LOGO VNBET
1. Phiên âm:
 
TÁN PHẬT
Pháp vương Vô Thượng Tôn
 Tam giới vô luân thất
Thiên nhơn chi Đạo sư
Tứ sanh chi Từ phụ
 Ngã kim tạm quy y
Năng diệt tam kỳ nghiệp
Xưng dương nhược tán thán
 Ức kiếp mạc năng tận.

 
2. Dịch nghĩa:
 
 KHEN NGỢI ĐỨC PHẬT
Đấng pháp vương vô thượng
Ba cõi chẳng ai bằng

* Trang 144 *
device

Thầy dạy khắp trời người
Cha lành chung bốn loài
 Con quy y chốc lát
Cũng diệt vô số nghiệp
 Ca tụng hoặc khen ngợi
 Ức kiếp cũng không cùng.

 
3. Yếu giải:
Tán:
Tiếng Phạn gọi là Bà Sư, Trung Hoa dịch là tán thán (khen ngợi). Vì công đức của Chư Phật không thể nghĩ bàn (nghĩ không tới, nói ra không hết) cho nên hễ thấy dung nhan của Phật thì khen ngợi.
Phật:
Tiếng Phạn gọi là Bouddha, dịch là Giác Giả (người tỉnh thức). Ngài đã phát nguyện cứu độ chúng sanh.
 Hiện nay trong không gian, có vô số thế giới và có vô số Phật. ĐứcPhật Thích Ca Mâu Ni là Đức Phật trong thế giới TA BÀ này. Theo kinh Phật nói: Ở cõi Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới này, có ba ngàn Đức Phật ra đời:

* Trang 145 *
device

-  1000 Đức Phật thời quá khứ: đã qua
-  1000 Đức Phật thời hiện tại: hiện nay
-  1000 Đức Phật thời tương lai: sẽ đến
Đức Phật Thích Ca là vị Phật thứ tư trong số một ngàn Đức Phật hiện tại. Đức Phật Di Lặc sẽ là Đức Phật thứ năm ra đời kế theo Đức Phật Thích Ca một khi giáo pháp cuả Đức Phật Thích Ca không còn ai biết đến (thời mạt pháp).

Đức Phật Thích Ca hiện nay không còn ở Cõi Tà Bà này, nhưng giáo pháp còn thì Đức Phật vẫn hiện hữu.

Mỗi Đức Phật đều có đủ 3 thân, 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp. Ba thân Phật là:

PHÁP THÂN: cũng gọi là CHƠN THÂN, tức là cái thể tánh Như Lai thường hằng mà Phật đã có trước khi giáng sanh làm Thái Tử con vua Tịnh Phan và đi xuất gia tu thành Phật.

ỨNG THÂN: Còn gọi là HIỆN THÂN, là cái thân hiện ra trong cõi đời này, từ lúc giáng sanh cho đến khi nhập Niết Bàn.

* Trang 146 *
device

HÓA THÂN: còn gọi là THẦN THÔNG BIẾN HÓA THÂN, tức là cái thân mà Đức Phật tùy tiện biến hoá ở chỗ này chỗ khác, để dễ dàng gần gũi độ sanh (thân trời, thân rồng, thân Bồ Tát, thân to, thân nhỏ, thân trưởng giả, thân Tỳ kheo, thân Sà di...).

Đức Phật là bậc sáng suốt hoàn toàn, trí lực đầy đủ (phước huệ tròn đầy). Ngài có đủ nhiều hạnh lành, nên ngài được xưng tặng bằng 10 đức hiệu:
•    Như Lai
•    Ứng cúng
•    Chánh biến tri
•    Minh hạnh túc
•    Thiện Thệ
•    Thế gian giải
•    Vô thượng sĩ, điều ngự trượng phu
•    Thiên nhơn sư
•    Phật
•    Thế Tôn
Ngoài ra, người và cõi trời còn xưng tôn Đức Phật những danh hiệu như: Đấng

* Trang 147 *
device

pháp vương, Vô thượng y vương, Đại Sa Môn, Sư Tử Hống, Vô Thượng Sư, Đại Trượng phu...
Pháp:
Là phương pháp, là mẫu mực, là khuôn phép. Pháp tiếng Phạn gọi là Đạt Ma (Dharma), dịch là giáo pháp cuả Phật. Chữ Pháp nói chung có nghĩa rất rộng; phàm việc chi dù lớn dù nhỏ, hữu hình vô hình, tốt hoặc xấu, hữu vi hay vô vi, chân thật hay hư vọng, đều gọi là Pháp cả. Nhưng chữ Pháp trong bài kệ này là chỉ cho Đạo lý của Đức Phật, Giáo lý của Đức Phật. Giáo lý của Đức Phật Thích Phật Thích Ca được chia làm ba thời kỳ thường trụ là Chánh Pháp, Tượng Pháp và Mạt Pháp.
THỜI KỲ CHÁNH PHÁP: là khi Đức Phật nhập Niết Bàn mãi đến 500 năm sau. Nhờ ảnh hưởng thần lực của Phật nên nhiều người tu hành đắc ĐẠO.
THỜI KỲ TƯỢNG PHÁP: Tượng pháp là giáo pháp tương tợ chứ không còn là

* Trang 148 *
device

chánh. Thời gian từ 500 năm sau Đức Phật nhập diệt cho đến 1500 năm sau Phật Niết Bàn. Lúc bấy giờ, vì xa lần Phật, nên người tu hành ít người đắc quả từ từ.

THỜI KỲ MẠT PHÁP: Mạt là ngọn, là cuối cùng. Kể từ 1500 năm sau Phật Niết Bàn mãi đến về sau, vì xa cách Phật đã lâu, pháp tu chưa hoàn chỉnh, nên nhiều người tu hành giải đãi, sa ngã, hủy phạm giới luật thì nhiều, tu hành tinh tấn thì ít. Người chứng quả thánh rất hiếm.

Pháp Vương:
Là vua pháp, vị vua tự tại, dùng chánh Đạo nhiếp hộ chúng sanh, khiến cho mọi loài được an vui, giải thoát.
Vô Thượng Tôn:

Tiếng Phạn gọi là A NẬU ĐA LA dịch là Vô Thượng. Có nghĩa là cao lớn không gì hơn được. Nói về địa vị tu chứng, khi so sánh với THÁNH PHÀM thì PHẬT là trên hết. Nói về pháp giải thoát thì NIẾT BÀN TỊCH TỊNH là trên hết.

* Trang 149 *
device

Pháp Vương Vô Thượng Tôn:
Không có gì trên vua pháp được. Nghĩa là đối với những pháp môn, những phương pháp Đạo lý đem giáo hóa chúng sanh, khiến cho mọi loài thoát ly sanh tử, chứng ngộ Niết Bàn thì chỉ có vua pháp là bậc tôn quý nhất đối với con đường xuất thế.
 
Tam Giới:
 
Là ba cõi, ba thế giới cuả chúng sanh nương ở. Đó là dục giới, sắc giới và vô sắc giới. (xem chú thích ở bài số 7).
Luân Thất:
 
Luân là so sánh. Thất là không được. Luân thất không thể nào so sánh được.
 
Tam Giới Vô Luân Thất :
Có nghĩa là nếu đem Tam Giới (3 cõi) chúng sanh chưa đắc quả Thánh, mà so sánh với cõi Thường Tịch Quang của Phật thì không sao bằng được, bởi vì Phật là đấng pháp vương (là vua pháp) là bậc tôn quý nhất trong pháp xuất thế, còn ba cõi

* Trang 150 *
device

 chúng sanh còn sanh tử, chưa ra khỏi luân hồi.

Thiên Nhơn Chi Đạo Sư :
Là bậc thầy cõi trời và cõi người. Đức Phật Thích Ca đã từng giảng kinh Hoa Nghiêm ở dưới long cung, giảng kinh Địa Tạng cho mẹ là Ma Gia nghe ở Cung Trời Đâu Suất. Phật còn giảng pháp Thập Thế Giới Hải ở Diệu Quang Đường nơi Cung của Trời Tứ Thiên Vương.
•   Giảng pháp Thập Trụ nơi cung trời Đế Thích.
•   Giảng pháp Thập Hạnh nơi cung trời Diệm Ma.
•   Giảng pháp Thập Hồi Hướng nơi cung trời Đâu Suất.
•   Giảng pháp Thập Thiền Định nơi cung trời Hóa Lạc.
•   Giảng pháp Thập Địa nơi cung trời Tha Hoá.
•   Giảng pháp Thập Kim Cương nơi cõi Sơ Thiền.

* Trang 151 *
device

•   Giảng pháp Thập Nhẫn nơi cõi Nhị Thiền.
•   Giảng pháp Thập Nguyện nơi cõi Tam Thiền.
•   Giảng về Tâm Địa Pháp Môn nơi cõi Tứ Thiền.
Tứ Sanh :
Lả bốn cách sanh sản của chúng sanh, gọi là Tứ Chủng Sanh, gồm có Noãn sanh, Thai sanh, Thấp sanh và Hóa sanh
-      Noãn sanh: từ trong trứng mà nở ra con, như chim, cá, gà, vịt...
-      Thai sanh: từ trong bào thai mà sanh ra con và lớn lên, như con người, ngựa, mèo, chó…
-      Thấp sanh: từ chỗ ướt mà sanh ra như cá, nòng nọc, lươn, cua, nghêu, sò, ốc....
-      Hóa sanh: tự nhiên mà sanh ra, hóa ra do sức mạnh của cái Nghiệp. Như những linh hồn sanh làm ngạ quỷ, xuống Địa Ngục, hay những côn trùng lột vỏ như con ve, con bướm (con sâu hóa bướm).

* Trang 152 *
device

Tứ Sanh Chi Từ Phụ:
Có nghĩa là bậc cha lành của bốn loài. Nếu xét về tình thương rốt ráo, thì Đức Phật là bậc cha lành thương xót mọi loài chúng sanh như bà mẹ thương con đỏ. Vì Ngài đã hy sinh thân mạng để tìm ra mối Đạo, ban cho chúng sanh những pháp mầu vi diệu, làm cho chiếc phao thoát biển sanh tử, rốt ráo an vui, giải thoát hoàn toàn. Vì vậy, Đức Phật rất xứng đáng là đấng cha lành bậc nhất của bốn loài chúng sanh.
 
Ngã Kim Tạm Quy Y:
Là con nay một khi nương về.
Ngã Kim: là con hiện giờ, con nay.
Tạm Quy Y: một khi quay về. Chữ “Tạm” ở đây chỉ cho hiện nay, giờ đây, phút giây này.

 
Tam Kỳ Nghiệp:
“Tam Kỳ” tiếng Phạn nói đủ là A TĂNG KỲ, dịch là vô số thời gian. Tam Kỳ Nghiệp là vô số nghiệp chướng lâu đời đến giờ.

* Trang 153 *
device

Năng Diệt Tam Kỳ Nghiệp :
Ý nói, con hiện giờ, đem lòng thành kính, một khi nhìn thấy, một khi đảnh lễ, hướng tâm quay về quy y với Phật thì liền đó vô số nghiệp chướng lâu đời thảy đều rơi xuống và tiêu tan hết.
Nghiệp:
Tiếng Phạn gọi là KARMA, Trung Hoa dịch là Nghiệp. Là cái năng lực do chúng sanh gây ra từ trước, hoặc Thiện hoặc Ác cấu thành ra một thói quen, có sức hút rất mạnh, có lực hấp dẫn rất khó bỏ, nó dẫn dắt chúng sanh đi vào đường thiện hoặc đường ác (PHƯỚC NGHIỆP hoặc TỘI NGHIỆP). Thi sĩ Nguyễn Du đã viết
 “Đã mang lấy nghiệp vào thân
 Thì đừng trách lẫn trời gần trời xa”
Nghiệp còn có hai loại là Biệt Nghiệp (nghiệp riêng) và Cộng Nghiệp (nghiệp giống nhau, nghiệp chung).
Nghiệp sở dĩ có là do Tam Độc tham, sân, si và hiện hành nơi thân, miệng, ý. Vì vậy mà Nghiệp còn gọi là Tạo Tác.

* Trang 154 *
device

Thân Nghiệp: do cái thân làm ra như sát sanh, trộm cướp, tà dâm.

Khẩu Nghiệp: do cái miệng nói ra như nói láo, nói thêm bớt, nói hai đầu đâm thọc, rủa chửi.

Ý Nghiệp: Ý tham, ý giận, ý si mê.Người đời từ trẻ đến già không khi nào ra khỏi sự quản trị, chi phối của cái Nghiệp (thói quen, ghiền, ưa, bỏ không được, vô minh, buồn phiền...) làm cho điên đảo khổ lụy. Sau khi chết, con người sẽ bị một lực cực mạnh do sự huân tập, chứa nhóm, thói quen đưa vào bốn lãnh vực quả báo, nhứt định phải chịu, giống như mắc nợ rồi nhứt định phải trả không thiếu một cắc. Bốn lãnh vực đó là:

CỰC TRỌNG NGHIỆP: Sau khi chết, thần thức sẽ theo cái nghiệp nào nhiều nhất, khó bỏ nhất, cái tội nhất, có phước nhất mà đi đầu thai. Hoặc thẳng vào địa ngục chịu tội báo, hoặc sanh thẳng cõi trời hưởng phước liền.

* Trang 155 *
device

CẬN TỬ NGHIỆP: Khi gần tắt thở, nếu ưa thích, hướng tâm theo nghiệp nào thì tùy đó mà thác sanh đi đầu thai.
Ví dụ: người sắp chết, nếu được bạn bè khai thị, giới thiệu cõi Phật, khiến cho người sắp chết buông xả luyến ái, cầu sanh nước cực lạc của Đức Phật A Di Đà, thì có thể liền được vãng sanh về cõi Phật. Hoặc là, người sắp chết mà họ hàng thân thuộc xáo trộn, chia rẽ... làm cho họ giận tức lên, tâm họ sẽ sân si, khiến họ đoạ liền vào cõi địa ngục.

TẬP QUÁN NGHIỆP:
Là cái thói quen trong đời sống. Nếu người sắp chết, trước kia họ thường ưa thích việc thiện việc ác nào đó thì sau khi chết họ liền đoạ lạc hoặc đầu thai vào những nơi họ ưa thích.
Ví dụ: Thích niệm Phật sẽ sanh về cõi Phật. Thích bắn giết sẽ sanh vào A Tu La. Thích nhậu nhẹt ăn chơi sẽ đầu thai vào ngạ quỷ…

* Trang 156 *
device

TÍCH  LŨY NGHIỆP :
Là cái nhân nghiệp đã gây từ nhiều đời, kết nhóm từ từ, nay đủ duyên hiện khởi và dắt dẫn vào con đường đầu thai hoặc tốt hoặc xấu.

 
Xưng Dương Nhược Tán Thán
Ức Kiếp Mạc Năng Tận
Công đức và trí tuệ của Đức Phật thật vô lượng vô biên, dù chúng ta dùng tâm chân thành cung kính khen ngợi trải qua trăm ngàn muôn ức kiếp cũng không thể hết được.
Kiếp: tiếng Phạn gọi là KIẾP BA, dịch là ĐẠI THỜI. Kiếp là thời kỳ rất dài, thật khó lấy số năm tháng ngày để kể cho đúng. Kiếp có ba thứ: Tiểu Kiếp, Trung Kiếp và Đại Kiếp.

TIỂU KIẾP : Lấy đời sống con người từ 10 tuổi thọ mà khởi sự. Cứ qua một trăm năm, tuổi đại thọ của kiếp người tăng 1 tuổi (tuổi thọ con người là 11 tuổi chết) lần lượt trải  đến khi tuổi thọ của con

* Trang 157 *
device

người là 84.000 tuổi sống thọ, đó là Tăng Kiếp chí cực. Kế đó giảm kiếp tiếp tục, cứ trải quả  một trăm năm, tuổi sống thọ của con người giảm xuống 1 tuổi (83.999) và cứ lần lượt giảm cho đến khi tuổi thọ cuả con người chỉ còn 10 tuổi gọi là Giảm Kiếp chí cực. Một chu kỳ Tăng và một chu kỳ Giảm như vậy cộng thành mười sáu triệu tám trăm ngàn năm (16.800.00 năm) là một tiểu kiếp.

TRUNG KIẾP: Một trung kiếp bằng 20 lần tiểu kiếp (20 x 16.800.000 = 336.000.000) thành ra ba trăm ba mươi sáu triệu năm.

ĐẠI KIẾP : Là một đời sống của một cõi thế giới. Thời gian dài vô tận khó tính cho đúng, nó trải qua bốn giai đoạn THÀNH, TRỤ, HOẠI, KHÔNG của vũ trụ vật thể.

Theo Phật Học Tự Điển cuả Đoàn Trung Còn thì ngài cho rằng một Đại Kiếp trải qua bốn Trung Kiếp.

* Trung kiếp thứ nhứt thuộc về Thành kiếp.

* Trang 158 *
device

* Trung kiếp thứ hai thuộc về Trụ kiếp.
* Trung kiếp thứ ba thuộc về Hoại kiếp.
* Trung kiếp thứ tư thuộc về Không kiếp.

Như vậy:
1 Đại kiếp = Trung kiếp x 4
                  = 336.000.000          x 4
                  = 1.344.000.000 (một tỷ ba trăm bốn mươi bốn triệu năm) và trải qua bốn thời kỳ là THÀNH, TRỤ, HOẠI, KHÔNG.

Cho nên có thể nói rằng một ĐẠI KIẾP tức là đời sống của một cõi thế giới, từ lúc hình thành cho đến khi hoại diệt. Người ta cũng thường nói đến kiếp con người, tức từ lúc tượng thai cho đến sanh ra, lớn lên, già, chết đi (sanh, lão, bệnh, tử).

* Trang 159 *
device

 
Tỳ Ni Nhật Dụng Yếu Giải