LOGO VNBET
1. Phiên âm:
 THỌ THỰC
Nhược kiến không bát
 Đương nguyện chúng sanh
Cứu cánh thanh tịnh
 Không vô phiền não
Nhược kiến mãn bát
Đương nguyện chúng sanh
Cụ túc thạnh mãn
Nhứt thiết thiện pháp
2.  Dịch nghĩa:
THỌ TRAI (Ăn NGỌ)
Khi thấy bát không
Nên nguyện chúng sanh

* Trang 193 *
device

Rốt ráo trong sạch
 Không còn phiền não
Khi thấy bát đầy
Nên nguyện chúng sanh
 Chứa đựng đầy đủ
Tất cả pháp lành
3. Yếu giải:
Thọ Thực:
Thọ tức là lãnh nạp thức ăn.
Thực tức là nuốt vào, ăn vào bụng.
 Thực còn có nghĩa là đầy chắc, thức ăn làm đầy chắc bao tử, để tránh cái trạng thái đói rỗng, để đủ sức tiến tu đạo nghiệp.Kinh dạy: “Thân nương thực mà vững, mạng nhờ thực mà còn”. Khi được đổ ẩm thực trôi vào lục phủ ngũ tạng, thấm nhuần năm vóc, bổ ích da thân, khiến cho tâm an, dễ dàng tiến tu Đạo nghiệp. Nhưng phải vừa đủ (ứng lượng) không nên tham đắm quá độ. Chư Tỳ Kheo thọ thực bắt tréo chân (kiết già, bán già) đắp

* Trang 194 *
device

y, trải khăn trên đầu gối (sợ cơm đổ trên y) quán chiếu mà ăn.
Đức Phật dạy các Tỳ Kheo nên dùng bát mà thọ thực, là để khác với ngoại đạo. Vì ngoại đạo kết lá làm đồ đựng, lấy tay bốc mà ăn, chẳng phải dáng dấp Sa Môn, khoát y ruộng phước. Vì vậy, Bát là cờ nêu cuả hằng sa chư Phật, chẳng phải đồ dùng ở LĂNG MIẾU hoặc thần linh.

Nhược Kiến Không Bát:
Là khi nhìn bát trống.
Bát không tức là cái Bình Bát trống rỗng, thanh tịnh, không có một thức ăn nào bên trong. Cũng ví như Tâm Không, tức là tâm không có một bóng dáng pháp trần phiền não nào cả.

 
Cứu Cánh Thanh Tịnh:
Là rốt ráo trong sạch.
Cứu Cánh là rốt ráo, là tột ý.
Đối với hàng Thanh Văn, Duyên Giác thì hạnh sạch đã xong, đắc quả A La Hán mới gọi là rốt ráo.

* Trang 195 *
device

Đối với hàng Bồ Tát, thì tột đến Vô Thượng Bồ Đề (quả Phật) mới gọi là rốt ráo.
 
Không Vô Phiền Não:
“Không Vô” ở đây là trong cái không mà có Cái Chẳng Không ở trong đó (CHÂN KHÔNG DIỆU HỮU). Tất cả toàn do Thật Tánh hiển lộ. Lấy cái tướng Bát Không mà cảm cái lý Thể Tánh.

Như trong kinh Hoa Nghiêm nói: “nếu người nảo muốn biết cảnh giới Phật (chân không mầu nhiệm) phải lắng sạch cái ý (hết những bóng dáng pháp trần hiện ra trong ý thức) khiến cho tâm thể trong như hư không, chẳng nhiễm phiền não, đó là đạt được trạng thái Đẳng Giác, Chân Như Thường Tịch mà chiếu soi, đầy đủ diệu dụng.

Ví dụ như trong bầu không gian có chứa bụi đất, khói, gió lẫn lộn. Một khi bụi, khói rơi tan, lặng xuống, thì còn lại bầu hư không trong veo. Chúng ta cứ tưởng

* Trang 196 *
device

bầu hư không trong trắng không có cái gì, nhưng thật ra trong đó có màu sắc, có nước, có lửa, có tiếng nói, có các khí, có hạt nhân (+) và (-) ... Nếu một khi ta bắt đúng tần số, chúng sẽ hiển lộ ra, vì vậy mà chúng ta có tivi, telephone, fax, internet, chương trình không gian, khí oxy, khí hydro… Chúng ta chỉ cần bấm một cái là tiếng nói từ xa, vòng quanh trái đất bay thẳng lên trạm không gian và các hạt nhân cấu kết ra tiếng nói, truyền vào máy của ta liền trong tích tắc (Chân không diệu hữu).

Cũng ví như trong Thật Tánh cuả ta, khi đã lắng trong, thì thật vô cùng sáng suốt, mầu nhiệm, vô lượng quang, vô lượng thọ và vô lượng công đức, không thể nghĩ bàn.

Nhược Kiến Mãn Bát:
 
Khi thấy bát đầy.
Khi nhìn thấy đầy thực phẩm trong bát, như gặp được chất cần đủ để giúp thân có sức khỏe, để nuôi mạng sống hành Đạo.

* Trang 197 *
device

Không nên tham đắm ăn uống, không nên tham nhiều, cần phải thiểu dục tri túc, tránh xa tư tưởng mong cầu những thức ăn ngon.
Cụ Túc Thạnh Mãn
 Nhứt Thiết Thiện Pháp:
Thức ăn là để trợ thân nuôi mạng. Cũng giống như các pháp lành đầy đủ trong tâm để nuôi lớn trí tuệ, trưởng dưỡng mối Đạo.
Phải xem chỗ cơm và thức ăn đem đến, mỗi hột mỗi món đều từ tín thí mà có ra. Tất cả các pháp lành từ lòng quán chiếu mà sinh ra. Vì vậy Chư Tăng, Ni khi thọ thực cần phải giữ hạnh sạch thì người cúng thí mới được phước báu đầy đủ. Cũng giống như hạt giống thành cây, cây lại trổ hoa, hoa kết thành trái, viên mãn phạm hạnh.
Trước khi thọ thực, phải niệm cúng dường. Tay trái bắt ấn (Tam Sơn Ấn), đặt bình bát lên và dâng lên ngang chân mày, tay phải bắt ấn (Cam Lộ Ấn) tựa vào miệng bình

* Trang 198 *
device

bát,  cái muỗng cắm vào thức ăn xoay ra ngoài trước và đọc bào cúng dường.

Người tu sĩ cần ăn là vì tu Đạo, chẳng phải ăn vì bổ dưỡng thân, cho nên khi ăn trước phải dâng cúng Tam Bảo, sau cúng thí bốn loài chúng sanh.

Sở dĩ Phật dạy, dâng bình bát lên ngang chân mày là có hai dụng ý: một là thân hình chúng ta do tạp uế hôi hám của nghiệp thức cha mẹ tạo ra, sợ rằng hơi hôi trong miệng và mũi chạm vào thức ăn sạch, không thể dâng cúng Phật và Bồ Tát được. Hai là e rằng để thức ăn ngang mắt, sẽ sanh tình kiến chúng sanh, phân biệt ngon dở, khiến khởi lòng khen chê, ba độc tham sân si bừng khởi trong khi cúng. Kế đó, dùng tay phải bắt ấn, đặt dựa miệng bình bát trong lúc dâng cúng là ý ngăn hơi dơ từ miệng, mũi bay vào bát cơm.

Về bình bát đựng cơm, Đức Phật đã chế ra ba loại từ nhỏ đến lớn, tùy tạng người tu sĩ lớn nhỏ, vừa với sức thọ thực của một người, nên gọi là ứng lượng khí:

* Trang 199 *
device

  • Bát thượng: Cỡ lớn
  • Bát trung: Cỡ vừa
  • Bát hạ: Cỡ nhỏ
 Bình bát có thể làm bằng sành (đất) hoặc bằng thiếc (nhôm), không cho làm bằng đồng. Tầm cỡ lớn nhỏ đo theo “đấu” bên Trung Hoa. Ở Việt Nam thì cũng có lớn nhỏ, nhưng tùy lượng.

Vả lại, bát là món nêu đặc biệt của chư Phật, là vật tăng ích cho Tam Bảo, nên bát có đủ sáu đức: Bát là món hay trong, hay chứa, hay kiệm, hay rộng, hay tôn, hay xưa.
Đức Phật dạy rằng, sở dĩ Bình Bát
•    Hay Tôn là do cõi trời cúng dường
•    Hay Rộng là lợi ích khắp tất cả
•    Hay Kiệm là quá ngọ chẳng ăn
•    Hay Chứa là cúng thí món dỡ, ngon đều bình đẳng
•    Hay Trong là người đời không ai bỏ vô đồ mạng cúng
•    Hay Xưa là do chính Đức Phật truyền bát cho đệ tử.

* Trang 200 *
device

 
Tỳ Ni Nhật Dụng Yếu Giải