LOGO VNBET
1.     Phiên âm:
LỄ PHẬT
Thiên thượng thiên hạ vô như Phật
 Thập phương thế giới diệc vô tỷ
Thế gian sở hữu ngã tận kiến
 Nhứt thiết vô hữu như Phật giả
 ÁN PHẠ NHỰT RA HỘC (3 lần)
2.   Dịch nghĩa:
LỄ PHẬT
Trên trời dưới trời không bằng Phật
Mười phương thế giới cũng không kịp
Những gì tôi thấy trên thế gian
Tất cả không ai sánh bằng Phật
ÁN PHẠ NHỰT RA HỘC (3 lần)

* Trang 160 *
device

3.  Yếu giải:
Lễ:
Năm vóc gieo gieo sát đất gọi là lạy.
(5 vóc: 2 tay, 2 chân, đầu).
Hết lòng cung kính. Mỗi vóc gieo xuống là mỗi nguyện  phát ra:
•       Nguyện khi gối mặt tôi đặt xuống đất, khiến cho chúng sanh được Đạo Chánh Giác.
•       Nguyện khi gối trái tôi đặt xuống đất, khiến cho chúng sanh không khởi tà kiến, mà được an ổn trong chánh giác.
•       Nguyện khi tay mặt tôi đặt xuống đất, cũng như Thế Tôn đang ngồi tòa kim cang tay mặt chỉ xuống đất, rung động, hiện điềm lành, chứng Đại Bồ Đề. Tôi nay cũng vậy, cùng các chúng sanh đồng chứng Đạo quả.
•       Nguyện tay trái tôi đặt xuống đất, khiến cho chúng sanh lìa xa ngoại đạo.
•       Nguyện đầu cuả tôi khi đặt xuống đất, khiến các chúng sanh lìa tâm kiêu mạn, phát ý vô thượng, đều được thành tựu vô

* Trang 161 *
device

kiến Đảnh Tướng (tướng thịt trên đỉnh đầu khó thấy).
 
Thiên Thượng Thiên Hạ:
Là trên trời dưới trời. Ở đây chỉ cho mười phương thế giới (Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông Nam, Tây Nam, Đông Bắc, Tây Bắc, Thượng, Hạ).
Vì quả đất của chúng ta hình tròn, đang lơ lững trong không gian, quay theo trục của mình và di chuyển xung quanh mặt trời, cho nên nói trên trời dưới trời chứ không phải nói trên trời dưới đất.

 
Thiên Thượng Thiên Hạ Vô Như Phật:
Là trên trời dưới trời không ai bằng Phật. Ý nói trong ba cõi (dục giới, sắc giới và vô sắc giới) không ai có thể sánh với Phật hơn được. Bởi vì chư thiên thì tuy hỷ lạc nhưng chưa tỏ Phật lý. Còn chúng sanh thì bị vô minh che lấp, không thể soi tỏ gốc nguồn. Chỉ có Phật mới là tối cao trong Trời, tột bậc trong Thánh, thứ nhất trong ba cõi, không ai có thể cao hơn được.

* Trang 162 *
device

Đức Thế Tôn trăm nghìn tướng tốt, muôn đức trang nghiêm, giác ngộ cao tột, muôn đức trang nghiêm, giác ngộ cao tột, mười hiệu đầy đủ.
Thập Phương Thế Giới Diệc Vô Tỷ:
Mười phương thế giới không so sánh với Đức Phật được. Mười phương thế giới chỉ cho vũ trụ, hoàn cầu, trải qua ba đời, quá khứ, hiện tại, vị lai, có Thành, Trụ, Hoại, Không, có biến dịch dời đổi.
Chúng sanh trong Tam Giới (Dục Giới, Sắc Giới và Vô Sắc Giới) còn sanh tử luân hồi, sanh đây tử kia, lên xuống sáu đường (Thiên, Nhơn, A Tu La, Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc Sanh) đầu thai theo nghiệp, dù cho tu đến cõi vô sắc phi tưởng, phi phi tưởng thiên, khi hết phước cũng đọa làm súc sanh đến các cõi. Dù cho Chuyển Luân Thánh Vương , khi mãn kiếp cũng chuyển sanh làm người, làm quỷ, tùy nghiệp lực.
Còn ở thế gian loài người, từ vua chúa cho đến thứ dân, thì cũng khổ vì cơm áo,

* Trang 163 *
device

nhà cửa, ăn uống, đồ nằm, thuốc thang, hương hoa, kỹ nhạc, bảo vật, tiền tài, danh vọng, hơn thua... Tất cả đều là những món biến dịch, có, không, mới, cũ... làm cho tâm họ xao xuyến, băn khoăn, khổ lụy và sa đọa.
Chỉ có Đức Phật với Phật nhãn thanh tịnh không nhiễm ô, mới giác ngộ được trên những thức tánh của mọi pháp hư giả trong mười phương Tam Giới đó. Ví như có người đang bịnh nặng nan y, thì dù cho có đem đờn ca múa hát, vàng ròng, hột xoàn, nhà lầu, xe đẹp, tiền bạc, du lịch cho họ, họ cũng không màng, họ chỉ cần có một điều duy nhất là hết bịnh. Lìa những thứ hư ảo, được thân kim cang, chứng quả Phật thường hằng, vượt ngoài sanh tử mới là hơn hết.

 
Thế Gian Sở Hữu Ngã Tận Kiến
Nhứt Thiết Vô Hữu Như Phật Giả:
Ý nói những gì tôi thấy trong thế gian, tất cả không ai sánh bằng Phật.

* Trang 164 *
device

Thế: là dời đổi, biến dịch, vô thường.
Gian: là cách hở ra, gián đoạn, không liên tục.
Đã là thế gian thì tất cả người và chúng hữu tình sống trong thế gian, từ chính cái sinh mạng (chánh báo) và tất cả những gì xung quanh (y báo) đều dời đổi, duyên hợp, không bền chắc. Làm sao so bì được thân kim cang bất hoại cuả Phật.
Đạo, dạy chúng sanh nương theo, sống đời trong sạch, không tạo ác nghiệp, không bị luân hồi, an lạc giải thoát. Nay chúng ta mỗi lần nhìn thấy tôn dung, liền đem năm vóc gieo sát tận đất, cúi mình đảnh lễ.
 Nguyện noi gương Phật tu hành cho đến khi đạt Đạo Bồ Đề. Vì vậy mỗi khi lễ phật đúng cách, được nhiều công đức. Có bảy cách lễ Phật:

NGÃ MẠN LỄ:
Đến trước bàn Phật mà còn nhớ mình có ngôi thứ lớn, phải đứng trên, lỡ bị kẻ nhỏ

* Trang 165 *
device

 đứng trước thì khi lễ không thanh tịnh. Họ vừa lễ Phật vừa sanh tâm ngã mạn, không nhớ quán chiếu thân mình là giả ngã, duyên hợp tạm bợ, để cung kính quỳ mọp sát đất, tỏ lòng ngưỡng mộ Phật thân bất diệt.

CẦU DANH LỄ:
Tức là lễ Phật vì sự bắt buộc trong buổi lễ. Nếu có người nhìn thì thân nhẹ lạy thấp. Không có người nhìn thì thân nặng, lòng uể oải, tâm xao lãng, nhớ việc khác, mà miệng thì hướng danh hiệu Phật. Lạy mà không quán chiếu, không hết lòng.

THÂN TÂM CUNG KÍNH LỄ:
Nghĩa là nghe xướng danh hiệu Phật, tâm liền tưởng đến bóng dáng của Phật. Thân tâm hòa hợp cung kính khi lạy.

PHÁT TRÍ THANH TỊNH LỄ:
Nghĩa là thấu cảnh giới Phật. Là theo sự nhớ nghĩ của tâm. Mỗi lần lễ một vị Phật nào tức là lễ khắp pháp giới chư Phật.

* Trang 166 *
device

Đây là lễ pháp thân Phật dung thông mười phương như nhau.

PHÁP GIỚI BÌNH ĐẲNG LỄ:
Tức là Phật Tánh thanh tịnh sẵn có trong Phật, trong chúng sanh, thể đồng như nhau.
Tánh Giác Chơn Như ai cũng có. Khi lễ một vị Phật là cảm về Tánh Giác trong tất cả chúng sanh mà ngưỡng mộ, mà an trụ tánh giác của mình.

CHÁNH QUÁN LỄ:
Chiêm ngưỡng tôn dung Đức Phật bên ngoài, nhận ra Phật tánh sãn có của mình ở bên trong. Cái Tánh Giác biết vô phân biệt như nhau. Đó là Bình Đẳng Tánh Giác quán chiếu.

THẬT TƯỚNG BÌNH ĐẲNG LỄ:
Thật Tướng Bình Đẳng của các pháp là Không Tướng, cho nên Ta, người, vật, phàm, Thánh, thể, dụng không hai. Đó là thể Tánh rỗng vắng của muôn sự muôn vật. (Tánh của các pháp là Không Tướng là Tịch Tịnh vắng lặng).

* Trang 167 *
device

Đó là thấy rõ lý Đạo vậy.
Mười Đức Hiệu Cuả Phật:
Đức Phật là vị phước Đức và Trí Huệ vô lượng, từ bi cao cả, bản lãnh tuyệt vời, cho nên được trời người xưng tán qua mười danh hiệu:
•    Như Lai
•    Ứng cúng
•    Chánh biến tri
•    Minh hạnh túc
•    Thiện Thệ
•    Thế gian giải
•    Vô thượng sĩ, điều ngự trượng phu
•    Thiên nhơn sư
•    Phật
•    Thế Tôn
Như Lai:
Tiếng Phạn gọi là ĐA ĐÀ A GIÀ ĐÀ dịch là Như Lai. Đức Phật nương theo cái Thật Tánh Chơn Như mà thành ngôi Chánh Giác nên gọi là Như Lai. Phật là Thật Tánh thường hằng trùm khắp, không

* Trang 168 *
device

từ đâu đến, cũng không đi về đâu nên gọi là Như Lai.
Ứng Cúng:
 Tiếng Phạn gọi là A LA HA, dịch là Ứng Cúng. Nghĩa là đáng thọ lãnh sự cúng dường của Trời người. Bậc Phước Huệ viên mãn, trời người cúng dường ngài sẽ hưởng phước báu vô lượng.
Chánh Biến Tri :
Tiếng Phạn gọi là TAM MIỆU TAM PHẬT ĐÀ. Dịch là Chánh Biến Tri, Chánh Biến Giác. Là bậc sáng suốt cứu cánh chân lý. Rõ biết tất cả thật tướng các pháp.
Minh Hạnh Túc:
Tiếng Phạn gọi là VI ĐA THỨ LA NA TAM BÁT NẠ, dịch là Minh Hạnh Túc. Nghĩa là bậc có Trí Huệ và Đức Hạnh đầy đủ. Minh là Tam Minh, Hạnh là Thiện nghiệp.

* Trang 169 *
device

Thiện Thệ:
Tiếng Phạn gọi là SU GIÀ TA. Dịch là Thiện Thệ. Thiện là tốt lành. Thệ là đi qua luôn không trở lại. Là bậc đi tới bờ kia Niết Bàn, bậc đã làm xong việc cần làm, trọn vẹn độ hạnh nguyện độ chúng sanh, bậc đã qua khỏi vòng sanh tử.
Thế Gian Giải:
Tiếng Phạn gọi là LỘ CA PHAI, dịch là Thế Gian Giải. Là bậc hiểu rõ hành tướng thật tướng của thế gian từ hữu tình đến vô tình, khí thế giới, vạn vật…Cho nên gọi là Thế Gian Tri.
Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu:
Tiếng Phạn gọi là A NẬU ĐA PHÚ LÂU SA ĐÀM MIỆU BÀ LA ĐỀ.
Là bậc cao hơn hết trong hàng chúng sanh, ở đây tôn xưng Phật là bậc đủ sức chế ngự mình để thoát ra khỏi phiền não, còn đối với người thì đầy đủ diệu dụng, trí tuệ, phương tiện để điều phục họ, giáo hóa họ, khiến họ đạt Đạo giải thoát.

* Trang 170 *
device

Thiên Nhơn Sư:
Tiếng Phạn gọi là SÁ ĐA ĐỀ BÀ MA NAO XÁ NAM, dịch là Thiên Nhơn Sư. Phật là bậc thầy giáo hóa cõi trời và cõi người, nhờ nghe và thực hành lời dạy của Phật mà rất nhiều Thiên, Thần, Nhân loại vãng sanh về cõi Phật.
Phật:
Tiếng Phạn gọi là BOUDDHA cũng gọi là Phật Đà. Dịch là Giác Giả (người sáng suốt). Là tiếng để tôn xưng bậc viên giác (giác ngộ hoàn toàn). Là người đã tự mình giác ngộ lại giác ngộ cho chúng sanh. Hai cái hạnh ấy đã làm xong (Giác hạnh viên mãn).
Trong thái dương hệ có vô số thế giới và có vô số Đức Phật. Quả địa cầu của chúng ta gọi là Thế Giới Ta Bà thì có Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là vị Phật hiện tại thứ tư trong số 1000 Đức Phật trong hiện kiếp. Có 1000 Đức Phật thời quá khứ, 1000 đức Phật thời hiện tại và 1000 đức Phật sẽ hiện ra

* Trang 171 *
device

trong tương lai. Phật có ba thân là Pháp Thân, Ứng Thân và Hóa Thân
Thế Tôn:
Tiếng Phạn gọi là BẠC GIÀ PHẠM hay LÔ CA NA THA. Là vị được các thế giới tôn xưng. Vì Phật có đủ đức cho nên được tất cả thế giới (thượng, trung, hạ) trên từ chư Thánh, Tiên, Thần dưới cho đến loài Người, yêu quỷ, địa ngục, súc sanh thảy đều tôn kính cho nên gọi là Thế Tôn.
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni hiện đời, xuất thân từ thái tử, mười chín tuổi xuất gia tầm Đạo, sáu năm khổ hạnh, ba mươi tuổi thành Đạo, tám mươi tuổi nhập Niết Bàn, bốn mươi chín năm hóa Đạo cứu chúng sanh.
Ngài có đủ sáu hạnh Ba La Mật của Bồ Tát, có tứ vô lượng tâm (TỪ, BI, HỶ, XẢ), có ba mươi hai tướng tốt với tám mươi vẻ đẹp (tướng phụ). Một vòng hào quang vàng xung quanh, ngài có bốn điều chẳng sợ (Tứ vô sở úy), có Tứ Nhiếp Pháp (bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự),

* Trang 172 *
device

Có mười tám pháp thần thông (Thập bát bất cộng thần thông Đạo Lực)…
Ba Mươi Hai Tướng Tốt của Đức Phật
1.  Lòng bàn chân bằng thẳng
2. Chỉ  bàn chân có hình bánh xe tròn
3. Ngón tay dài và nhọn
4. Tay chân dịu mềm
5. Trong kẻ tay kẻ chân có da mỏng giăng lưới liền nhau.
6. Gót chân đầy đặn.
7. Mu bàn chân thịt nổi cao đầy đặn
8. Bắp vế tròn đều
9. Khi đứng hai tay dài quá đầu gối
10. Nam căn ẩn kín
11. Thân hình cao lớn và cân phân
12. Lỗ chân lông ánh ra sắc xanh
13. Lông trên mình ngã về bên phải
14. Thân phát sáng màu vàng
15.  Hào quang quanh mình chiếu ra một tằm (1,6 m)
16. Da mỏng và mịn
17. Thịt nơi lòng hai bàn tay, hai bàn chân, hai vai và đỉnh đầu tròn đầy

* Trang 173 *
device

18.     Hai nách đầy đặn không quá lõm sâu
19.     Thân thể oai nghiêm như sư tử
20.     Thân thể ngay thẳng vững vàng
21.     Hai vai tròn trịa cân phân
22.     Có bốn mươi cái răng
23.     Răng trắng, trong, đều nhau và khít
24.     Bốn cái răng cửa lớn đều
25.     Gò má nổi cao như mép sư tử
26.     Nước miếng đủ chất thơm ngọt
27.     Cái lưỡi rộng dài mềm mỏng, le dài đến chân tóc trán
28.     Giọng nói thanh nhã nghe xa như giọng của Phạm Thiên
29.     Con mắt xanh biếc
30.     Long nheo dài đẹp
31.     Có chòm lông trắng thường chiếu sáng, mọc giữa hai chân mày (lông trắng giữa chân mày).
32.     Trên đỉnh đầu có cục thịt nổi cao lên như một búi tóc (vô kiến đảnh tướng) thường phóng hào quang ra.
Ba mươi hai tướng là do phước báo của lòng đại từ bi nhiều đời tu tập và thực

* Trang 174 *
device

hành hạnh bồ tát cứu độ chúng sanh, khiến cho chúng sanh mỗi khi nhìn thấy Phật liền đem lòng tôn kính và hoan hỷ.

* Trang 175 *
device

 
Tỳ Ni Nhật Dụng Yếu Giải