LOGO VNBET
1.       Phiên âm:
          MINH CHUNG
         Nguyện thử chung thinh siêu pháp giới
        Thiết vi u ám tất giai văn
         Văn trần, thanh tịnh chứng viên thông
          Nhứt thiết chúng sanh  chánh giác
2.     Dịch nghĩa:
        HÔ CHUÔNG
       (Đóng chuông)
        Nguyện tiếng chuông này khắp pháp giới
        Ngục tối thiết vi thảy đều nghe
       Căn tiếng thanh tịnh chứng viên thông
      Tất cả chúng sanh thành chánh giác

* Trang 18 *
device

3.     Yếu giải:
    Minh:

       Tiếng phát ra gọi là Minh, có nghĩa là đóng chày vào cho phát ra tiếng.
    Chung:
       Là cái chuông. Có nghĩa là rỗng rang bên trong, chứa nhiều không khí nên tiếng kêu thật to. Sách Ngũ Minh bên Trung Hoa có nói: tiếng Chuông là của mùa thu, bởi vì người xưa thường quan niệm về vai trò của bốn mùa như:
      •       Xuân sinh
      •       Hạ trưởng
      •       Thu liễm
      •       Đông tàn
      Có nghĩa là mùa Xuân thì vạn vật sinh sôi nẩy nở, mùa Hạ thì lớn lên, mùa Thu thì hình thành, mùa Đông thì ẩn mất. Cho nên vạn vật đến mùa Thu thì thành tựu. Vì vậy muốn cho tiếng chuông vang mãi không dứt, người ta thường đúc chuông vào mùa Thu.
      Tích xưa chép rằng: Trong biển nọ có con cá Kình to lớn, trên một cù lao bên cạnh,

* Trang 19 *
device

   có con vật biết lội tên là Bồ Lao, hằng ngày lặn xuống biển bắt cá ăn, thường bị con cá Kình tấn công. Mỗi lần bị uy hiếp như vậy, con Bồ Lao kêu lên thật to thì cá Kình sợ chạy.
   Nương theo sự tích này, người ta đúc Đại Hồng Chung, thường chạm hình con Bồ Lao và trên cây trên cây chùy dộng chung, thì chạm hình con cá Kình. Ý nói, mỗi khi cây chùy (cá Kình) đụng vào cái chuông (Bồ Lao) thì sẽ phát ra tiếng to.
Nguyện:
   Là chí tâm mong cầu cho các chúng sanh khắp pháp giới nghe được tiếng chuông này mà tỉnh giác.
Thử :
   Cái này, tiếng chuông này, hiện giờ, thực tại, hiện hữu.
Thinh:
   Là âm thanh, là tiếng. Hơi truyền ra ngoài vang dội gọi là tiếng.

* Trang 20 *
device

Có 3 loại âm thanh:
1)        Tiếng của loài hữu tình (người nói, chó sủa....)
2)        Tiếng của loài vô tình (tiếng gió, tiếng cọ xát...)
3)        Tiếng của loài hữu tình và vô tình đồng phát ra (người hô kệ, đóng vào chuông phát ra tiếng)
Siêu:
Là thấu đến, có nghĩa là vượt tất cả, thoát qua mà không bị vật gì ngăn ngại. Người đời thường khi nghe chuông, không thể nghe ngoài ranh giới của tiếng, khi mắt thấy, họ cũng không thể thấy ngoài phạm vi của hình sắc, nên họ thường bị thanh sắc trói buộc, ngăn ngại. Chỉ khi nào nghe mà không thấy cái tướng của tiếng, thì đâu bị việc gì ngăn ngại, lúc đó âm thanh mới có thể thấu suốt vaò tận địa ngục thiết vi u tối.
Pháp Giới:
Là cảnh giới của các pháp, là cõi giáo pháp. Pháp là các pháp gồm có sắc pháp

* Trang 21 *
device

và tâm pháp. Giới là cảnh giới gồm có hữu tình và vô tình. Các pháp đều có tự thể, nhưng vì cảnh giới chẳng đồng cho nên phân ra từng cảnh giới (giới hạn) riêng biệt.
Mỗi một cảnh giới là một pháp giới.
Như THẬP PHÁP GIỚI gồm có:
1)              Phật                           6) Nhơn
2)              Bồ Tát                       7) A Tu La
3)              Duyên Giác                8) Ngạ quỷ
4)              Thanh Văn                 9) Súc sanh
5)              Thiên                        10) Địa ngục
Tóm lại, tất cả các pháp trong thế gian muôn sự, muôn vật trong vũ trụ đều gọi chung là một pháp giới. Đứng về mặt lý tánh thì pháp giới chỉ cho thể tánh, cho Phật tánh thanh tịnh không nhiễm ô cuả tất cả chúng sanh, nên còn gọi là PHÁP GIỚI.
Nguyện Thử Chung Thinh Siêu Pháp Giới:
Cầu mong tiếng chuông này thấu đến tất cả chúng sanh ở mọi cảnh giới. Có

* Trang 22 *
device

 nghĩa là nguyện cho âm thinh chánh pháp vang tận thể tánh lặng sáng cuả mỗi chúng sanh.
Khắp các cảnh giới khác nhau đều nhận được âm thinh này, tỉnh giác, trở về an trú trong Phật Tánh, hướng đến Phật Đạo.
Thiết Vi:
Là địa ngục bằng sắt.
Tiếng phạn gọi là THƯỚC CA LA, Tàu dịch lá LUÂN SƠN. Đây là địa ngục bằng sắt kiên cố, đầy đau khổ, nằm trong núi Thiết Vi (núi sắt bao bọc kín đáo) u tối. Trung tâm cuả TỨ ĐẠI CHÂU có núi TU DI, ngoài ra, còn có 8 biển lớn. Xung quanh cuả 1 cái biển thứ 8 có dãy núi Thiết Vi bao quanh biển đó, nước cuả biển này rất mặn và rất sâu, rộng vô cùng. Trong lòng cuả núi Thiết Vi có nhiều địa ngục u tối, lớn có, nhỏ có, ánh sáng mặt trời mặt trăng không soi vào được nên tối tăm. Chúng sanh bị nghiệp quả đoạ vào địa ngục này, rất là đau khổ, khó thể diễn tả được.

* Trang 23 *
device

U Ám:
        Tức là chỗ tối tăm, mặt trời, mặt trăng không soi đến được. Nói khác đi, u ám chỉ cho tâm vô minh đen tối như một địa ngục kín đáo. Tâm đen tối vô minh mê mờ đến độ mà ánh sáng chánh pháp khó soi đến, trí tuệ khó làm sáng, khó tỉnh giác.
        U ám ở đây cũng ám chỉ cho loài súc sanh va ngạ quỷ đói khát.
Tất:
       Là hết, là thảy đều, là ắt được.
 Thiết Vi U Ám Tất Giải Văn :
      Chúng sanh hiện đang bị đau khổ ở địa ngục trong núi Thiết Vi u tối có thể nghe được tiếng chuông, cũng như tâm vô minh cuả loài người, loài ngạ quỷ, loài súc sanh nhờ nghe tiếng chuông tỉnh giác này mà bớt đi sự đau khổ.
Trần:
      Vì chứa nhóm nghiệp lực làm dơ bẩn tình thức nên gọi là trần, cũng gọi là bụi dơ.

* Trang 24 *
device

    Nói khác đi, những trạng thái phiền não ám ảnh vào tình thức, làm cho tâm vọng động, gọi là trần cấu. ( Bóng dáng pháp trần chứa đầy trong tâm)
Văn Trần :
    Tức là trần nghe chứ không phải là tánh nghe. Có nghĩa là nhĩ thức bị trần cấu xen vào, nên trong khi nghe, có sự phân biệt, có sự suy luận, có sự so đo, có hình ảnh, có nhiễm ô phiền não, chứ không phải như huệ nghe, tức là nghe bằng huệ, bằng tánh giác vô phân biệt, chỉ nghe có tiếng và nghe không tiếng mà thôi. (Trở nghe nghe tự tánh, như nhĩ căn viên thông cuả ngài Quán Thế Âm Bồ Tát)
Chứng Viên Thông:
   Tức là chứng vào tròn không, là đạt được thần lực nơi nhĩ căn, đủ khả năng điệu dụng. Bằng trí tuệ của TỰ TÁNH thanh tịnh, nghe khắp tất cả một cách đầy đủ, tùy duyên ứng hóa, tự tại thần thông.

* Trang 25 *
device

Văn Trần Thanh Tịnh Chứng Viên Thông:
     Tức là khi chúng sanh nghe được tiếng chuông, nhờ thần lực gia trì cuả người đánh chuông, đã biến trần nghe chúng sanh. Thành huệ nghe tự tại. Từ đó, nhĩ căn thanh tịnh, đạt được thần lực viên dung, thông suốt, tự tại, ứng hóa tùy duyên.
Nhứt Thiết Chúng Sanh Thành Chánh Giác:
     Khi đóng tiếng chuông vang đi, nó đã mang theo tâm niệm nguyện cầu cuả người đánh chuông. Tất cả chúng sanh khắp pháp giới, nhờ lãnh hội được pháp âm giải thoát, chứng nhĩ căn viên thông, thành đạt đạo quả vô thượng.
4.   Nguyên do:
     Vì nghiệp lực quá sâu dày, vô minh bao phủ, tình thức hôn trầm, khiến cho chúng sanh mãi triền miên trong phiền não. Trần cấu luôn che đậy, chánh báo, y báo xen lẫn quấn lấy nhau, tạo nên cảnh giới tối tăm mờ mịt. Nên mỗi khi đóng

* Trang 26 *
device

chuông, người tu hành cần nên phát lòng từ bi thệ nguyện, nhờ thần lực gia trì, khiến cho âm thanh như một lời pháp nhũ, vang thấu thiên đường, dội vào địa ngục, các chúng sanh có duyên nghe được, thảy đều bớt khổ, tĩnh giác hồi đầu, nhĩ thức viên thông, chứng vô thượng đạo.
Đức Bồ Tát Quán Thế Âm, khi xưa, tu hạnh nhĩ căn viên thông, nhờ nghe pháp âm mà đi vào pháp tánh, văn trần liền dứt, động tịnh chẳng sanh, bỗng chợt vượt thoát thế gian và xuất thế gian, chứng đạt viên thông, thành bậc chánh giác.

* Trang 27 *
device

     Trong Kinh Tăng Nhất A Hàm có nói: ‘ Khi gõ chuông, nên gởi lòng cầu nguyện cho tội khổ chúng sanh mau được dứt trừ, nhờ nơi nghe mà chứng đạo quả’.
    Ai nghe đánh chuông, dừng lại vọng niệm, thầm đọc bài kệ thì được phước báo vô lượng, trừ được các tội nặng của mình trong 500 ức kiếp sanh tử.

* Trang 28 *
device

 
Tỳ Ni Nhật Dụng Yếu Giải