LOGO VNBET
1. Phiên âm:
 THỦ THỦY
Nhược kiến lưu thủy
Đương nguyện chúng sanh
 Đắc thiện ý dục
 Tẩy trừ hoặc cấu
Nam Mô Hoan Hỷ Trang Nghiêm
Vương Phật
Nam Mô Bửu Kế Như Lai
Nam Mô Vô Lượng Thắng Vương Phật
ÁN PHẠ TẤT BA RA MA NI TÁ HA (3 lần)
 

* Trang 343 *
device

2. Dịch nghĩa:
MÚC NƯỚC
Thấy dòng nước chảy
Nên nguyện chúng sanh
Được ý muốn lành
Rửa sạch bẩn dơ
Nam Mô Hoan Hỷ Trang Nghiêm
Vương Phật
Nam Mô Bửu Kế Như Lai
Nam Mô Vô Lượng Thắng Vương Phật
ÁN PHẠ TẤT BA RA MA NI TÁ HA (3 lần)
 
3.   Yếu giải:
Thủ:
Là múc, là xách, là lấy (nước).
Thủy:
Tiếng Phạn gọi là A ĐÀ, dịch là nước. Nước là yếu tố chính làm cho tươi nhuần vạn vật. Về mặt hình thức, nước thuộc một trong bốn đại, để cấu tạo nên muôn loài (Đất, Nước, Gió, Lửa). Về mặt thể khí thì nước ở dưới dạng hơi, vô hình, bao

* Trang 344 *
device

trùm trong vũ trụ và hiện hữu trong NGŨ HÀNH (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ)
Thủ Thủy:
Là múc nước, lấy nước.
Đức Phật từ bi, tôn trọng mạng sống của muôn loài chúng sanh, Ngài dạy chư tỳ kheo, trước khi lấy nước từ ao, hồ, giếng, sông, lạch... phải xem kỹ trong nước đó có trùng hay không (lăng quăng, tôm, cá, cua...). Nếu thấy có lăng quăng, phải dùng cái đảy lọc nước trước khi múc.
Đức Phật chế ra cái đảy lọc nước  như cái vợt tròn, hoặc vuông, phía dưới may bằng vải mịn, êm. Sau khi lược nước xong, phải liền đem thả con trùng lại trong nước cho nó sống, không được hất đổ ngoài đất, e rằng chúng sẽ bị chết. Nếu thấy trùng trong nước rất nhỏ và nhiều, dày đặc, không  được ở trong nước đó rửa tay, rửa mặt và đại tiểu tiện trong chỗ đó.
Cái đảy lược nước là vật dùng để độ sanh, là dụng cụ từ bi, là duyên làm lành, là khí cụ cứu vật của người tu hành.

* Trang 345 *
device

Mỗi vị tu sĩ mỗi khi vào Đạo, lãnh thọ giới pháp, bên mình có đủ 4 món căn bản:
•    Ba y (Tỳ Kheo)
•    Bình bát
•    Tọa cụ
•    Đảy lược nước
Riêng giới Sa Di mới tập tu, khi lãnh thọ giới pháp, cũng có 2 món căn bản:
. Một chiếc y mạn (y không có lằn ruộng)
•    Một đảy lược nước
Trong Kinh Hoa Nghiêm, Đức Phật nói rằng: Do nghiệp lực cuả chúng sanh sai khác, nên cái nhìn thấy nước ccủa mọi lòai cũng không đồng nhau.
•   Như A Tu La khi thấy nước mưa rơi, giống như đao kiếm đầy bầu trời.
•    Loại Ngạ Quỷ nhìn nước như thấy máu
•    Loài Cá Rồng nhìn nước như cung điện
•    Loài Trời nhìn nước như ngọc Ma Ni
•    Loài người nhìn nước thấy trong mát
•   Người bị chìm, thấy nước như là hang chết.
Luật Tăng Kỳ nói rằng:

* Trang 346 *
device

Khi xem xét dòng nước để múc, muốn nhìn xem trong nước có trùng hay không, thì nên để người sáng mắt nhìn.
•    Không cho người mắt kém xem nước.
•    Người nào có thể nhìn rõ những lằn chỉ trong lòng bàn tay mới cho xem trước
•   Không nên dùng Thiên Nhãn xem nước (vì Chư Thiên nhìn nước không thấy nước mà thấy ngọc Ma Ni)
•   Thời gian xem xét nước cỡ chừng như khi con voi lớn xoay đầu một lần. Có nghĩa là không nên xem lật đật mà không thấy được côn trùng ẩn trong đó.
Nhược Kiến Lưu Thủy:
Khi thấy dòng nước chảy.
Khi nhãn căn phát ra cái biết gọi là “thấy”. Đầu nguồn di động đi xuống gọi là “chảy”. Nước không chỉ có một dạng lỏng, hiện hữu nơi sông, biển, suối, ao, hồ làm chỗ ở cho các loài thủy tộc, làm tươi nhuần cho cây cỏ, làm sự sống cho loài người, loài thú… mà nước rất đa dạng:

* Trang 347 *
device

•   Nước ở thể đặc như nước đóng băng, nước đá...
•   Nước ở thể hơi như khi bị đun sôi, bốc lên…
•   Nước ở thể khí thì vô hình (nguyên thể) hiện hữu khắp vũ trụ bao la không gian…
•   Nước ở dạng động thì chao đảo, như sóng cồn.
Dù ở dưới dạng nào đi nữa, Tánh của nó vẫn là ướt. Ướt là cái thể chung của nước dù cho ở dạng nào, vì vậy, người có Đạo nhãn, thấy được TÁNH TƯỚNG của nước không hại, thấy chỗ động tịnh vẫn một nguồn, tùy theo duyên mà có nhiều hình dạng, hết duyên thì trở về nguyên thể của nó (vô hình). Thấy được nguồn thể không sanh, không diệt, không dơ, không sạch, không thêm, không bớt của nước, thì lóng nó không trong, khuấy nó không đục.
Người rõ được nguồn pháp, thì ở cõi trần chẳng nhiễm ô, phiền não chẳng dấy khởi, tâm thường an trú trong chỗ Niết

* Trang 348 *
device

Bàn tịch tịnh. Người tu hành thể nhập Đạo Lý, nếu chỗ thấy không thấu thì không làm sao rửa sạch chỗ mê lầm cố chấp cho chúng sanh, không làm sao mà viên thành lời “Nên Nguyện”, thệ độ tất cả chúng sanh được.
Đắc Thiện Ý Dục:
Là được cái ý muốn lành.
Đắc:
Là được như chỗ nguyện.
Thiện Ý:
Là ý lành, là chỗ mong cầu điều tốt lành.
Dục:
Là mong muốn, là ưa muốn. Tức là do tâm từ mà muốn. Chẳng phải cái muốn về Tình Dục mà là cái muốn trên cầu trên cầu Chánh Pháp dưới cứu độ chúng sanh. “Được ý muốn lành”: Là cái muốn thuần thiện, là hướng tới tốt đẹp lợi mình lợi người, từ thấp đến cao, từ phàm lên thánh, từ mê lầm lên tuệ giác, từ ràng buộc lên giải thoát…

* Trang 349 *
device

Tẩy Trừ Hoặc Cấu:
Là rửa sạch bẩn dơ.
Bẩn nhơ ở đây chính là tên khác của phiền não, có nghĩa là những bóng dáng pháp trần hiện ra trong tâm.
Khi trong tâm đầy những phiền não, chỉ có TÁNH GIÁC hiển lộ mới có thể làm tan sạch hết những bóng dáng vẫn đục đang ấm đầy ngập trong đó.

* Trang 350 *
device

 
Tỳ Ni Nhật Dụng Yếu Giải