LOGO VNBET
1.       Phiên âm:
                VĂN CHUNG
               Văn chung thinh, phiền não khinh
              Trí huệ trưởng, Bồ Đề sanh
              Ly địạ ngục, xuất hỏa khanh
              Nguyện thành Phật, độ chúng sanh
ÁN, DÀ RA ĐẾ DA SA HA (3 lần)
2.       Dịch nghĩa:
           NGHE CHUÔNG
           Nghe tiếng chuông, phiền não nhẹ
          Trí huệ lớn, Bồ Đề sanh
         Thoát địa nguc, vượt hầm lửa
         Nguyện thành Phật, độ chúng sanh
        ÁN, DÀ RA ĐẾ DA SA HA (3 lần)

* Trang 29 *
device

3.     Yếu giải:
Văn:
    Là nghe, khi nhĩ căn phát thức gọi là nghe. Tánh nghe thường hằng không bao giờ mất, nghe có tiếng và nghe không có tiếng. Như khi đức Phật giảng cho       ngài A Nan về nhĩ căn viên thông trong Kinh Lăng Nghiêm.
Phiền Não:
   Là những chướng duyên từ 6 căn tiếp xúc với 6 trần khởi lên bóng dáng, làm chao động cõi lòng, gọi là phiền não. Phiền não đại khái có 2 loại. Căn bản            phiền não có 6 thứ và tùy phiền não có 20 thứ (theo Duy Thức Học).
Khinh:
  Là nhẹ khác với trọng là nặng
Trí Huệ :
  Là sự hiểu biết sáng suốt đúng chân lý, thấu soi được thể tánh của sự vật là không, chúng chỉ do duyên hợp giả có

* Trang 30 *
device

        như huyễn như hóa, không bền chắc. Xét được lý gọi là trí, nhìn rõ bản chất của sự vật gọi là huệ. Trí huệ có 2 thứ:
        a)     Căn bản trí: Phật tánh sẵn có
        b)    Hậu đắc trí: Do tu tập mà phát sanh chân lý, tỉnh giác, trở về an trú Tánh giác, phát sanh trí huệ.
Ly:
       Xa lìa, giải ra, thoát ra, hết vô minh. Ly tức là chuyển tâm mê mờ khổ đau, u tối thanh ra tâm rổng rang sáng suốt.
Địa ngục:
      Là chỗ trừng trị, hành phạt những kẻ phạm tội, là trạng thái bức bách khổ não của tâm linh. Địa nguc tiếng Phạn gọi là ‘NÊ LÊ, Tàu dịch là KHỔ CỤ hay           KHỔ KHÍ, cũng gọi là BẤT KHẢ ÁI LẠC (không thể ưa vui), cũng gọi là VÔ HỮU (không có lợi), cũng gọi là NẠI LẠC CA tức là chỗ không được tự             tại, thường bị câu chế bức bách không ngừng. Cũng gọi là BẤT KHẢ CỨU TẾ nghĩa là không 

* Trang 31 *
device

      thể cứu ra dễ dàng. Cũng gọi là ÂM MINH tức là chỗ tối tăm không có ánh sáng, không nghe được chánh pháp. Địa ngục có đủ lọai, lớn có, nhỏ có, tùy             theo nghiệp cảm của chúng sanh mà hiện ra.
Hoả Khanh:
      Là hầm lửa, là tên riêng của những địa ngục nóng, cũng như trạng thái bức bách, sầu não, ray rức trong tâm con người khiến cho họ xao xuyên, bồn chồn          ngồi đứng không yên, ăn không vô, ngủ không được, sống mà cũng như chết.
Nguyện Thành Phật:
    Tức là chuyển 3 nghiệp (thân, miệng, ý) thành 3 đức pháp thân, giải thoát tròn vẹn, có thể tột đến lớp vị lai để độ chúng sanh. Từ xưa đến nay, chưa có người     nào không phát nguyện trước mà độ được chúng sanh (nhứt thiết do tâm đạo). Song, theo lịch sử, ta cũng chưa thấy vị Phật nào sau khi thành Phật mà không    chúng sanh cả.

* Trang 32 *
device

4.      Nguyên do:
              Trong Phật Pháp, việc làm nào cũng mang một ý nghĩa, cũng có một cái lý thâm diệu của nó, cho nên phàm hễ nghe tiếng chuông, phải thầm niệm bài                 Kệ chú. Nên biết rằng, tâm và nguyện đều từ chỗ nghe tiếng chuông mà phát khởi, trong tích tắc, bất chợt trở về tự tánh thanh tịnh, thì vô biên phiền                  não đều dứt sạch, địa ngục vô gián từ đó mà phá, vô lượng trí tuệ từ đó mà sanh, Phật Đạo vô thượng từ đó mà viên thành.
             Mỗi khi nghe tiếng chuông chuà thanh thản ngân nga, liền khởi tâm thầm niệm Kệ chú, thì lợi ích không thể nghĩ bàn. Thầm niệm ở đây là tiếng ở                     trong tâm, tiếng trong tâm là tiếng không vang ra tiếng, chỉ tự mình nghe mà người khác không nghe được, cho nên trong KINH LĂNG NGHIÊM Đức               Phật đã dạy:
          “Trở nghe nghe tự tánh
           Sao chẳng tự nghe nghe’

* Trang 33 *
device

     Nghĩa là sự phát thức cuả nhĩ căn cần phải trụ vào tự tánh, không cho chạy theo thinh trần (phân tích, so sánh, tưởng hình, nội dung câu nói...) thì sự đạt ĐẠO không khó. Trong Kinh Tạp Thí Dụ có dạy: ‘Khi nghe tiếng chuông, đang nằm, liền phải ngồi dậy, thầm niệm bài kệ chú, phát khởi thiền tâm thì Hiền Thánh thảy đều vui mừng’, cho nên sách có câu:
    “Văn chung ngọa bất khởi
      Hộ Pháp thiện thần sân
      Hiện tiền giảm phước huệ
      Lai báo thọ xà thân”

     (Nghe chuông nằm không dậy
     Hộ Pháp Thiện thần giận
     Đời nay giảm phước huệ
     Đời sau làm loài rắn)
DẪN CHỨNG CÁC MẪU CHUYỆN:
   1)     Chuyện cá nghe tiếng chuông được giải thoát:
    Trong truyện PHÚ PHÁP TẠNG nói: Thuở xưa, ông Kế Nị Tra ưa giết hại sinh

* Trang 34 *
device

      vật, khi chết, ông ta bị đọa làm một con cá lớn với 100 cái đầu, bao quanh con cá 100 đầu này, có một vòng gươm bay lượn và chặt đầu của cá, hễ một chiếc đầu rơi xuống thì liền mọc một chiếc đầu khác. Đầu cá rơi đầy biển cả, khiến cho con cá vô cùng đau đớn quằn quại, máu chảy nhuộm đỏ một vùng biển.
    Trên một hòn đảo gần biển, có một ngôi chùa do một vị A La Hán an trú, hai thời sáng chiều đóng chuông, tiếng chuông trầm lặng ngân nga bay khắp mười phương, mang theo lời kệ chú nguyện. Và khi con cá nghe được tiếng chuông, thì vòng gươm liền bay lên hư không, cho nên lúc ấy, con cá không bị chặt đầu.
    Một hôm, có chiếc thuyền đánh cá chạy ngang, con cá liền trồi lên mặt nước, nó nhờ ngư phủ vào chùa, yêu cầu vị La Hán nên đóng chuông liên tục, để cứu nổi khổ cho cá, và sau bảy ngày nghe tiếng chuông, cùng cảm được tâm nguyện của vị A La Hán gởi theo bài kệ chú, con cá

* Trang 35 *
device

       liền xả bỏ thân súc loại, vãng sanh về thế giới An Lạc.
      2)  Chuyện địa ngục nghe chuông được giải thoát:
     Thuở xưa, vua Hiến Cao Hoàng Đế, đời nhà Nam Đường bên Trung Quốc, vì nghe lời sàm tấu của TỐNG TỀ KHƯU, giết lầm bậc trung thần tên là HÒA CHÂU và rất nhiều người khác. Sau khi chết vua bị đọa vào đại địa ngục rất khổ sở.
     Một hôm, có người chết lầm xuống địa ngục, nhìn thấy một tội nhân mang đầy xiềng xích bị hành hình liên tục, kêu la thảm thiết. Thỉnh thoảng có tiếng  chuông vang vào thì tội nhân mới được ngừng tra khảo. Hồn vua Hiến Cao biết có người trở về nhân gian vì bị bắt lầm, nên rất mừng và nhắn rằng: ‘Ta là Hiến Cao Hoàng Đế đang bị tội khổ địa ngục, nhờ ngươi trở về nói với Hậu Chúa, vì ta mà đúc một quả ĐẠI HỒNG CHUNG cúng vào chuà và yêu cầu nhà chuà đóng chuông cho tiếng ngân dài, bởi vì ta đang thọ khổ, chỉ khi

* Trang 36 *
device

       nào nghe được tiếng chuông thì sự hành hình mới tạm dừng. Ta ngày trước có giấu một tượng Thiên Vương bằng ngọc ở đầu gối phía tả của tượng Phật ở chùa Ngỏa Quan mà không ai biết. Ngươi hãy nói ra làm bằng chứng’.
       Đến khi người chết lầm tỉnh dậy, bèn vào cung vua, tâu với Hậu Chúa mọi việc. Hậu Chúa tìm tượng Thiên Vương, quả y như lời.
      Hậu Chúa cảm động khóc ròng, rồi truyền lệnh đúc một quả Đại Hồng Chung đem cúng vảo chùa Thanh Lương, bạch sư xin đánh chuông sáng chiều, cầu siêu cho vua cha, còn tượng Thiên Vương thì xây tháp phụng thờ ở núi Tán Trưởng.
PHỤ CHÚ DANH TỪ:
1.      Căn Bản Trí: Cũng gọi là:
•        Chánh trí
•        Chơn trí
•        Như Lai trí
•        Vô phân biệt trí

* Trang 37 *
device

`•      Phật tánh
 •      Tánh giác
 •      Tri kiến Phật
 Tức là trí vô sai biệt, là cái tánh giác sẵn có không nhiễm ô, cuả tất cả chúng sanh.
2.      Hậu Đắc Trí:
Là trí huệ đạt được khi hành giả tu tập, phát khởi tâm lành, cứu độ chúng sanh.Cũng gọi là Tục Trí, là Quyền Trí. Như khi Đức Phật khởi lòng đại từ bi, tùy duyên, tùy thuận cứu độ chúng sanh, Ngài thường tận dụng trí này.
3.    Ba Đức Pháp Thân:
Tức là trạng thái giác ngộ, giải thoát cuả Bồ Đề Niết Bàn.
•     Pháp Thân Đức: Là bản thể Pháp tánh thường trụ sau khi tu hành chứng đạt.
•    Bát Nhã Đức: Tức là trí huệ vô lậu, là pháp tướng chân thật giác ngộ trọn vẹn.
•    Giải Thoát Đức: Là đức xa lìa, là khả năng xa lìa mọi trái buột, hoàn toàn không bao giờ bị vướng mắc.

* Trang 38 *
device

4.    Tên những địa ngục:
  • Địa Ngục Tứ Giác: Là địa ngục luôn có 4 chướng duyên như tình cảm, sắc đẹp, ăn uống và dâm lọan vây quanh, làm xao xuyến, bức bách tâm con ngưởi.
  •   Địa Ngục Giáp Sơn: Tội nhân cảm như bị dồn ép và bị gươm đâm ra từ các vách.
  •    Địa Ngục Thiết Xa: Tội nhân cảm như bị xe bằng sắt chà cán tan nát.
  •    Địa Ngục Thiết Sàng: Tội nhân cảm như đang nằm trên giường sắt nóng và lạnh.
  •    Địa Ngục Thiết Vi: Tội nhân cảm như áo sắt bó, cứng đờ, nóng, lạnh, gãy xương.
  •     Địa Ngục Thiết Ngưu: Tội nhân cảm như bị trâu bằng sắt đập lên mình đau rát.
  •    Địa Ngục Đạm Nhãn: Tội nhân cảm như bị ai dùng móng nhọn móc 2 mắt rất là đau nhức, đen tối.
  •    Địa Ngục Thiết Hoàn: Tội nhân cảm như miệng và cổ họng đang nuốt một

* Trang 39 *
device

 viên sắt nóng, vừa nghẹt cổ vừa nóng cháy cổ họng.
•    Địa Ngục Bạt Thiệt: Tội nhân cảm nghe đờ lưỡi, cứng miệng và phát sanh ra lòng sân hận lẫy lừng do quả báo của tội vọng ngôn, ỷ ngữ, lưỡng thiệt, ác khẩu, khi còn sống.
•    Địa Ngục Phẩn Niếu: Phẩn là phân, niếu là nước tiểu. Vì tâm chứa đầy những tư tưởng dớ xấu hại người nên phải đọa vào địa ngục dơ bẩn hôi thúi và phải ăn cứt đái mỗi khi đói khát.
•    Địa Ngục Đồng Toả: Tội nhân cảm nghe tâm trí luôn bị lẩn quẩn, rộn ràng, xao xuyến cực độ, như có cái gì bám sát, ám ảnh, khó buông xả được.
•    Địa Ngục Đa Sân: Tội nhân cảm như bực tức, hung hăng lẫy lừng, hận thù cao độ.
•    Địa Ngục Dương Đông: Tội nhân ở đây phải uống nước cuả chất đồng nóng nấu tan.
•    Địa Ngục Bảo trụ: Tội nhân bị ôm trói vào cột đồng đang cháy đỏ nóng bên

* Trang 40 *
device

 trong, nên da thịt cháy khét, nứt nẻ mà không thể chết được.
    Địa Ngục Lưu Hỏa: Tội nhân cảm nghe từng bựng lửa tỏa ra, phun vào mình, cháy đen đầu tóc mặt mày.
•    Địa Ngục Canh Thiệt: Tội nhân ở đây bị trâu cày lên lưỡi và bị ngưu đầu kéo dài lưỡi ra căn nọc cho trâu cày lên lưỡi.
•    Địa Ngục Tỏa Th: Tội nhân bị chặt đầu, xong mọc đầu khác và cứ thế bị chặt nữa. Tội nhân cảm như đau đớn mê man khi đầu lìa khỏi cổ.
•    Địa Ngục Thiêu Cước: Tội nhân ở đây bị đốt 2 chân vô cùng đau đớn.
•    Địa Ngục Khiếu Oán: Tội nhân cảm nhiều cảnh quá lo sự. Run rẩy, khủng hoảng, la khóc, kêu cứu suốt ngày.
•    Địa Ngục Hỏa Tưng: Tội nhân ở đây bị xiềng giữa sân, nằm ngửa cho voi lửa chà đạp tan nát, máu chảy thịt tan. Hình bằng cách cho chó lửa gặm cắn,           vừa đau vừa nóng.

* Trang 41 *
device

•    Địa Ngục Hỏa Sơn: Tội nhân bị đè dưới núi lửa cháy đỏ, tan nát da thịt.
•    Địa Ngục Hỏa Thch: Tội nhân bị tra tấn bằng đá nướng đỏ áp vào da.
•    Địa Ngục Hỏa Sàng: Tội nhân bị nằm trên giường cháy đỏ, phỏng hết da thịt.
•    Địa Ngục Hỏa Lương: Tội nhân bị ngồi trong sườn nhà bằng lửa cháy đỏ trên đầu.
•    Địa Ngục Hỏa Ưng: Tội nhân bị chim ưng bằng lửa mổ mắt.
•    Địa Ngục Cứ Nha: Tội nhân bị cưa răng, đau nhức, khổ đến bức bách.
•    Địa Ngục Bạt Bì: Tội nhân bị hành tội lột hết trên mình.
•    Địa Ngục Ẩm Huyết: Tội nhân suốt ngày bị uống máu dơ thay nước lã.
•    Địa Ngục Thiêu Thủ: Tội nhân bị đốt 2 cánh tay ra tro bụi.
•    Địa Ngục Đảm Thích: Tội nhân bị đâm ngược bằng mũi nhọn từ dưới lên trên.
•    Địa Ngục Hỏa Ốc: Tội nhân bị ngồi trong nhà lửa đang cháy đỏ.

* Trang 42 *
device

•    Địa Ngục Thiết Ốc: Tội nhân bị ngồi trong nhà bằng sắt lạnh nóng ngày đêm.
•    Địa Ngục Hỏa Lang: Tội nhân bị chó sói bằng sắt cắn chụp, dày vò cho đến chết, rất là đau đớn và sợ hãi.

* Trang 43 *
device

 
Tỳ Ni Nhật Dụng Yếu Giải