LOGO VNBET
1.  Phiên âm:
THỊ GIẢ TỐNG THỰC
Nhữ đẳng quỷ thần chúng
Ngã kim thí nhữ cúng
Thử thực biến thập phương
Nhứt thiết quỷ thần cộng
ÁN MỤC LỤC LĂNG TÁ HA (3 lần)
2. Dịch nghĩa:
THỊ GIẢ ĐEM THỨC ĂN ĐI CÚNG
Hỡi các chúng quỷ thần
Tối nay cúng các ngươi
Cơm này đến mười phương
Tất cả cùng chung hưởng
ÁN MỤC LỤC LĂNG TÁ HA (3 lần)

* Trang 213 *
device

3.   Yếu giải:
Thị Giả: Là vị đệ tử theo hầu. Còn gọi là:
•       Cấp thị đệ tử
•       Cấp sử tả hữu
•       Thị sử nhơn
Thị giả là người có đủ tư cách, sức khỏe, thông thạo mọi việc, thường gần gũi, đầy đủ lòng tin với thầy, tinh tấn cần cầu chánh pháp, khiêm hạ, chánh niệm, có thể thành tựu ý chỉ của thầy.
Mỗi Đức Phật khi đi nơi này đến nơi khác, thường có một vị đệ tử làm thị giả, hoặc một vị Bồ Tát theo hầu. Những vị có nhiều nhân duyên phước đức, đã từng gần gũi, liên hệ với một đức Phật trong hiện kiếp trước, mới được cái hân hạnh làm thị giả của đức Phật ấy. Như ngài A Nan là thị giả của Đức Phật Thích Ca, ngài Thiện Hữu Lập Quân là thị giả của Đức Phật Ca Diếp, ngài An Hòa Tử Đạo Sư là thị giả của Đức Phật Câu Na Hàm Mâu Ni…
Nhờ làm thị giả, nên ngài A Nan được gần gũi Đức Phật hơn ai hết và nghe

* Trang 214 *
device

giảng toàn bộ kinh điển của Đức Phật. Và sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn, ngài A Nan đã tuyên đọc lại tất cảTạng Kinh trong thời kỳ Kết Tập Kinh Điển.
Theo quyển “Bồ Tát Tùng Đâu Suất Hạ Sanh Kinh” bực Thị Giả có đủ tám pháp:
•   Tín căn kiên cố: có lòng tin bền vững
•   Kỳ tâm mịch tấn: giữ tâm tinh tấn cầu Đạo.
•   Thân vô bịnh: thân thể không có bịnh.
•   Tinh tấn: luôn luôn cầu tiến không ngừng
•   Cụ niệm tâm: đủ lòng chánh niệm
•   Tâm bất kiêu mạn: giữ lòng khiêm cung, không tự cao, kiêu mạn.
•   Năng thành định ý: có khả năng thi hành ý định của thầy mình.
•   Cụ tục văn trí: nghe nhiều, hiểu rõ và nhớ dai.
Theo Kinh Niết Bàn có chép:
Sau khi thành Phật đã ba mươi năm, Đức Phật Thích Ca có ý chọn ngài A Nan làm thị giả, ngài A Nan có đưa ra bốn điều

* Trang 215 *
device

thỉnh cầu, nếu Đức Phật chấp thuận, ngài An Nan mới chịu làm thị giả:
1.  Không mặc quần áo cũ cuả Đức Phật cho.
2.  Nếu tín chủ thỉnh Phật cúng dường riêng thì A Nan không đi theo hầu.
3.  Ngài A Nan có thể đi vào phòng Đức Phật bất kỳ giờ nào.
4.  Những bài thuyết pháp trên cõi trời hoặc ở Long Cung mà ngài A Nan không thể đi theo, thì Đức Phật phải nói lại cho A Nan nghe sau khi trở về.
Cũng trong Kinh Niết Bàn, Đức Phật đã nói với ngài Văn Thù Sư Lợi về tên của những thị giả hầu các Đức Phật thời quá khứ như:
■  Ngài A Thúc Ca là thị giả cuả Đức Phật Tỳ Bà Thi
■  Ngài Sai Ma Ca La là thị giả cuả Đức Phật Thi Khí
■  Ngài Ưu Bà Phiến Đà là thị giả cuả Đức Phật Tỳ Xá Phù
■  Ngài Bạt Đề là thị giả cuả Đức Phật Ca La Cưu Thôn Đại

* Trang 216 *
device

■  Ngài Tô Trì là thị giả cuả Đức Phật Ca Na Mâu Ni.
Tống Thực:
Là bưng thức ăn đi cúng thí.
Sau khi vị thầy Cả lấy bảy hạt cơm để vào chung nước, kiết ấn, thầm đọc kệ chú, liền đưa cho vị thị giả bưng đến bàn Quỷ thần, đọc kệ chú, cúng thí:

 Đại bàng kim xí điểu
 Khoáng dã quỷ thần chúng
La sát quỷ tử mẫu
Cam Lồ tất sung mãn
 ÁN MỤC ĐẾ TÁ HA (3 lần)

Nhữ đẳng quỷ thần chúng
Ngã kim thí nhữ cúng
Thử thực biến thập phương
Nhứt thiết quỷ thần cộng
ÁN MỤC LỤC LĂNG TÁ HA (3 lần)

Đáng lẽ ra thì vị thầy Cả phải tự mình đi cúng, nhưng nếu vị thầy Cả đứng dậy đi thì Đại Chúng ắt hẳn phải đứng dậy, làm xáo

* Trang 217 *
device

trộn, không an, nên phải khiến vị thị giả thay thế bưng đi cúng.
 
Nhữ Đẳng Quỷ Thần Chúng:
Các ngươi chúng quỷ thần.
Các ngươi là chỉ cho ba thứ:
■            Chim Đại Bàng cánh vàng
■            Các loài quỷ thần
■            Mẹ con quỷ La Sát

QUỶ (QUỈ):
Là những linh hồn. Là ủy mị, chẳng thật thà, là nhiều sợ hãi, là mong cầu ẩm thực để nuôi mạng. Loài quỷ có ba thứ:
■            Thứ mang nhiều nghiệp tội rất nặng, nhiều kiếp đói khát, không được ăn uống, chết xuống sanh lên khổ não bứt bách (ngạ quỷ) liên tục.
■            Loài quỷ rình cầu người sống, rửà bỏ máu mủ, phẩn uế ở phòng cầu tiêu để ăn.
■            Loài quỷ bữa đói bữa no.
Những chúng sanh có nhiều bỏn xẻn, keo kiệt, tham lam, thường đọa làm loài quỷ.

* Trang 218 *
device

Loài quỷ còn có hai hạng: hạng có oai đức và hạng không có oai đức.
*           Hàng quỷ có oai đức, tuy hình thù xấu xí, nhưng cũng có nhà cửa, đền đài, ẩm thực no đủ, thường giúp đỡ chùa chiền, hầu hạ Diêm Vương ở địa ngục. Người đời thường gọi hạng này là quỷ thần. Tuy bị quả báo làm quỷ, nhưng nhờ có chút thiện căn, nên được chút ít thế lực.

*           Hạng quỷ không có oai đức thì dơ bẩn, tồi tàn, lang thang đầu đường cuối xóm. Muốn ăn chẳng có mà ăn, khát nước chẳng có mà uống, đói khổ, trăm điều bức bách, lạnh lẽo, chẳng có tấm áo che thân, cam ở chui rút những nơi dơ dáy, hôi hám, trong tâm thường tham lam, buồn giận và si mê, chưa từng biết giác ngộ bao giờ.

THẦN:
Có nghĩa là năng lực. Hạng lớn có thể lấp biển dời sông. Hạng nhỏ có thể ẩn hiện biến hóa. Tiếng Phạn còn gọi là A Tu La, là một trong lục đạo chúng sanh. Có hạng

* Trang 219 *
device

thần hiền, cũng có hạng thần dữ. Thần hiền thì hâm mộ Phật pháp, biết tu hành, ủng hộ chuà chiền (Thiên Long Bát Bộ). Hạng thần dữ thì ưa ăn thịt, uống máu, thích phá hại người (ác thần).
Ngã Kim Thí Nhữ Cúng:
Ta nay cúng thí cho các ngươi.
Ngay khi các vị Tỳ Kheo sắp sửa thọ thực mà chưa ăn nếm, bèn lấy chút món thanh tịnh, cúng thí cho họ được no đủ.
Thử Thực Biến Thập Phương:
Cơm này biến khắp mười phương.
Do thần lực nhứt tâm chú nguyện của chư Tỳ kheo và toàn thể Đại Chúng, nên bảy hạt cơm này biến ra đầy khắp mười phương, khiến cho chúng quỷ thần dù nhiều bao nhiêu cũng đều no đủ.
Mười phương là: ĐÔNG, TÂY, NAM, BẮC, ĐÔNG NAM, TÂY NAM, ĐÔNG BẮC, TÂY BẮC, THƯỢNG phương và HẠ phương.

* Trang 220 *
device

Nhứt Thiết Quỷ Thần Cộng:
Tất cả các loại quỷ thần cùng chung nhau hưởng thọ, cùng nhau xúc đến khí phần mà no đủ.
Đây là phương pháp do lòng từ bi bình đẳng của Đức Phật, dạy cho chư Tỳ Kheo, trước khi thọ thực, trên cúng dường chư Phật, chư Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng, kế đến cúng chư Thiên Long Bát Bộ, chư Hộ Pháp Thiện Thần. Dưới cúng đến Chúng Quỷ Thần và cuối cùng lưu lại vài hạt cơm (Lưu phạn) chung nhau lại để ban bố cho các loài sinh vật như kiến, chim, gián, chuột…no lòng.

Trong truyện Cảm Thông có viết:
Ngày xưa, ngài Nam Sơn đại sư đi hóa đạo hơn hai mươi năm, thường thọ cơm của cõi trời xuống cúng hằng ngày mà không cần nhận thực phẩm của nhân gian.
Một ngày nọ, Đại Sư Nam Sơn sau khi thọ cơm cõi trời, liền hỏi vị tiên nhơn rằng: “Bần đạo có phước đức gì mà phải nhọc đến tôn Thiên hằng ngày dâng

* Trang 221 *
device

cúng?”. Vị Trời đáp rằng: “Khi xưa, lúc sư từng làm Sa Di, mỗi khi bưng cơm đi xuất sanh, cúng thí chúng hữu tình, chúng tôi đều nhờ vị pháp thực, mà thoát khỏi chốn hồng trần khốn khổ và cảm được

* Trang 222 *
device

Thân cõi trời. Chúng tôi luôn cảm ơn pháp nhũ của Đại Sư tế độ. Nay tôi đến đền đáp ơn sâu vậy”.
Chuyện này cho thấy, phàm khi làm tất cả hạnh gì hữu ích, đều nên hồi hướng cho tất cả chúng sanh trong khắp pháp giới, đều đạt Đạo giác ngộ.

* Trang 223 *
device

 
Tỳ Ni Nhật Dụng Yếu Giải