LOGO VNBET
1. Phiên âm:
TRIỂN BÁT
Như Lai ứng lượng khí
 Ngã kim đắc phu triển
Nguyện cúng nhứt thiết chúng
Đẳng Tam Luân không tịch
ÁN TƯ MA MẠ NI TÁ HA (3 lần)
2. Dịch nghĩa:
MỞ NẮP BÌNH BÁT
Bình Bát cuả Như Lai
 Con nay được mở ra
Nguyện cùng với mọi người
Ba Luân đồng vắng lặng
ÁN TƯ MA MẠ NI TÁ HA (3 lần)

* Trang 185 *
device

3.   Yếu giải:
Bát:
Tiếng Phạn gọi là BÁT ĐA LA, dịch là ỨNG LƯỢNG KHÍ. Nói cho đủ là BÌNH BÁT, là vật dùng đựng thức àn trưa (NGỌ TRAI) của Chư Tăng. Xưa Phật còn tại thế, ngài đã chế ra chiếc Bình Bát này để mỗi buổi sáng, ngài cùng Chư Tỳ Kheo đắp y, ôm bình bát đi khất thực. Hiện nay quý sư bên phái khất sĩ vẫn còn đi như vậy.
Nói chung, Phật Giáo Nam Tông như Thái Lan, Tích Lan, Miến Điện… vẫn còn thọ trì bình bát này và chỉ dùng Ngọ Trai ăn ngày một bữa chánh vào giờ Ngọ (từ 11 giờ đến 1 giờ).
Hiện nay Phật Giáo Bắc Tông cũng có thọ trì bình bát lúc đi thọ giới Cụ Túc, cùng với ba y và tọa cụ, nhưng chỉ dùng vào thời gian ba tháng an cư kiết hạ ( từ rằm tháng tư đến rằm tháng bảy âm lịch) nhưng bình bát này nhỏ hơn bình bát của sư Nam Tông.

* Trang 186 *
device

Bình bát có thể làm bằng cây, bằng đất, bằng đồng, bằng thiếc.

Quý  sư mỗi khi muốn đi khất thực thì mở nắp bình bát, ôm trước bụng, đi rảo các nhà, các phố, để gieo duyên cho các tín chủ, phát bồ đề nguyện với bóng dáng Đức Phật khi xưa, cùng để cung dưỡng người tu hành. Sau khi đã thấy đầy bát,  quý sư liền đậy nắp bình lại, đi trở về tinh xá hoặc nơi gốc ấy thọ trai lúc 12 giờ trưa (giữa ngọ).

Mỗi vị Tỳ Kheo khi đăng đàn thọ giới, Hoà Thượng trao cho một cái bình bát (chỉ có một cái thôi, chừng nào bị bể mới được truyền cho cái khác). Lúc thọ lãnh bát, nhà sư phải nguyện ba lần kệ chú:

Thiện tai Bát Đa La
Như Lai ứng lượng khí
Phụng trì dĩ tư thân
Trưởng dưỡng trí huệ mạng
 ÁN CHỈ RỊ CHỈ RỊ PHẠ NhỰT
 RA HỒNG PHẤN TRA. (3 lần)

* Trang 187 *
device

(Lành thay Bát Đa La
 Đồ ứng lượng của Phật
 Tôi nay giữ nuôi thân
 Thêm lớn trí huệ mạng
 ÁN CHỈ RỊ CHỈ RỊ PHẠ NHỰT
 RA HỒNG PHẤN TRA) (3 lần)

Và mỗi khi cầm bình bát đi khất thực hoặc dâng bát lên cúng dường, nhà sư đọc kệ chú như sau:

Chấp trì ứng khí
Đương nguyện chúng sanh
Thành tựu pháp khí
Thọ thiên nhơn cúng
ÁN CHỈ RỊ CHỈ RỊ PHẠ NHỰT
RA HỒNG PHẤN TRA (3 lần)

(Khi tay nâng bát
Nên nguyện chúng sanh
Trở thành pháp khí
Nhận trời người cúng
ÁN CHỈ RỊ CHỈ RỊ PHÁ NHỰT
RA HỒNG PHẤN TRA (3 lần)

* Trang 188 *
device

Như Lai Ứng Lượng Khí:
Dụng cụ đựng thức ăn vừa đủ (ứng lượng). Theo Tứ Phần Luật: Thưở xưa, Đức Phật dạo đến nướcTÔ MA, thấy ở nước ấy bùn đất mịn nhuyễn, Phật bèn lấy đất tự nắn hình cái bát, phơi rồi đưa cho thợ gốm đốt khô, màu sắc sáng láng, tròn trịa tốt đẹp. Từ đó về sau, chư tăng thọ trì bát này. Đây là thứ pháp khí của Phật truyền thọ, các thứ ngoại đạo đều không biết tên. Chỉ có Đức Như Lai mới áp dụng bát này mà thôi.
Ngã Kim Đắc Phu Triển:
Con nay được mở ra.
Chiếc bình bát của Đức Như Lai truyền thừa vô cùng tôn quý, con nay nhờ có thiện căn phước đức nhân duyên thọ Giới Cụ Túc, nên mới mở được pháp khí này, nhờ vậy mà trong cuộc đời tu hành được đầy đủ vật thực nuôi mạng.
Nguyện Cúng Nhứt Thiết Chúng:
Nguyện dâng cúng những vật thực trong bình bát này đến tất cả.

* Trang 189 *
device

Người đời mỗi khi thọ thực, họ liền ăn mà không cần nhớ đến ai. Nhưng ngược lại, một vị Tỳ Kheo mỗi khi thọ thực, quý sư chấp tay đọc kệ cúng dường đến mười phương chư Phật, chư Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng quá khứ hiện tại vị lai. Sau đến cúng dường pháp giới hữu tình, cúng Đại Bàng Kim Xí Điểu, chúng Quỷ Thần, Quỷ Tử Mẫu. Sau cùng lưu phạn (sớt bớt cơm ra) để chừa lại bố thí cho loài kiến, gián…ăn
Tam Luân:
Có nghĩa là ba vòng, ba lãnh vực cấu kết với nhau khó thể riêng rẽ. Khi một trong ba vòng không có thì hai vòng kia đều không. Tam Luân ở đây là nói về sự cúng dường bố thí có ba:
•        Người bố thí cúng dường
•        Vật thực đem ra cúng dường bố thí
•        Người thọ nhận vật cúng thí
Không tịch:
Là trống không, vắng lặng.

* Trang 190 *
device

Không có các tướng, không có bóng dáng pháp trần trong tâm, gọi là Không. Rỗng rang, tự nhiên, vắng lặng bóng dáng pháp trần trong lòng gọi là Tịch.
Đẳng Tam Luân Không Tịch:
Ba vòng đều rỗng vắng.
Kinh Kim Cang nói: “Một khi đem vật gì bố thí, phải hiểu rằng người muốn bố thí, vật đem ra thí và người được thọ nhận vốn Không, thì trong lòng kẻ cúng thí không còn chứa bóng dáng: ta là người đem vật ấy cúng thí cho ai. Vì không bóng dáng nên tâm rỗng rang,vắng lặng, tịch tịnh".
•     KHÔNG NGƯỜI THÍ:
Người cúng thí này thấu rõ thân ta vốn không (không tướng, biến dịch, hoại diệt) đã biết không ta thì không lòng mong cầu phước báu. Kể như không thấy rằng mình bố thí, bố thí mà không để ý rằng mình bố thí tức là Bố Thí Ba La Mật.

* Trang 191 *
device

•    KHÔNG VẬT THÍ :
Các pháp trên thế gian đều là duyên hợp giả có, chúng không có thật tướng (vì biến đổi, hư, hoại).
Người bố thí nên nhìn thấy của cải, vật thực… giả có, vốn không, cho nên dù đem ra cúng thí, kể như không có món gì hết. Tâm họ không nhớ đến vật này là do ta đem cúng thí, cho nên lòng rỗng rang, không tịch.
•    KHÔNG KẺ THỌ THÍ:
Một khi đã rõ không có ta hay cúng thí, không có vật gì đem cúng thí, thì người nhận vật ấy cũng không.
Khi muốn thực hành cúng thí thì phải có đủ ba yếu tố: người hay cúng thí, vật đem cúng thí và người thọ nhận vật cúng thí. Khi một trong ba yếu tố đã Không, thì tất cả đều Không, cho nên gọi là Đẳng Tam Luân Không Tịch.

* Trang 192 *
device

 
Tỳ Ni Nhật Dụng Yếu Giải