sanh Nhục:
Là thịt, là sinh mạng của sinh vật hữu tình.
Chúng sanh:
Tiếng Phạn gọi lả Tát Đỏa, Tàu dịch là chúng sanh. Chúng sanh có 2 loại: Hữu tình chúng sanh và vô tình chúng sanh.
  •  HỮU TÌNH CHÚNG SANH : Là chúng sanh có tình thức, có sinh mạng, một sinh mạng gồm có các món hay nhiều món (chúng) quện lấy nhau tạo ra một thân, nên gọi là chúng sanh. Ví dụ như thân người do đất, nước, gió, lửa,không khí, tánh biết, tánh phân biệt, giả hợp mà có ra.
Tóm lại, tất cả loài nào có sinh mạng , ham sống, sợ chết đều gọi là chúng sanh (người, thú vật, cá, tôm, sâu bọ, côn trùng, vi trùng…) có sanh ra, có chết đi trong vòng luân hồi sáu nẻo.

* Trang 101 *
device

Chúng sanh lại chia ra làm 4 loại (noãn, thai, thấp, hóa) goi là Tứ Sanh:
a)      Noãn sanh: Sanh từ trứng (chim, cá)
b)     Thai sanh: Sanh từ bào thai (người, súc vật)
c)     Thấp sanh: Loài sanh nơi ẩm ướt (trùng)
d)     Hoá sanh: Loài sanh ra do biến hóa (bươm bướm, sâu....)
•     VÔ TÌNH CHÚNG SANH: Là cảnh giới của các vật vô tình như cây, cỏ, đất, đá, chúng cũng do duyên hợp giả tạo, đâm chồi nảy lộc, rồi cũng tan hoại (xuân sanh, hạ trưởng, thu liễm, đông tàn).
Tóm lại:
-    Hữu tình chúng sanh chịu sanh, già, bịnh, chết
-    Cây cỏ thì chịu sanh, trụ, dị, diệt
-    Đất đá thì chịu thành, trụ, hoại, không, theo luật vô thường biến dịch vậy.
Bát Vạn Tứ Thiên:
Là tám muôn bốn ngàn (1 muôn = 10 ngàn) tức là 84.000. Bên nước Ấn Độ khi

* Trang 102 *
device

xưa, muốn nói đến vật gì rất nhiều, người ta thường dùng con số BÁT VẠN TỨ THIÊN để chỉ cho những vật khó đếm, khó tính, khó đo.
Ví dụ như :
-   Núi Tu Di cao tám vạn bốn ngàn do tuần
-    Bát vạn tứ thiên bịnh = 84.000 bịnh tật
-    Bát vạn tứ thiên pháp môn =
84.000   pháp môn
-    Bát vạn tứ thiên phiền não =
84.000   phiền não
-    Bát vạn tứ thiên tướng hảo =
84.000   tướng tốt
-    Bát vạn tứ thiên trùng = 84.000 vi trùng,… vô số vi trùng.
Ngũ Nhãn:
Là 5 loại con mắt, tức là 5 loại kiến thức, 5 cái nhìn, 5 khả năng quán chiếu từ phàm phu đến các quả vị tu chứng Thinh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, và Phật quả.
Ngũ nhãn gồm có:

* Trang 103 *
device

Nhục nhãn: Là con mắt thịt của phàm phu, nhìn mọi sự vật đều thường còn, cho nên tham, si, đắm, mến, bảo thủ…..
Thiên nhãn: Là con mắt của Chư Tiên sắc giới, cũng là mắt của cõi Tiên tu thiền định, các Ngài đều có thể nhìn thấy từ cõi trời cho đến địa ngục, không bị ngăn ngại sáng tối.
Huệ nhãn: Là con mắt của các vị tu chứng. Từ tứ quả Thinh Văn, như Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Nà Hàm, A La Hán và quả Duyên Giác. Nhờ đắc huệ nhãn, nên dùng trí huệ quán chiếu, thấy các pháp do duyên hợp giả có, đương thể tức không, như huyễn như hoá không bền chắc, đó là trí huệ quán chiếu cái CHƠN KHÔNG VÔ TƯỞNG của sự vật.
Pháp nhãn: Là con mắt huệ của hàng Bồ Tát đã nhận ra Phật tánh trong mỗi chúng sanh, đó là cái Tánh Giác thường hằng sẵn có trong mỗi chúng sanh, tư do, các Ngài không còn phân biệt con người cao sang, thú vật hèn hạ. Bằng con mắt Pháp

* Trang 104 *
device

 Thân bình đẳng, hàng Bồ Tát phát tâm yêu thương tất cả mọi loài và tìm cách thực hành Lục Độ Vạn Hạnh, làm cho hiển lộ Tánh Giác, khiến chúng sanh an trụ Phật Tánh, giác ngộ, giải thoát, thành Phật.
Phật nhãn: Là con mắt Giác Ngộ vô thượng của Đức Phật. Khi nào tu thành

* Trang 105 *
device

Phật mới có được con mắt này. Phật nhãn theo Kinh Vô Lượng Thọ là tuệ giác cùng tột, đầy đủ khắp soi pháp giới, pháp tánh trong mười phương.
Theo Kinh Kim Cang Bát Nhã, Đức Phật có đủ 5 loại con mắt trên.

* Trang 106 *
device

 
Tỳ Ni Nhật Dụng Yếu Giải