LOGO VNBET
1.      Phiên âm:
XUẤT SANH
Pháp lực bất tư nghì
Từ bi vô chướng ngại
Thất liệp biến thập phương
 Phổ thí châu Sa giới
 ÁN ĐỘ LỢI ÍCH TÁ HA (3 lần)

Đại bàng kim xí điểu
Khoáng dã quỷ thần chúng
La sát quỷ tử mẫu
Cam lồ tất sung mãn
ÁN MỤC ĐẾ TA HA (3 lần)

* Trang 201 *
device

2.    Dịch nghĩa:
BAN RA CHO CHÚNG SANH
Pháp lực chẳng nghĩ bàn
 Từ bi không chướng ngại
 Bảy hột khắp mười phương
Ban cho tất cả cõi
ÁN ĐỘ LỢI ÍCH TÁ HA (3 lần)

Chim Đại Bàng cánh vàng
 Chúng quỷ thần đồng nội
Mẹ con quỷ La Sát
Cam Lộ đều no đủ
ÁN MỤC ĐẾ TA HA (3 lần)
3.   Yếu giải:
Xuất Sanh:
Là ban cơm cho chúng sanh được no. Xưa, chim Đại Bàng cánh vàng, các loại quỷ thần và mẹ con quỷ La Sát bị đói. Vì thọ giới quy y, không sát sanh, nên Đức Phật dạy hàng đệ tử, khi ăn cơm, trước phải lấy bảy hạt chú nguyện, biến hóa ra đầy khắp hư không, để cho chim và quỷ

* Trang 202 *
device

thần ăn mỗi ngày. Nếu chư Tỳ Kheo ăn mà không thí thì quên lời Phật dạy. Cho nên, xuất sanh có nghĩa là “Ban Ra Cho Nó Sống Còn” cái mạng
Pháp Lực Bất Tư Nghì:
Pháp lực tức là sức pháp.
Bất tư nghì là không thể dùng tâm suy nghĩ cho tới, không thể dùng miệng mà tán thán cho tột.
Thần lực của bài kệ chú khiến cho bảy hạt cơm biến thành vô số, đầy khắp hư không và mọi nơi chốn, đủ cho các loài được no, bảo toàn thân mạng của nó, cái diệu dụng đó khó có thể suy nghĩ và bàn luận cho tột được.
Tư Bi Vô Chướng Ngại:
“Từ năng dữ nhứt thiết chúng sanh chi lạc Bi năng bạt nhứt thiết chúng sanh chi khổ”. Vì vậy, do lòng từ, ban cơm khiến cho chúng trừ đói khổ. Phát lòng từ bi vừa cho cơm vừa gửi lời chú nguyện, để giải

* Trang 203 *
device

 trừ ngăn ngại về sự ăn uống trong các loài ngạ quỷ. Vì loài ngạ quỷ bị ba thứ chướng ngại nên rất khổ vì đói khát, đó là ngoài ngăn và không ngăn (ba chướng ngại).
NGOÀI NGĂN:
Có những loài ngạ quỷ luôn bị đói khát, không gặp thức ăn, cho nên da thịt teo ốm, huyết mạch khô khan,đầu tóc rối nùi, mặt mũi đen đúa, miệng môi cháy khổ. Chúng thường lấy lưỡi tự liếm mặt mình. Luôn luôn sợ sệt, vì cảm thấy đói quá nên chạy rong đi kiếm thức ăn. Khi khát quá, chúng đến giếng ao, nhưng khi mắt nhìn thấy nước thì nước biến thành màu đỏ, muốn uống mà không được, gọi là ngoài ngăn.
TRONG NGĂN:
Có những loài ngạ quỷ (quỷ đói) bụng to như cái trống, miệng lớn như cây đuốc, nhưng cổ nhỏ như cọng chỉ. Dù gặp thức ăn cũng không thể nuốt vào cho đầy bao tử, nên chúng lúc nào cũng đói khát khổ

* Trang 204 *
device

sở. Do bị thân chướng làm đói nên gọi là trong ngăn.
KHÔNG NGĂN:
Có những loài ngạ quỷ được đầy đủ thức ăn và thần cũng bình thường như người. Sự nhai nuốt không bị chướng ngại, nhưng mỗi khi thức ăn vừa đưa vào miệng, liền bốc thành lửa cháy ra tro bụi. Vì vậy, loài quỷ này còn có tên là Tràng HoaTràng Hoa Cháy Rực. Chúng thường bị nóng, cháy, đói khát, rất đau khổ.
Thất Liệp Biến Thập Phương
 Phổ Thí Châu Sa Giới:
Vào mỗi buổi trưa, chư Tỳ Kheo thọ thực, dùng bảy hạt cơm chú nguyện. Do sức từ bi này mà ba loài ngạ quỷ lúc đó không bị đói, cái cổ lớn ra, lửa không cháy, có cơm ăn. Chỉ cần bảy hột, hóa ít thành nhiều, khắp đầy tất cả mười phương, cúng thí cho:
•              Chim Đại Bàng cánh vàng
•              Mẹ con quỷ La Sát

* Trang 205 *
device

•      Chúng quỷ thần đồng nội
Khi vị chủ trì Quá Đường lấy chung nước nhỏ, để vào bảy hạt cơm, vẽ chữ ÁN LAM  kiết ấn cam lồ trên miệng chung nước thầm đọc.

Pháp lực bất tư nghì
Từ bi vô chướng ngại
Thất liệp biến thập phương
 Phổ thí châu Sa giới
 Quỷ tử mẫu khoáng dã
 Thần Kim Xí điểu vương
 Tất linh giai bảo mãn
ÁN ĐỘ LỢI ÍCH TÁ HA (3 lần)

Kế đưa thị giả đem ra bàn cúng và đọc:
Đại Bàng kim xí điểu
Khoáng dã quỷ thần chúng
La sát quỷ tử mẫu
Cam Lồ tất sung mãn
ÁN MỤC ĐẾ TÁ HA (3 lần)

Kim Xí Điểu Vương :
Là con chim vua lông vàng (chim Đại Bàng cánh vàng) rất là to lớn, tên là chim

* Trang 206 *
device

Chánh Âm, vui sướng thong thả và có oai lực tự tại, bay khắp bốn châu thiên hạ. Chuyên ăn thịt rồng, mỗi ngày ăn một rồng chúa và 500 rồng nhỏ.
Khi xưa chim vua cánh vàng và loài rồng đều đủ bốn thứ: noãn sanh, thai sanh, thấp sanh và hóa sanh.
Theo kinh Lầu Thán, Đức Phật nói: “Bốn loại chim cánh bắt ăn bốn loài rồng hằng ngày, nhưng không thể ăn thịt những ai đã thọ Tam Quy Y với Phật”.

*  Chim Đại Bàng cánh vàng noãn sanh (sanh từ trứng) chỉ ăn loài rồng noãn sanh. Mỗi khi đói, chim bay xuống biển, nó dùng cánh quạt, mặt nước vẹt ra rộng 200 do tuần (16000m x 200 = 3.200.000 m), bắt rồng để ăn.

*  Chim Đại Bàng cánh vàng thai sanh (sanh ra từ bào thai) ăn được hai loại rồng thai sanh và noãn sanh. Nó dùng cánh, quạt mặt nước vẹt ra rộng 400 do tuần (16.000m x 400 = 6.400.000m) bắt rồng để ăn.

* Trang 207 *
device

*  Chim Đại Bàng cánh vàng thấp sanh (sanh ra từ nơi ẩm ướt) ăn được cả ba loại rồng là noãn sanh, thai sanh và thấp sanh. Nó dùng cánh, quạt mặt nước rộng ra 800 do tuần (16.000m x 800 = 12.800.000m) bắt rồng để ăn.

*  Chim Đại Bàng cánh vàng hóa sanh (sanh ra bằng cách hóa thân, ví dụ: sâu biến ra bươm bướm, nòng nọc biến ra nhai, lăng quăng biến ra muỗi...) ăn được bốn loài rồng: noãn, thai, thấp, hóa. Nó dùng cánh, quạt mặt nước rẽ ra, rộng 1.600 do tuần (1.600 m x 1600 = 25.600.000m) để bắt rồng ăn thịt.
Lúc bấy giờ rồng chúa quá lo sợ, bèn bay đến bạch với Đức Phật cầu xin cứu giúp. Đức Thế Tôn bèn đưa cho chiếc y đang mặc trên mình và bảo rồng chúa rằng: “Ngươi đem y này về, tháo ra từng sợi chỉ nhỏ, chia đều cho rồng, mang vắt trên mình, chim Đại Bàng thấy sợi chỉ sẽ không dám bắt.
Từ đó chim Đại Bàng bị đói vì không thể bắt rồng, bèn bay đến bạch Phật. Đức

* Trang 208 *
device

 Phật bảo phải quy y và giữ năm giới, không được sát sanh.
Như Lai đã dạy các vị Sa Môn Thích Tử (Tỳ Kheo) mỗi trưa dùng ngọ, trước lấy ra bảy hạt cơm, đọc kệ chú nguyện, biến hóa đầy khắp mười phương cơm trắng (ăn chay) chim tha hồ no đủ do chư Tỳ Kheo cúng thí cho.

 
Khoáng Dã Quỷ Thần Chúng:
Chúng quỷ thần đồng trống. Đây là loại quỷ thần có thần lực, chuyên môn ăn thịt người. Theo kinh Đại Bát Niết Bàn: Một hôm Đức Phật đi khất thực, đến dưới gốc cây thọ thực, thấy ở đó có một con quỷ tên là Khoáng Dã Quỷ (quỷ nương nơi đồng nội,  cây cối mà ở) toàn dùng máu và thịt làm món ăn uống, mỗi ngày vào làng, hiện ra ban đêm bắt ăn một người, dân chúng kinh sợ.
Đức Phật dùng pháp khuyên bảo mà quỷ không nghe, vẫn còn bắt người ăn thịt. Phật bèn hóa thân thành quỷ Đại Lực, rung chuyển cung điện của nó, khiến nó mê

* Trang 209 *
device

man, Phật lấy tay vuốt ve nó, khi nó tỉnh dậy thấy Phật, phát lòng tin ưa. Phật bèn thuyết pháp nhân quả cho nghe và bảo nó nên giữ giới không sát sanh. Quỷ nói: “Con và quyến thuộc chỉ nhờ máu thịt mà ăn, nếu giữ giới không sát sanh, làm sao nuôi mạng sống”.
Đức Phật bảo nó rằng: “Từ nay mỗi trưa giờ ngọ,  các đệ tử của ta thọ trai, có cúng thí cho các ngươi một phần cơm (bảy hạt biến hóa vô số cơm chay), hãy đến đó sẽ được no đủ”.
Quỷ Khoáng Dã và quyến thuộc liền quy y thọ năm giới làm đệ tử của Phật.

 
La Sát Quỷ Tử Mẫu :
Là mẹ con quỷ La Sát. Tức là bà mẹ cuả 1000 quỷ La Sát con, còn gọi là bà mẹ quỷ vương. Tiếng Phạn gọi là La Sát dịch là Quỷ Lẹ Lẹ.
Theo kinh A Hàm thì tiền thân của quỷ mẹ này là vợ của một người chăn trâu, tánh tình sân si hung dữ. Do nghèo cùng làm thuê làm mướn cho người, gặp

* Trang 210 *
device

Chuyện không vừa ý, bèn sanh giận dữ, nguyện sẽ ăn thịt đồng nam, đồng nữ trong thành Vương Xá.
Vì ôm lòng độc ác, nên sau khi chết, bà liền sanh trong loài quỷ Dược Xoa thần thông, có ngàn đứa con, mỗi đứa con đều làm chúa quỷ, thống lãnh mấy chục ngàn quỷ dân. Năm trăm đứa làm quỷ vương ở cõi trời, thường quấy nhiễu chư Thiên. Năm trăm đứa làm quỷ vương ở cõi ta bà, thường quấy rối dân làng, bắt đồng nam, đồng nữ ăn thịt. Mọi người vô cùng lo sợ, liền đến cầu cứu với Đức Phật. Đức Phật bèn dùng thần thông bắt đứa con út của mẹ quỷ La Sát tên là Ái Nhi. Bà mẹ quỷ La Sát mất con, đau khổ tìm kiếm khắp nơi mà không thấy, bà ta liền tìm gặp Tứ Đại Thiên Vương, thì được ngài Tăng Trưởng Thiên Vương coi sóc cõi Ta Bà cho biết con cưng của bà đang bị Phật bắt. Mẹ quỷ La Sát liền đến chỗ Phật oán trách tại sao Phật nỡ bắt con của bà, nỡ làm mẹ con xa cách và làm bà quá đau khổ. Đức Phật nói rằng: “Nhà ngươi có

* Trang 211 *
device

đến ngàn đứa con, chỉ mất có một đứa mà ngươi đau khổ, thương nhớ. Còn người đời họ chỉ có vài đứa con mà bà lại bắt ăn thịt thì họ đau khổ nhường nào”.
Đức Phật thuyết pháp, giáo hóa và trả quỷ con lại, với điều kiện là cải tà quy chánh, thọ Tam Quy Y và giữ năm giới cấm. Mẹ quỷ La Sát thưa rằng: “Bọn quỷ mẹ con cuả con chỉ ăn thịt người để sống, nay thọ giới không sát sanh, mẹ con của con ăn gì để sống”.
Đức Phật dạy: “Khi các Tỳ Kheo thọ thực buổi ngọ, có xuất ra cơm cúng thí, hãy đến đó, sẽ được no đủ”.

* Trang 212 *
device

 
Tỳ Ni Nhật Dụng Yếu Giải